Thứ ba 10/03/2026 01:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề xác định vụ việc trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng thành công

Thuật ngữ vụ việc trợ giúp pháp lý (TGPL) tham gia tố tụng thành công được sử dụng lần đầu tại một số công văn hành chính của Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp[1] và lần đầu tiên được quy định tại văn bản quy phạm là Thông tư số 03/2021/TT-BTP ngày 25/5/2021 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15/11/2017

1. Vụ việc trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng thành công
1.1. Khái niệm vụ việc trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng thành công
Thuật ngữ vụ việc trợ giúp pháp lý (TGPL) tham gia tố tụng thành công được sử dụng lần đầu tại một số công văn hành chính của Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp[1] và lần đầu tiên được quy định tại văn bản quy phạm là Thông tư số 03/2021/TT-BTP ngày 25/5/2021 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15/11/2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý, Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28/8/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý (Thông tư số 03/2021/TT-BTP), có hiệu lực kể từ ngày 15/7/2021. Tuy nhiên, văn bản này chưa quy định cụ thể thế nào là vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công.
Qua nghiên cứu và từ thực tiễn, có thể tóm lược vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, đáp ứng các đặc điểm của vụ việc TGPL thông thường:
(i) Về nội dung, vụ việc có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL. (ii) Về người được TGPL, người được TGPL phải thuộc một trong 14 diện người được TGPL theo quy định tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017. (iii) Về lĩnh vực, vụ việc thuộc các lĩnh vực pháp luật dân sự, hình sự, hành chính... nhưng không thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại. (iv) Về tổ chức thực hiện vụ việc TGPL, vụ việc do Trung tâm TGPL nhà nước, tổ chức tham gia TGPL (bao gồm tổ chức ký hợp đồng thực hiện TGPL và tổ chức đăng ký tham gia TGPL) thực hiện. (v) Về người thực hiện vụ việc TGPL, trợ giúp viên pháp lý, luật sư ký hợp đồng thực hiện TGPL với Trung tâm TGPL nhà nước, luật sư của tổ chức tham gia TGPL. (vi) Về quy trình thủ tục thực hiện vụ việc, được thụ lý và thực hiện bởi tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL theo đúng quy định của pháp luật TGPL. (vii) Hồ sơ vụ việc TGPL được lập và quản lý theo đúng quy định của pháp luật TGPL. (viii) Mục tiêu của vụ việc là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được TGPL, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật.
Thứ hai, vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công có đặc điểm riêng:
(i) Vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công phải là vụ việc TGPL được xác định là kết thúc. (ii) Đáp ứng nguyên tắc chung và các tiêu chí xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công. Các tiêu chí này đánh giá kết quả cuối cùng của vụ việc trên cơ sở nguyên tắc chung là quan điểm của người thực hiện TGPL được cơ quan có thẩm quyền tiến thành tố tụng chấp nhận một phần hoặc toàn bộ theo hướng có lợi cho người được TGPL trên cơ sở quy định của pháp luật. (iii) Được xác định, đánh giá bởi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác định vụ việc TGPL thành công, hiệu quả. (iv) Kết quả xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công được thể hiện bằng văn bản và lưu hồ sơ vụ việc TGPL.
Như vậy, có thể hiểu, vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công là những vụ việc tham gia tố tụng kết thúc được đánh giá bởi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo các tiêu chí cụ thể nhằm giúp các tổ chức thực hiện TGPL đánh giá được hiệu quả công tác TGPL của người thực hiện TGPL thuộc tổ chức mình thực hiện, góp phần giúp cho cơ quan quản lý nhà nước về TGPL kịp thời đề ra các giải pháp, cơ chế, chính sách để bảo đảm chất lượng vụ việc TGPL.
1.2. Ý nghĩa của việc xác định vụ việc trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng thành công
Một là, việc xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công nhằm có giải pháp bảo đảm và nâng cao chất lượng, hiệu quả vụ việc TGPL. Thực hiện khoản 9 Điều 2 Thông tư số 03/2021/TT-BTP, thông qua việc đánh giá hiệu quả của vụ việc TGPL có thành công hay không, người thực hiện TGPL, tổ chức thực hiện TGPL, Sở Tư pháp, Cục Trợ giúp pháp lý sẽ có các giải pháp để bảo đảm, nâng cao hiệu quả vụ việc trong phạm vi quản lý.
Hai là, việc đánh giá vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công nhằm vinh danh, khích lệ đội ngũ người thực hiện TGPL, tổ chức thực hiện TGPL thực hiện nhiều vụ việc TGPL thành công. Đồng thời, tạo cơ hội trao đổi nghiên cứu, tham khảo nhằm tích lũy, trao đổi thêm kinh nghiệm thực hiện các vụ việc TGPL trong tố tụng, qua đó góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ người thực hiện TGPL.
Ba, việc đánh giá vụ việc TGPL thành công trong tố tụng nhằm giúp cơ quan có thẩm quyền đánh giá rà soát năng lực, kỹ năng của người thực hiện TGPL, từ đó lên kế hoạch tăng cường đào tạo, tập huấn kỹ năng TGPL cho phù hợp.
Bốn là, qua vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công có thể lựa chọn những vụ việc thành công mang tính điển hình, nổi trội để thực hiện truyền thông về hiệu quả của hoạt động TGPL, qua đó nâng cao uy tín, vị trí, vai trò cho tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL trong thị trường dịch vụ pháp lý nói chung.
2. Các nguyên tắc và tiêu chí xác định vụ việc trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng thành công
Trong thời gian qua, để xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công, Cục TGPL đã ban hành các Công văn hướng dẫn (Công văn số 06/TGPL-TTTTDL ngày 06/8/2019, Công văn số 427/CTGPL-TC&QLCL ngày 16/10/2020, Công văn số 98/CTGPL-TC&QLCL ngày 16/3/2021). Qua thực hiện việc báo cáo vụ việc thành công, hiệu quả theo yêu cầu của Cục Trợ giúp pháp lý, các Trung tâm TGPL nhà nước đều thể hiện sự đồng tình, ủng hộ và phản ánh, đóng góp tích cực vào các tiêu chí này. Theo đó, tính từ ngày 01/01/2018 (thời điểm Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 có hiệu lực) đến ngày 31/12/2021, toàn quốc có 16.297 vụ việc thành công, hiệu quả, trong đó, số vụ việc tham gia tố tụng thành công, hiệu quả do trợ giúp viên pháp lý thực hiện là 13.664 vụ việc (chiếm 83,84%).
Nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng vụ việc TGPL, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 03/2021/TT-BTP. Thông tư này quy định về vấn đề đánh giá vụ việc TGPL thành công trong tố tụng và giao Bộ Tư pháp hướng dẫn về các tiêu chí xác định vụ việc TGPL thành công trong tố tụng. Triển khai nội dung này, Bộ Tư pháp đã nghiên cứu xây dựng và ban hành Tiêu chí xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công (Quyết định số 1179/QĐ-BTP ngày 16/5/2022) làm cơ sở để địa phương xác định vụ việc TGPL thành công trong tố tụng. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký.
Việc ban hành các tiêu chí nhằm giúp các tổ chức thực hiện TGPL có công cụ, cơ sở để xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công do tổ chức mình thực hiện; giúp Cục Trợ giúp pháp lý, Sở Tư pháp thực hiện quản lý và tổ chức đánh giá hiệu quả vụ việc TGPL tham gia tố tụng trong phạm vi quản lý. Qua đó, có giải pháp bảo đảm và nâng cao chất lượng, hiệu quả vụ việc TGPL, vinh danh, khích lệ người thực hiện TGPL, tổ chức thực hiện TGPL có nhiều vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công. Đồng thời, với việc đưa ra các tiêu chí để xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công cũng góp phần giúp xã hội, cơ quan, tổ chức và người dân nhìn nhận rõ hơn về tác dụng của hoạt động TGPL trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL.
Quyết định đưa ra nguyên tắc chung và 30 tiêu chí xác định vụ việc TGPL thành công trong hình sự, dân sự và hành chính, cụ thể:
2.1. Nguyên tắc chung xác định vụ việc trợ giúp pháp lý thành công
Quyết định đưa ra các nguyên tắc chung khi xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công như sau: (i) Vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công phải là vụ việc TGPL kết thúc. (ii) Thực hiện TGPL trong vụ việc mà quan điểm của người thực hiện TGPL khác với quan điểm của một trong các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và được chấp nhận một phần hoặc toàn bộ theo hướng có lợi cho người được TGPL trên cơ sở quy định pháp luật.
2.2. Các tiêu chí xác định vụ việc trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng thành công
- Trong lĩnh vực hình sự: Các tiêu chí xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công trong lĩnh vực hình sự gồm 19 tiêu chí, được phân loại theo tư cách của người được TGPL khi tham gia tố tụng hình sự và các giai đoạn tố tụng như sau: (i) Thực hiện TGPL cho người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố hoặc bào chữa cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ (01 tiêu chí). (ii) Thực hiện TGPL cho bị can, bị cáo (07 tiêu chí). (iii) Thực hiện TGPL cho bị hại (07 tiêu chí). (iv) Thực hiện trợ giúp pháp lý cho nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự (01 tiêu chí). (v) Thực hiện trợ giúp pháp lý cho bị đơn dân sự trong vụ án hình sự (01 tiêu chí). (vi) Thực hiện TGPL cho người có quyền và nghĩa vụ liên quan (01 tiêu chí). (vii) Thực hiện trợ giúp pháp lý theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm (01 tiêu chí).
- Trong lĩnh vực dân sự: Các tiêu chí xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công trong lĩnh vực dân sự gồm 07 tiêu chí, được phân loại theo tư cách của người được TGPL trong khi tham gia tố tụng dân sự và các giai đoạn tố tụng như sau: (i) Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, giúp người được TGPL được bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp khi hòa giải (01 tiêu chí). (ii) Vụ việc được Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo đề nghị của người thực hiện TGPL mà có lợi cho người được TGPL (01 tiêu chí). (iii) Thực hiện trợ giúp pháp lý cho nguyên đơn (01 tiêu chí). (iv) Thực hiện trợ giúp pháp lý cho bị đơn (01 tiêu chí). (v) Thực hiện trợ giúp pháp lý cho người yêu cầu việc dân sự (01 tiêu chí). (vi) Thực hiện trợ giúp pháp lý cho người có quyền và nghĩa vụ liên quan (01 tiêu chí). (vii) Thực hiện trợ giúp pháp lý theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm (01 tiêu chí).
- Trong lĩnh vực hành chính: Các tiêu chí xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công trong lĩnh vực hành chính gồm 04 tiêu chí, được phân loại theo tư cách của người được TGPL trong khi tham gia tố tụng hành chính và các giai đoạn tố tụng như sau: (i) Trước khi mở phiên tòa, giúp người được TGPL được bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp khi đối thoại thành và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án (01 tiêu chí). (ii) Thực hiện trợ giúp pháp lý cho người khởi kiện (01 tiêu chí). (iii) Thực hiện trợ giúp pháp lý cho người có quyền và nghĩa vụ liên quan (01 tiêu chí). (iv) Thực hiện trợ giúp pháp lý theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm (01 tiêu chí).
3. Chủ thể, phạm vi, đối tượng thực hiện xác định vụ việc trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng thành công
3.1. Chủ thể thực hiện xác định vụ việc trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng thành công
- Tổ chức thực hiện việc xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công bao gồm: Theo quy định tại Thông tư số 03/2021/TT-BTP thì cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công bao gồm: (i) Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp; (ii) Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; (iii) Tổ chức thực hiện TGPL (Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tổ chức tham gia TGPL bao gồm tổ chức ký hợp đồng thực hiện TGPL và tổ chức đăng ký tham gia TGPL).
- Người thực hiện việc xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công: Hiện nay, không có quy định về người thực hiện việc xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công. Tuy nhiên, người thực hiện TGPL trong các vụ việc tố tụng hiện nay được quy định tại Luật TGPL và các bộ luật, luật về tố tụng, bao gồm: (i) Trợ giúp viên pháp lý; (ii) Luật sư thực hiện TGPL theo hợp đồng với Trung tâm TGPL nhà nước; (iii) Luật sư thực hiện TGPL theo phân công của tổ chức tham gia TGPL.
Để vụ việc tham gia tố tụng được đánh giá bảo đảm khách quan, đúng tiêu chí và phù hợp quy định của pháp luật, người thực hiện xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công phải là người có kiến thức, kinh nghiệm nghiệp vụ từ ngang bằng trở lên với người thực hiện TGPL trong các vụ việc tố tụng. Do đó, người thực hiện việc đánh giá vụ việc TGPL thành công cũng có thể là người thực hiện TGPL của tổ chức thực hiện TGPL nơi mình công tác (bao gồm trợ giúp viên pháp lý; luật sư thực hiện TGPL) hoặc người có trình độ tương đương được tổ chức, cơ quan có thẩm quyền xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công mời. Ngoài ra, khi cần thiết, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công cũng có thể mời thêm những người có liên quan khác tham gia như điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, người được TGPL... trong vụ việc.
- Phạm vi xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công: Tùy từng chủ thể thực hiện sẽ có phạm vi khác nhau, cụ thể: (i) Cục TGPL, Bộ Tư pháp có trách nhiệm thực hiện quản lý và tổ chức đánh giá hiệu quả vụ việc TGPL tham gia tố tụng của các tổ chức thực hiện TGPL trong phạm vi toàn quốc. (ii) Sở Tư pháp có trách nhiệm quản lý và tổ chức đánh giá hiệu quả vụ việc TGPL tham gia tố tụng của các tổ chức thực hiện TGPL trong phạm vi địa phương. (iii) Tổ chức thực hiện TGPL có trách nhiệm tổ chức đánh giá hiệu quả vụ việc TGPL tham gia tố tụng của tổ chức mình.
Căn cứ vào yêu cầu thực tiễn của công tác quản lý nhà nước về TGPL, tham gia tố tụng để xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công, trong đó xác định phạm vi, tỷ lệ vụ việc, cách thức tiến hành đánh giá và các điều kiện cần thiết khác (nếu có).
- Đối tượng xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công: Vụ việc TGPL bằng hình thức tham gia tố tụng và được xác định là đã kết thúc. Theo Điều 10 Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 26/8/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn về một số hoạt động nghiệp vụ TGPL và quản lý chất lượng vụ việc TGPL quy định vụ việc TGPL kết thúc khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: (i) Thực hiện xong yêu cầu hợp pháp của người được TGPL theo hình thức TGPL thể hiện trong đơn yêu cầu TGPL; (ii) Thuộc một trong các trường hợp không tiếp tục thực hiện vụ việc TGPL quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật TGPL. (iii) Bị đình chỉ theo quy định của pháp luật.
Tùy thuộc vào thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đánh giá mà vụ việc được đánh giá sẽ khác nhau, cụ thể, theo quy định tại Thông tư số 03/2021/TT-BTP thì:
- Đối với Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp: Cục Trợ giúp pháp lý thực hiện việc đánh giá hiệu quả vụ việc TGPL để xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công dựa trên một trong các căn cứ sau đây[2]: (i) Vụ việc theo chương trình, kế hoạch đánh giá hiệu quả vụ việc TGPL. (ii) Vụ việc do Cục Trợ giúp pháp lý nắm bắt được qua hoạt động theo dõi, kiểm tra hoạt động đánh giá hiệu quả vụ việc TGPL của địa phương. (iii) Vụ việc khác để phục vụ công tác quản lý nhà nước và quản lý chuyên ngành về TGPL.
- Đối với Sở Tư pháp: Sở Tư pháp thực hiện việc đánh giá hiệu quả vụ việc TGPL để xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công dựa trên một trong các căn cứ sau đây[3]: (i) Vụ việc theo chương trình, kế hoạch đánh giá hiệu quả vụ việc TGPL. Các vụ việc này có thể là tất cả cũng có thể là lựa chọn theo người thực hiện, theo lĩnh vực hay theo nhóm đối tượng được TGPL... (ii) Vụ việc đã được tổ chức thực hiện TGPL đánh giá hiệu quả bị phản ánh, kiến nghị với Sở Tư pháp vì cho rằng vụ việc TGPL chưa bảo đảm hiệu quả. (iii) Vụ việc khác để phục vụ công tác quản lý nhà nước về TGPL tại địa phương.
- Đối với các tổ chức thực hiện TGPL: Các vụ việc mà tổ chức thực hiện TGPL đánh giá hiệu quả để xác định vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công là tất cả các vụ việc tham gia tố tụng do tổ chức thực hiện đã kết thúc.

ThS. Trịnh Thị Thanh
Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp


[1] Công văn số 427/CTGPL-TC&QLCL ngày 16/10/2020, Công văn số 98/CTGPL-TC&QLCL ngày 16/3/2021.

[2] Khoản 9 Điều 2 Thông tư số 03/2021/TT-BTP.

[3] Khoản 9 Điều 2 Thông tư số 03/2021/TT-BTP,

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển mạnh mẽ của dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, công nghệ chuỗi khối (blockchain)… làm thay đổi sâu sắc phương thức quản trị nhà nước và cung cấp dịch vụ công.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những nhiệm vụ cơ bản của quản lý nhà nước và là cầu nối giữa pháp luật với người dân. Trong giai đoạn hiện nay, khi yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát huy vai trò quản lý xã hội bằng pháp luật ngày càng cao, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã càng đóng vai trò quan trọng. Bài viết nghiên cứu thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới, xác định những kết quả đạt được và khó khăn, vướng mắc gặp phải. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới trong thời gian tới.
Ngành Tư pháp thành phố Huế và những đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Ngành Tư pháp thành phố Huế và những đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Trải qua 35 năm xây dựng và phát triển, cùng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Thành ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố và tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, sáng tạo, nỗ lực, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, toàn ngành Tư pháp thành phố Huế đã triển khai thực hiện các mục tiêu với tinh thần vào cuộc “từ sớm, từ xa”, tập trung giải quyết, xử lý kịp thời những vấn đề mới phát sinh, thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ “hàng rào kỹ thuật” về các vấn đề pháp lý, nhất là lĩnh vực trực tiếp gắn liền với người dân, doanh nghiệp; góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển của thành phố Huế, ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh đóng góp quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội

Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh đóng góp quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội

Trong bức tranh tổng thể phát triển của tỉnh Hà Tĩnh, Sở Tư pháp ngày càng thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong tham mưu xây dựng thể chế, kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc thông qua những hoạt động chuyên môn sâu, rộng và tinh thần đổi mới sáng tạo không ngừng, góp phần quan trọng vào sự phát triển toàn diện, bền vững của địa phương.
Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng

Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng

Tóm tắt: Kết luận giám định tư pháp là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng, được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án, vụ việc, giúp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chứng minh tội phạm. Bài viết phân tích quy định của pháp luật và thực trạng tổ chức, hoạt động của đội ngũ giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng của đối tượng này nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan và hiệu quả trong hoạt động tố tụng.
Nguyên tắc áp dụng có đi có lại trong pháp luật tương trợ tư pháp và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Nguyên tắc áp dụng có đi có lại trong pháp luật tương trợ tư pháp và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Việc tương trợ tư pháp được cơ quan chức năng triển khai và áp dụng theo các điều ước quốc tế (song phương và đa phương) mà Việt Nam là thành viên, trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại.
Luật áp dụng trong hoạt động tương trợ tư pháp

Luật áp dụng trong hoạt động tương trợ tư pháp

Trong hoạt động tương trợ tư pháp (TTTP) giữa các quốc gia, cơ quan nhà nước có thẩm quyền (được yêu cầu) ngoài việc áp dụng pháp luật nước mình, có phải áp dụng pháp luật nước ngoài hay không và điều kiện áp dụng ra sao là vấn đề luôn được đặt ra dưới khía cạnh tư pháp quốc tế, cũng như trong hoạt động tố tụng dân sự quốc tế nói chung.
Thực hiện công tác bồi thường nhà nước trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp

Thực hiện công tác bồi thường nhà nước trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp

Từ ngày 01/7/2025, chính quyền địa phương ở Việt Nam được tổ chức theo mô hình 02 cấp: Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (cấp tỉnh) và xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh (cấp xã).
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ pháp luật cho các tổ chức, cá nhân khu vực phía Nam

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ pháp luật cho các tổ chức, cá nhân khu vực phía Nam

Đối với khu vực phía Nam - nơi tập trung đông dân cư, nhiều trung tâm kinh tế trọng điểm và có sự đa dạng về điều kiện kinh tế - xã hội đang đối mặt với thách thức không nhỏ trong việc nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật và kỹ năng, nghiệp vụ pháp luật cho các tổ chức, cá nhân. Đây không chỉ là nhiệm vụ của hệ thống chính trị mà còn là trách nhiệm xã hội của các cơ sở đào tạo pháp luật trong cả nước, trong đó có Trường Cao đẳng Luật miền Nam (sau đây gọi là Trường) - với vai trò là cơ sở đào tạo pháp luật thuộc Bộ Tư pháp xác định sứ mệnh đồng hành cùng địa phương, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật tại chỗ thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ pháp luật.
Công tác đào tạo cao đẳng, trung cấp pháp luật; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp cho các tổ chức, cá nhân khu vực miền Trung - Tây Nguyên - Kết quả và định hướng

Công tác đào tạo cao đẳng, trung cấp pháp luật; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp cho các tổ chức, cá nhân khu vực miền Trung - Tây Nguyên - Kết quả và định hướng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là nhiệm vụ “then chốt”, trong đó, giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò quan trọng trong đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, các nghị định hướng dẫn thi hành và các văn bản pháp luật có liên quan đã tạo hành lang pháp lý cho đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, trong đó có ngành Luật. Nhiều nghị quyết của Bộ Chính trị nhấn mạnh, cần đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ pháp luật có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn để nâng cao hiệu quả quản lý và thực thi pháp luật. Miền Trung - Tây Nguyên là khu vực rộng lớn, đa dạng về văn hóa - xã hội, với nhiều địa bàn đặc thù như vùng cao, vùng biên giới, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Đây cũng là những nơi chịu nhiều tác động tiêu cực từ điều kiện kinh tế, thiên tai, hạ tầng giáo dục và pháp lý chưa đồng đều. Trong bối cảnh đó, việc tăng cường công tác đào tạo pháp luật và bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ cơ sở, người dân và các đối tượng chuyên môn tại khu vực này không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn, mà còn thể hiện trách nhiệm xã hội sâu sắc của ngành Tư pháp, góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo bền vững và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa từ cơ sở
Trường Đại học Luật Hà Nội - Trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật cho ngành Tư pháp và đất nước

Trường Đại học Luật Hà Nội - Trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật cho ngành Tư pháp và đất nước

Kể từ khi thành lập (ngày 10/11/1979) đến nay, được sự tin tưởng của Đảng và Nhà nước, Trường Đại học Luật Hà Nội tự hào là một trong những cơ sở đào tạo và nghiên cứu pháp luật hàng đầu của Việt Nam và tiếp tục được Chính phủ xác định là trường trọng điểm đào tạo cán bộ pháp luật theo Quyết định số 1156/QĐ-TTg ngày 30/9/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án tổng thể “Tiếp tục xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thành các trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật”.
Đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Học viện Tư pháp là cơ sở đào tạo nghề luật đầu tiên trực thuộc Bộ Tư pháp và cũng là trung tâm lớn nhất đào tạo chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp của đất nước, trải qua 27 năm, hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp và bổ trợ tư pháp của Học viện Tư pháp đã đạt được những thành tựu quan trọng, đóng góp nhiều vào sự phát triển nguồn nhân lực tư pháp của đất nước, Bộ, ngành Tư pháp và xã hội.
Văn phòng Bộ Tư pháp: Tự hào truyền thống - Đổi mới phát triển

Văn phòng Bộ Tư pháp: Tự hào truyền thống - Đổi mới phát triển

Văn phòng Bộ Tư pháp (sau đây gọi tắt là Văn phòng) - đơn vị có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và quản lý các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, tổng hợp, theo dõi, đôn đốc các đơn vị thuộc Bộ thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Bộ đã được phê duyệt; tham mưu, điều phối, thực hiện công tác truyền thông đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và quản lý báo chí, xuất bản; tổ chức thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính, công tác hành chính, văn thư, lưu trữ, bảo vệ bí mật nhà nước, quản trị, tài chính, bảo vệ, quân sự, y tế của cơ quan Bộ theo quy định của pháp luật. Văn phòng được giao nhiệm vụ tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Văn phòng chính là “cầu nối” giữa Lãnh đạo Bộ và các đơn vị thuộc Bộ, góp phần bảo đảm sự vận hành thông suốt, hiệu quả trong toàn ngành Tư pháp.
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý - Kết quả đạt được và một số định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý - Kết quả đạt được và một số định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bài viết về kết quả đạt được của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới.

Theo dõi chúng tôi trên: