Thứ hai 27/07/2026 04:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về phân loại hợp đồng và hợp đồng cộng đồng

Tóm tắt: Từ việc nghiên cứu khái quát về hợp đồng, cách phân loại hợp đồng, bài viết này làm rõ thêm các vấn đề lý luận về hợp đồng cộng đồng, các đặc trưng cơ bản và cách phân loại hợp đồng cộng đồng.

Tóm tắt: Từ việc nghiên cứu khái quát về hợp đồng, cách phân loại hợp đồng, bài viết này làm rõ thêm các vấn đề lý luận về hợp đồng cộng đồng, các đặc trưng cơ bản và cách phân loại hợp đồng cộng đồng.

Abstract: Based on the general study on contract, method of contract classification, the paper clearly points out theoretical issues on community contract, basic characteristics and method of classifying community contracts.

1. Khái lược về hợp đồng và phân loại hợp đồng

Hợp đồng được nhận thức chung là sự thống nhất ý chí hay sự thỏa thuận mà theo đó làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một quan hệ pháp luật nghĩa vụ[1]. Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Ngọc Khánh dường như phân tích từ lý luận chung về nhà nước và pháp luật của truyền thống Sovietique Law cho rằng, hợp đồng là một phạm trù đa nghĩa xuất phát từ việc xem nó là căn cứ, là “sự kiện pháp lý - giao dịch dân sự” nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ, hay xuất phát từ việc xem nó chính là quan hệ pháp luật (nghĩa vụ hợp đồng) phát sinh từ “sự kiện pháp lý - giao dịch dân sự” đó hoặc xem nó là hình thức ghi nhận quyền và nghĩa vụ các bên dưới dạng văn bản[2]. Đây là quan niệm không mạch lạc về hợp đồng. Theo tác giả Ngô Huy Cương, truyền thống Civil Law và truyền thống Sovietique Law có khái niệm về luật nghĩa vụ, trong khi đó Common Law không có khái niệm về luật nghĩa vụ nhưng các luật gia Common Law cũng cho rằng, luật nghĩa vụ bao gồm luật hợp đồng (law of contract), luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (law of tort) và luật bồi hoàn (law of restitution). Tác giả này nhận định các học giả Common Law không nghiên cứu chung về nghĩa vụ như các học giả ở truyền thống Civil Law và truyền thống Sovietique Law mà nghiên cứu từng nguồn gốc của nghĩa vụ cụ thể[3]. Vì vậy, hợp đồng đã giao kết làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ nghĩa vụ hoặc quan hệ khác; còn quá trình giao kết hợp đồng chính là quá trình tạo lập ra một hành vi pháp lý hay một sự kiện pháp lý. Cho nên việc đồng nghĩa các quan hệ này với nhau là thiếu chính xác.

Tổng kết các nghiên cứu về hợp đồng và các quy định của luật thực định về hợp đồng, học giả Pháp Corinne Renault-Brahinsky có tóm tắt trong cuốn “Đại cương về pháp luật hợp đồng”[4]: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên làm phát sinh một hệ quả pháp lý đặc biệt: Hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ”[5]. Nhận định này có thể được xem là phản ánh nhận thức chung của các học giả ở các truyền thống Civil Law và Sovietique Law. Ở Anh, các luật gia cũng có quan niệm về hợp đồng không khác biệt với các luật gia ở các nước theo truyền thống Civil Law và Sovietique Law. Trong cuốn “Business Law” của Abdul Kadar, Ken Hoyle và Geoffrey Whitehead xuất bản bởi Heinemann tại London năm 1985 có nhận định mang tính tổng kết: “Toàn bộ nền tảng của luật hợp đồng là sự thỏa thuận. Cụ thể, một hợp đồng là một sự thỏa thuận đem lại cho nó những nghĩa vụ mà bị cưỡng bức thi hành bởi các tòa án”[6]. Sir William R. Anson (một học giả nổi tiếng của Anh về luật hợp đồng) viết trong cuốn “Principles of the English Law of Contract and of Agency in its Relation to Contract” xuất bản bởi Oxford University Press năm 1964 tại Anh cho rằng: “Chúng ta có thể tạm thời định nghĩa luật hợp đồng là một ngành luật xác định các hoàn cảnh và điều kiện mà tại đó một lời hứa bị ràng buộc pháp lý đối với người đưa ra lời hứa đó”[7]. Như vậy, giống với các truyền thống pháp luật khác, Common Law cũng thừa nhận hợp đồng có bản chất là sự cam kết có hiệu lực pháp lý và dẫn tới luật hợp đồng có tính chất cấp hiệu lực cho các lời hứa đó và ngăn cản những lời hứa bất lợi cho xã hội. Về vấn đề này, tác giả Ngô Huy Cương khẳng định rằng luật hợp đồng khác với các ngành luật khác và bao gồm các đặc điểm như: (i) Luật hợp đồng mang tính chất luật tư điển hình; (ii) Luật hợp đồng là một luật hỗ trợ; và (iii) Luật hợp đồng là một luật không đầy đủ[8]. Vì vậy, luật hợp đồng dù của bất kỳ nước nào cũng bao gồm một số nguyên lý về các vấn đề như: Các nguyên tắc nền tảng của hợp đồng; phân loại hợp đồng; giao kết hợp đồng (đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, hợp đồng vô hiệu); hiệu lực của hợp đồng; vi phạm hợp đồng; chế tài đối với vi phạm hợp đồng; chấm dứt hợp đồng.

Tác giả Vũ Văn Mẫu nhấn mạnh các vấn đề liên quan tới nghĩa vụ có thể giải quyết như những bài toán, bằng cách suy luận thuần túy, trên căn bản những định lệ hợp lý mà ai cũng chấp nhận được[9]. Do đó, luật về hợp đồng của các nước không có mấy sự khác biệt về các nguyên lý từ giao kết hợp đồng cho tới chấm dứt hợp đồng. Nói cách khác, đa số các quan niệm về các vấn đề hợp đồng của các luật gia không có khác biệt lớn vì họ đều xuất phát từ nền tảng chung và suy luận hợp lý trên các nền tảng chung đó và kết quả này được thể trong luật hợp đồng của các nước.

Nguyên tắc hiệu lực tương đối của hợp đồng - một nguyên tắc liên quan trực tiếp tới nội dung nghiên cứu của bài viết này - được thừa nhận ở tất cả các hệ thống pháp luật và được phản ánh trong tất cả các văn bản pháp luật về hợp đồng và các công trình nghiên cứu của các học giả về hợp đồng. Tuy nhiên, ngày nay, người ta đã thừa nhận vấn đề hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba mà David M. Summers nói trong bài viết mang tên “Third Parties Beneficiaries and the Restatement (Second) of Contracts” đăng tải trên Tạp chí “Cornell Law Review” rằng: Theo truyền thống thì yêu cầu của nguyên tắc hiệu lực tương đối của hợp đồng (privity) ngăn cản người thứ ba thi hành hợp đồng mà trong hợp đồng đó người này không phải là một bên; nhưng ngày nay, Tòa án đã chấp nhận trong một vài trường hợp cho người thứ ba thi hành hợp đồng được lập ra vì lợi ích của họ[10]. Tác giả Ngô Huy Cương trong “Giáo trình luật hợp đồng phần chung (dùng cho đào tạo sau đại học)” cho rằng, hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba không phải là một loại hợp đồng mà là một ngoại lệ của hiệu lực tương đối của hợp đồng và chế định này có nhiều tên gọi như “hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba” hay “giao kết hợp đồng cho người thứ ba” hay “cấu ước cho tha nhân”[11]. Lợi ích của người thứ ba có thể rõ ràng hay ngầm hiểu và có thể bao gồm cả quyền loại trừ hay hạn chế trách nhiệm được quy định trong hợp đồng[12]. Trong các tác phẩm “Việt Nam Dân Luật luợc khảo, Quyển II - Nghĩa vụ và khế ước, Phần thứ nhất - Nguồn gốc của nghĩa vụ”, “Giáo trình luật hợp đồng phần chung (dùng cho đào tạo sau đại học)” và “Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam” đã dẫn của các tác giả Vũ Văn Mẫu, Ngô Huy Cương và Nguyễn Ngọc Khánh có những nội dung nghiên cứu về điều kiện của hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba.

Có thể nói, các nguyên lý chung của hợp đồng không có nhiều sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật. Có đôi chút khác biệt không lớn liên quan tới tự do hợp đồng và các giới hạn của nó; năng lực giao kết hợp đồng; đề nghị và chấp nhận giao kết hợp đồng; yêu cầu về hình thức của hợp đồng; giải thích hợp đồng; các tì ố của sự ưng thuận, đại diện; chuyển nhượng hợp đồng và hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba; thực hiện hợp đồng… đã được chỉ ra khá rõ ràng bởi Konrad Zweigert & Hein Koetz thông qua tác phẩm nổi tiếng về luật so sánh mang tên “An Introduction to Comparative Law” xuất bản năm 1998 bởi Clarendon Press – Oxford[13]. Tuy nhiên, sự khác biệt nhỏ này giữa các truyền thống pháp luật trên thế giới không ảnh hưởng gì tới nội dung nghiên cứu của bài viết.

Hợp đồng có thể được phân chia thành nhiều loại khác nhau với các căn cứ khác nhau. Tuy nhiên, hầu như không có công trình nghiên cứu riêng và chuyên sâu về phân loại chung của hợp đồng. Phần lớn các công trình nghiên cứu chung về hợp đồng đều đề cập tới phân loại chung về hợp đồng nhưng dựa trên các phân loại do các đạo luật về hợp đồng quy định. Trong cuốn “Việt Nam Dân Luật lược khảo, Quyển II - Nghĩa vụ và khế ước, Phần thứ nhất - Nguồn gốc của nghĩa vụ”, tác giả Vũ Văn Mẫu khẳng định có thể phân loại hợp đồng theo bốn tiêu chí là hình thức của hợp đồng, nội dung của sự giao kết hợp đồng, dung lượng của hợp đồng, giải thích hợp đồng và ông đã căn cứ vào đó phân chia hợp đồng thành các loại khác nhau, như: (i) Hợp đồng ưng thuận, Hợp đồng trọng hình thức, hợp đồng giao vật; (ii) Hợp đồng ưng thuận và hợp đồng gia nhập; hợp đồng cá nhân và hợp đồng cộng đồng; (iii) Hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ; hợp đồng vô thường và hợp đồng hữu thường; hợp đồng chắc chắn và hợp đồng may rủi; hợp đồng tức thì và hợp đồng kéo dài; (iv) Hợp đồng hữu danh và hợp đồng vô danh[14]. Việc phân loại hợp đồng như vậy đầy chất học thuật và khá đầy đủ, trừ việc phân loại căn cứ vào ngành luật, vào giá trị của hợp đồng, vào đối tượng, cũng như chủ thể của hợp đồng.

Các tác giả Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng trong cuốn “Luật dân sự Việt Nam”, đã chia hợp đồng thành rất nhiều loại khác nhau, bao gồm: Hợp đồng có đền bù và không đền bù; hợp đồng ưng thuận và hợp đồng thực tế; hợp đồng chính và hợp đồng phụ; hợp đồng đơn vụ và hợp đồng song vụ; hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế; hợp đồng viết và hợp đồng miệng; hợp đồng thông dụng và hợp đồng không thông dụng; hợp đồng xác định và hợp đồng chưa xác định; hợp đồng ấn định người thực hiện và không ấn định người thực hiện; hợp đồng có điều khoản theo mẫu và hợp đồng do hai bên cùng soạn; hợp đồng khung; hợp đồng có yếu tố nước ngoài; hợp đồng có điều kiện; hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba; hợp đồng phức tạp; hợp đồng hỗn hợp[15]. Đây là sự liệt kê khá đầy đủ các loại hợp đồng. Nhưng các tác giả Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng không nhắc tới các căn cứ để phân loại. Hơn nữa các tác giả này chỉ liệt kê mà không nói tới những đặc điểm và lợi ích của từng phân loại.

Tác giả Ngô Huy Cương trong tác phẩm “Giáo trình luật hợp đồng phần chung (dùng cho đào tạo sau đại học)”, giới thiệu nhiều cách phân loại hợp đồng theo nhiều tiêu chí khác nhau, đồng thời tổng kết các cách phân loại hợp đồng và các phân loại hợp đồng cụ thể của pháp luật Việt Nam từ thời kỳ Pháp thuộc cho tới trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 được Quốc hội thông qua. Tác giả đã phân tích khá kỹ lưỡng các đặc điểm và ý nghĩa của một số phân loại hợp đồng như: Hợp đồng hữu danh và hợp đồng vô danh, hợp đồng hỗn hợp; hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ; hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đến bù; hợp đồng thương lượng và hợp đồng gia nhập; hợp đồng ưng thuận, hợp đồng thực tế và hợp đồng trọng hình thức; hợp đồng chắc chắn và hợp đồng may rủi; hợp đồng cá nhân và hợp đồng cộng đồng; hợp đồng chính và hợp đồng phụ; hợp đồng hành chính[16]. Các cách phân loại hợp đồng và các phân loại hợp đồng cụ thể được tác giả Ngô Huy Cương giới thiệu khá tỷ mỷ, nhất là các vấn đề lý luận liên quan đến căn cứ phân loại, các đặc điểm và ý nghĩa của từng phân loại.

Tác giả Henry N. Butler đã ghi nhận lại các phân loại hợp đồng theo truyền thống Common Law qua tác phẩm “Legal Environment of Business - Government Regulation and Public Policy Analysis” xuất bản năm 1987 bởi Nxb. South - Western Publishing Co. tại Hoa Kỳ, bao gồm: Hợp đồng đúng quy cách, hợp đồng mặc nhiên hay hợp đồng thực tế, hợp đồng có điều kiện và hợp đồng không có điều kiện, hợp đồng song phương và hợp đồng đơn phương, hợp đồng có giá trị, hợp đồng vô hiệu, hợp đồng có thể vô hiệu và hợp đồng không thể thi hành[17]. Phân loại hợp đồng theo Common Law thường xuất phát từ thực tiễn tư pháp. Do đó có thể có nhiều loại hợp đồng khác nhau. Tuy nhiên, các cách phân loại và các loại hợp đồng ở truyền thống Common Law rất gần gũi với truyền thống Civil Law.

2. Một số vấn đề về hợp đồng cộng đồng và việc phân loại

Phân loại hợp đồng thành hợp đồng cá nhân và hợp đồng cộng đồng đã được nhắc đến, song cho tới nay, chưa có một công trình nghiên cứu tổng quát về hợp đồng cộng đồng, mà chỉ có những công trình nghiên cứu về từng loại hợp đồng cộng đồng riêng lẻ. Khái niệm hợp đồng cộng đồng được tác giả Vũ Văn Mẫu định nghĩa là những hợp đồng có hiệu lực đối với một số rất đông người mặc dù họ không giao kết hợp đồng này. Theo đó, ông đã chỉ ra các đặc trưng của loại hợp đồng này và phân tích khái quát về vai trò và ý nghĩa của từng loại nhỏ của loại hợp đồng này đối với xã hội[18]. Tác giả Ngô Huy Cương cũng nhận thức về khái niệm hợp đồng cộng đồng như vậy, nhưng đã nói rõ thêm rằng, trong số đông người không tham gia giao kết hợp đồng, có thể có cả những người không nhất trí nhưng hợp đồng này vẫn có hiệu lực đối với họ và đã phân tích sâu hơn một số đặc điểm của loại hợp đồng này[19].

Hợp đồng cộng đồng còn được gọi là hợp đồng tập thể (collective contract). Tuy nhiên, tên gọi là hợp đồng tập thể khó phản ánh hết các loại hợp đồng cộng đồng mà nó chỉ có thể phản ánh những hợp đồng cộng đồng giữa một bên là một tập thể người với một bên khác có thể là một tập thể hoặc một cá nhân như thỏa ước lao động tập thể. Về mặt học thuật, khi phân loại hợp đồng, người ta thường nhắc đến cặp phân loại là hợp đồng cá nhân và hợp đồng cộng đồng. Cách phân loại này làm bật lên các đặc trưng quan trọng của hợp đồng cộng đồng về phương diện chủ thể giao kết, về sự biểu lộ ý chí, và nhất là về hiệu lực của hợp đồng. Vì vậy, để làm rõ hơn về hợp đồng cộng đồng, có lẽ không thể không nhắc tới hợp đồng cá nhân.

Hợp đồng cá nhân được hiểu là loại hợp đồng do các cá nhân hay pháp nhân đơn lẻ giao kết với nhau và chỉ có hiệu lực áp dụng giới hạn đối với các bên giao kết đó[20]. Trong khi đó, hợp đồng cộng đồng có hiệu lực đối với cả những người không tham gia giao kết, ngay cả đối với những người phản đối các điều kiện của hợp đồng. Vì vậy, hợp đồng cá nhân và hợp đồng cộng đồng rất khác nhau về phương diện hiệu lực. Hợp đồng cộng đồng đã đi ra ngoài khuôn khổ của nguyên tắc hiệu lực tương đối của hợp đồng. Có nhiều nhà phê bình cho rằng, hợp đồng cộng đồng không thể là một phần của lý thuyết chung về hợp đồng[21]. Vậy câu trả lời quan trọng cần phải khẳng định, xét từ lý thuyết chung của hợp đồng, “hợp đồng cộng đồng” bản chất là một loại hợp đồng với các lý do: (i) Nó được hình thành từ việc thống nhất ý chí của các bên mà nếu không có sự thống nhất đó thì nó không thể được hình thành; (ii) Nó làm phát sinh ra quyền và nghĩa vụ của các bên tiến hành giao kết mà nếu không có sự giao kết đó thì không có sự hình thành quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên; (iii) Pháp luật về hợp đồng luôn hỗ trợ cho việc giao kết, thực hiện hợp đồng, và giải thích cho quan hệ của các bên giao kết. Tuy nhiên, đây là một loại hợp đồng có nhiều ngoại lệ. Các ngoại lệ mà hợp đồng cộng đồng chứa đựng thực sự đòi hỏi pháp luật phải có quy định rõ ràng về loại hợp đồng này.

Để làm rõ hơn khái niệm hợp đồng cộng đồng, không thể không nói tới sự phân loại các hợp đồng cộng đồng bởi khó có thể đưa ra một định nghĩa chung về hợp đồng cộng đồng với các loại rất khác nhau. Tuy nhiên, có một giải nghĩa khái niệm này có thể tham khảo như sau: “Hợp đồng tập thể: Là loại hợp đồng được giao kết giữa một nhóm cá nhân hay tổ chức, có hiệu lực áp dụng đối với tất cả các thành viên trong nhóm, cho dù từng thành viên này không phải là bên giao kết trực tiếp hợp đồng, đôi khi còn có hiệu lực áp dụng đối với cả những người không phải là thành viên trong nhóm (ví dụ thỏa ước lao động tập thể)[22].

Từ các nghiên cứu trên, có thể rút ra nhận thức cơ bản về hợp đồng cộng đồng như sau: (i) Hợp đồng cộng đồng liên quan đến nhiều người trong một hoặc nhiều cộng đồng nhất định; (ii) Hợp đồng cộng đồng có hiệu lực đối với tất cả các thành viên trong một hoặc nhiều cộng đồng nhất định có liên quan, thậm chí có hiệu lực đối với cả những thành viên khác ngoài cộng đồng hoặc các cộng đồng đó; (iii) Yếu tố ý chí của các thành viên bị hợp đồng ràng buộc không phải là yếu tố cần thiết và được xem xét; (iv) Người trực tiếp giao kết nhân danh cộng đồng hoặc các cộng đồng.

Cần lưu ý, khái niệm cộng đồng hay tập thể trong loại hợp đồng này là điều không thể không chú ý. Như trên đã phân tích, cộng đồng hay tập thể được xem như chủ thể giao kết hợp đồng. Vậy loại chủ thể này có gì khác biệt với chủ thể trong các hợp đồng cá nhân thông thường? Trước hết, cộng đồng hay tập thể giao kết hợp đồng cộng đồng không phải là một pháp nhân hay không liên kết hay có ý định liên kết thành một pháp nhân. Đây chính là một đặc điểm quan trọng để phân biệt giữa hợp đồng cộng đồng với hợp đồng cá nhân được giao kết giữa các pháp nhân với nhau hoặc giữa pháp nhân với cá nhân. Những thành viên của cộng đồng hay tập thể này bao gồm các thực thể độc lập (các cá nhân hoặc pháp nhân riêng rẽ) nhưng ít nhất có một lợi ích chung (chẳng hạn như tập thể người lao động trong một doanh nghiệp bao gồm các cá nhân người lao động riêng rẽ nhưng có một lợi ích chung đối lập phần nào với sự đối xử của chủ sử dụng lao động về tiền công, tiền lương, thời gian làm và nghỉ ngơi hoặc điều kiện lao động…). Các cộng đồng hay tập thể này được chia thành hai loại: Loại thứ nhất là một tập hợp các thực thể đơn lẻ để giao kết hợp đồng thông qua người đại diện (như trường hợp thỏa ước lao động tập thể); Loại thứ hai là một tập hợp những thực thể đơn lẻ cùng nhau giao kết hợp đồng với nhau trong một cộng đồng nhất định (như trường hợp của nghị quyết đại hội đồng cổ đông công ty cổ phần và nghị quyết của hội nghị chủ nợ…). Tuy nhiên, ở đây có một điểm cần tranh luận. Đại hội đồng cổ đông của công ty cổ phần rõ ràng là một cộng đồng không có tư cách pháp nhân. Điều này ai cũng dễ dàng chấp nhận. Nhưng “hội nghị chủ nợ” trong luật phá sản liệu có phải là pháp nhân hay không, thì còn có hai quan điểm trái ngược nhau. Một quan điểm thì cho rằng, hội nghị chủ nợ không phải là một pháp nhân. Còn quan điểm khác thì cho rằng, hội nghị chủ nợ có tư cách pháp nhân. Ở bài viết này, hội nghị chủ nợ không phải là một pháp nhân. Tuy nhiên, để hiểu tương đối đầy đủ về hợp đồng cộng đồng thì không thể dừng lại ở sự tìm hiểu khái niệm hợp đồng cộng đồng và các đặc thù của nó một cách đơn thuần, mà phải đi sâu vào từng vấn đề pháp lý liên quan tới hợp đồng cộng đồng.

Ngày nay, hợp đồng cộng đồng có ý nghĩa kinh tế - xã hội rất lớn khiến cho người ta không thể bỏ qua nó. Chẳng hạn ở Việt Nam hiện nay mặc dù Bộ luật Dân sự năm 2015 không đề cập tới hợp đồng cộng đồng, nhưng các đạo luật như Bộ luật Lao động năm 2013, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Phá sản năm 2014 đều có các quy định chi tiết về hợp đồng cộng đồng. Thậm chí trong luật công ở Việt Nam hiện nay, người ta còn nhắc tới “hương ước” như một loại hợp đồng cộng đồng. Hợp đồng cộng đồng có thể được chia thành hai loại, căn cứ vào hướng biểu lộ ý chí: Thứ nhất, hợp đồng giao kết giữa một bên nhân danh một hoặc nhiều cộng đồng với một hoặc nhiều bên khác mà có thể là một cá nhân, một thực thể khác hay một cộng đồng; thứ hai, hợp đồng giao kết giữa những thực thể tách biệt trong cùng một cộng đồng. Loại thứ nhất thường thấy là thỏa ước lao động tập thể. Loại thứ hai thường thấy là nghị quyết của hội đồng, ví dụ như nghị quyết của đại hội đồng cổ đông công ty cổ phần và nghị quyết của hội nghị chủ nợ trong trường hợp thương nhân bị phá sản. Hương ước là một loại hợp đồng cộng đồng (thường được nghiên cứu trong luật công hay các môn như lý luận chung về nhà nước và pháp luật, lịch sử nhà nước và pháp luật, phong tục học…) và được xếp vào loại hợp đồng cộng đồng thứ hai nêu trên.

ThS. Nguyễn Thị Thanh Thảo

Cục Chiến lược Khoa học và Lịch sử Công an





[1]. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 12; Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân Luật luợc khảo, Quyển II - Nghĩa vụ và khế ước, Phần thứ nhất - Nguồn gốc của nghĩa vụ, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, tr. 56; Nguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật dân sự Việt Nam, Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, tr. 6; Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật dân sự Việt Nam, Nxb. Đại Học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr. 310; Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam, Nxb. Tư pháp, tr. 49.

[2]. Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam, Nxb. Tư pháp, tr. 49 - 50.

[3]. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 37.

[4]. Được dịch ra tiếng Việt và xuất bản tại Nxb. Văn hóa - Thông tin tại Hà Nội năm 2002.

[5]. Corinne Renault-Brahinsky (2002), Đại cương về pháp luật hợp đồng, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr. 4.

[6]. Abdul Kadar, Ken Hoyle, Geoffrey Whitehead (1985), Business Law, Heinemann, London, p. 83.

[7]. Sir William R. Anson (1964), Principles of the English Law of Contract and of Agency in its Relation to Contract, Oxford University Press, Great Britain, p. 3.

[8]. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 132 - 141.

[9]. Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân Luật luợc khảo, Quyển II - Nghĩa vụ và khế ước, Phần thứ nhất - Nguồn gốc của nghĩa vụ, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, tr. 16.

[10]. David M. Summers (1982), “Third Parties Beneficiaries and the Restatement (Second) of Contracts” (pp. 880 - 899), Cornell Law Review, Volume 67, Issue 4 April 1982, p. 880.

[11]. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 387 - 389.

[12]. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 389.

[13]. Konrad Zweigert & Hein Koetz, An Introduction to Comparative Law, Third Edition, Clarendon Press - Oxford, 1998, pp. 325 - 516.

[14]. Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân Luật luợc khảo, Quyển II - Nghĩa vụ và khế ước, Phần thứ nhất - Nguồn gốc của nghĩa vụ, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, tr. 61 - 82.

[15]. Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật dân sự Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2007, tr. 313 - 322.

[16]. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 182 - 218.

[17]. Henry N. Butler, Legal Environment of Business - Government Regulation and Public Policy Analysis, South- Western Publishing Co., Cincinnati, Ohio, USA, 1987, p. 206.

[18]. Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân Luật luợc khảo, Quyển II - Nghĩa vụ và khế ước, Phần thứ nhất - Nguồn gốc của nghĩa vụ, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, tr. 69 - 71.

[19]. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 214 - 217.

[20]. Corinne Renault - Brahinsky (2002), Đại cương về pháp luật hợp đồng, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr. 26.

[21]. John E. C. Brierley, Roderick A. Macdonald (1993), Quebec Civil Law - An Introduction to Quebec Private Law, Emond Montgomery Publications Limited, Toronto, Canada. tr. 398.

[22]. Corinne Renault - Brahinsky (2002), Đại cương về pháp luật hợp đồng, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr. 26.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: