Chủ nhật 26/07/2026 13:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vướng mắc của Bộ luật Hình sự năm 2015 về quy định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án

Trong thực tế thì có thể một người thực hiện hai hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội lần đầu có thể bị xét xử sau hành vi phạm tội thứ hai hoặc ngược lại.

1. Quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án tại Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015
So với quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án là không có gì thay đổi. Theo đó, việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án được quy định trong 03 trường hợp sau:

1.1 Trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này (theo khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015)
Trong thực tế thì có thể một người thực hiện hai hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội lần đầu có thể bị xét xử sau hành vi phạm tội thứ hai hoặc ngược lại. Vì vậy, quy định tại khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có thể hiểu là khi một người bị xét xử về một hành vi phạm tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật mà sau đó người này lại bị xét xử về một tội khác và hành vi phạm tội lần sau được thực hiện trước khi có bản án đã có hiệu lực pháp luật thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang xét xử. Sau đó, tổng hợp với hình phạt của bản án trước đã có hiệu lực pháp luật. Thời gian chấp hành hình phạt của bản án trước sẽ được trừ vào hình phạt chung sau khi đã tổng hợp hình phạt. Thẩm quyền tổng hợp hình phạt là của Hội đồng xét xử đang xét xử vụ án.

Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay vẫn còn cách hiểu khác nhau về thời điểm được coi là “đang phải chấp hành một bản án”. Cách hiểu thứ nhất là thời điểm người đó thực tế đã và đang chấp hành một bản án đã có hiệu lực pháp luật. Cách hiểu thứ hai là chỉ cần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ví dụ: Ngày 03/01/2019, Nguyễn Văn B bị Tòa án huyện X tuyên phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Như vậy, ngày 04/02/2019 là ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Theo cách hiểu thứ nhất là khi Chánh án Tòa án huyện X ra Quyết định thi hành án phạt tù đối với B (tức là trong thời hạn 07 ngày sau đó, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật) thì mới coi B là đang chấp hành một bản án. Theo cách hiểu thứ hai kể từ ngày 04/02/2019 thì bản án đã có hiệu lực pháp luật nên B phải chấp hành bản án. Vì vậy, đã coi B là đang chấp hành một bản án, còn việc Chánh án Tòa án huyện X ra Quyết định thi hành án phạt tù đối với B chỉ là thủ tục để bắt B đi chấp hành án phạt tù theo quy định của pháp luật.

1.2 Trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới (theo khoản 2 Điều 6 Bộ luật Hình sự năm 2015)

Khác với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, việc tổng hợp hình phạt theo khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 là khi một người đã bị kết án về một hành vi phạm tội và đang chấp hành một bản án đã có hiệu luật pháp luật mà sau đó người này tiếp tục có hành vi phạm tội khác. Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; người bị kết án tù mà bản án đã có hiệu lực pháp luật, đã có quyết định thi hành án của Tòa án đang giam giữ tại các trại tạm giam, nhà tạm giữ (sau đây gọi chung là phạm nhân) bị trích xuất đến cơ sở giam, giữ khác để phục vụ việc điều tra, truy tố, xét xử thì thời hạn trích xuất, thời hạn gia hạn trích xuất được tính vào thời hạn chấp hành án phạt tù, trừ trường hợp phạm nhân đó bỏ trốn khỏi nơi giam trong thời gian được trích xuất (khoản 1 Điều 6 của Thông tư liên tịch số: 04/2013/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 30/5/2013 của Bộ Công an - Bộ Quốc phòng - Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiếm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện trích xuất phạm nhân để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử). Thẩm quyền tổng hợp hình phạt là của Hội đồng xét xử đang xét xử vụ án.

Ví dụ 1: Ngày 03/01/2019, Nguyễn Văn B bị Tòa án huyện X tuyên phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 04/02/2019 là ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Ngày 05/02/2019, Chánh án Tòa án huyện X chưa ra quyết định thi hành án thì B bị đưa ra xét xử về hành vi cố ý gây thương cho người khác tại Nhà tạm giữ Công an huyện X. Trường hợp này khi xét xử hành vi phạm tội cố ý gây thương tích của B thì Tòa án huyện X tổng hợp hình phạt theo khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Ví dụ 2: Trần H đang chấp hành án tại Trại giam B thuộc Bộ Công an. Trong thời gian chấp hành án H có hành vi cố ý gây thương tích cho phạm nhân khác cũng đang chấp hành án tại Trại giam B. Trường hợp này khi xét xử hành vi phạm tội cố ý gây thương tích của H thì Tòa án sẽ tổng hợp hình phạt theo khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015.

1.3 Trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lc pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp (khoản 3 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015)

Việc tổng hợp hình phạt theo khoản 1 và khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 có một điều kiện bắt buộc chung là người bị Tòa án xét xử phải là người đang chấp hành một bản án, tức là đã có một bản án có hiệu lực pháp luật kết tội người đó về một tội nào đó. Cho nên quy định tại khoản 3 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 là để tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật nếu như khi xét xử Tòa án không thể tổng hợp hình phạt theo khoản 1 và khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015. Thẩm quyền tổng hợp hình phạt là của Chánh án Tòa án mà không phải là Hội đồng xét xử.

Ví dụ: Ngày 03/01/2019, Tòa án nhân dân huyện X tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn B 01 năm tù về tội “trộm cắp tài sản”. Ngày 15/01/2019, Tòa án nhân dân huyện Y lại xét xử Nguyễn Văn B về tội “Cố ý gây thương tích”. Trong trường hợp này, Tòa án dân dân huyện Y không thể áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 để tổng hợp hình phạt. Vì bản án kết tội Nguyễn Văn B của Tòa án nhân dân huyện X chưa có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp này, Chánh án Tòa án nhân dân huyện Y sẽ tổng hợp hình phạt khi hai bản án của Tòa án nhân dân huyện X và Tòa án nhân dân huyện Y có hiệu lực pháp luật.

Hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án có hiệu lực pháp luật theo quy định tại khoản 3 Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án có hiệu lực pháp luật hiện nay có thể tham khảo hướng dẫn tại mục 5 của Thông tư liên tịch 02/TT-LN ngày 20/12/1991 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Nội dung cụ thể như sau:

- Trong trường hợp các bản án đã có hiệu lực pháp luật đều của cùng một Tòa án thì Chánh án Tòa án đó ra quyết định tổng hợp hình phạt.

- Trong trường hợp các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của các Tòa án khác nhau nhưng cùng cấp (cùng cấp huyện trong một tỉnh hoặc khác tỉnh, cùng cấp tỉnh, cùng cấp khu vực, cùng cấp quân khu) thì Chánh án Tòa án ra bản án sau cùng (về mặt thời gian) ra quyết định tổng hợp hình phạt, cụ thể là: nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của các Tòa án cấp huyện khác nhau (trong cùng một tỉnh hay khác tỉnh) thì Chánh án Tòa án cấp huyện đã ra bản án sau cùng ra quyết định tổng hợp hình phạt; nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của các Tòa án quân sự khu vực khác nhau (trong cùng một quân khu hay khác quân khu) thì Chánh án Tòa án quân sự khu vực đã ra bản án sau cùng quyết định tổng hợp hình phạt; nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật đều là của các Toà án cấp tỉnh (hoặc đều là của Tòa án quân sự cấp quân khu) thì Chánh án Tòa án cấp tỉnh (hoặc Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu) ra bản án sau cùng ra quyết định tổng hợp hình phạt.

- Trong trường hợp các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của các Tòa án không cùng cấp thì Chánh án Tòa án cấp cao hơn ra quyết định tổng hợp hình phạt, không phụ thuộc vào việc bản án của Tòa án cấp cao hơn có trước hay có sau.

- Trong trường hợp trong số các bản án đã có hiệu lực pháp luật có bản án của Tòa án nhân dân, có bản án của Tòa án quân sự, thì việc tổng hợp hình phạt cũng được thực hiện tương tự như hướng dẫn tại các điểm b, c trên đây, cụ thể là: Nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của Tòa án cấp huyện và của Tòa án quân sự khu vực hoặc là của Tòa án cấp tỉnh và của Tòa án quân sự cấp quân khu, thì Chánh án Tòa án đã ra bản án sau cùng ra quyết định tổng hợp hình phạt ra quyết định; nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của các toà án khác nhau và khác cấp thì Chánh án Tòa án cấp cao hơn ra quyết định tổng hợp hình phạt, không phụ thuộc vào việc bản án của Tòa án cấp cao hơn có trước hay có sau (ví dụ: có bản án là của Tòa án nhân huyện, có bản án là của Tòa án quân sự quân khu thì Chánh án Tòa án quân sự quân khu ra quyết định tổng hợp hình phạt, không phụ thuộc vào việc bản án của Tòa án quân sự quân khu có trước hay có sau bản án của Tòa án nhân dân huyện).

- Trong trường hợp trong số các bản án đã có hiệu lực pháp luật có bản án là của Tòa án nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận, có bản án là của Tòa án Việt nam thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định tổng hợp hình phạt.

2. Một số vướng mắc về tổng hợp hình phạt trong thực tiễn

Qua nghiên cứu quy định tại Điều 6 Bộ luật Hình sự năm 2015 và công tác thực tiễn xét xử tại Tòa án, tác giả thấy việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án có một số vướng mắc hoặc quy định cần được hướng dẫn như sau:

2.1. Thời điểm xác định một người đang chấp hành một bản án

Như đã trình bày, thời điểm để xác định một người đang chấp hành một bản án được quy định tại khoản 1, 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện nay còn có quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng một người đang chấp hành một bản án là khi người đó thực tế đã bắt đầu chấp hành một bản án đã có hiệu lực pháp luật tại một trại giam hoặc đã có quyết định thi hành án của Tòa án đang giam giữ tại các trại tạm giam, nhà tạm giữ. Nhưng có quan điểm cho rằng một người đang chấp hành một bản án là khi bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật, vì khi bản án có hiệu lực pháp luật đương nhiên người bị kết án phải chấp hành bản án. Việc xác định thời điểm một người đang chấp hành một bản án có ý nghĩa hết sức quan trọng, vì Tòa án chỉ được tổng hợp hình phạt theo khoản 1, 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 khi thỏa mãn điều kiện chung là người bị xét xử phải là người đang chấp hành một bản án.

2.2. Cách tính thời gian đã chấp hành bản án trong trường người bị xét xử là phạm nhân bị trích xuất để tạm giam

Tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định như sau: “Khi tính thời hạn theo tháng thì thời hạn hết vào ngày trùng của tháng sau; nếu tháng đó không có ngày trùng thì thời hạn hết vào ngày cuối cùng của tháng đó; nếu thời hạn hết vào ngày nghỉ thì ngày làm việc đầu tiên tiếp theo được tính là ngày cuối cùng của thời hạn. Khi tính thời hạn tạm giữ, tạm giam thì thời hạn hết vào ngày kết thúc thời hạn được ghi trong lệnh, quyết định. Nếu thời hạn được tính bằng tháng thì 01 tháng được tính là 30 ngày”. Như vậy, khác với các loại thời hạn khác trong tố tụng hình sự, thời hạn tạm giam thì phải tính một tháng là 30 mươi ngày.

Khi tổng hợp hình phạt theo khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì Tòa án phải tính thời gian bị cáo đã chấp hành bản án trước được bao lâu thì khi đó mới biết thời gian bị cáo chưa chấp hành của bản án trước. Thông thường trong trường hợp phạm nhân phạm tội thì thường sẽ bị trích xuất ra ngoài để tạm giam phục vụ điều tra, truy tố, xét xử. Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 của Thông tư liên tịch số: 04/2013/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 30/5/2013 của Bộ Công an - Bộ Quốc phòng - Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiếm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện trích xuất phạm nhân để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử thì trường hợp phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; người bị kết án tù mà bản án đã có hiệu lực pháp luật, đã có quyết định thi hành án của Tòa án đang giam giữ tại các trại tạm giam, nhà tạm giữ (sau đây gọi chung là phạm nhân) bị trích xuất đến cơ sở giam, giữ khác để phục vụ việc điều tra, truy tố, xét xử thì thời hạn trích xuất, thời hạn gia hạn trích xuất được tính vào thời hạn chấp hành án phạt tù, trừ trường hợp phạm nhân đó bỏ trốn khỏi nơi giam trong thời gian được trích xuất. Vướng mắc trong thực tiễn hiện nay là việc thời giam bị cáo đã chấp bản án trước được tính như thế nào thì có hai quan điểm khác nhau: (i) Quan điểm thứ nhất là, phải tính thời gian liên tục từ khi bị cáo chấp hành bản án trước đến ngày Tòa án xét xử; (ii) Quan điểm thứ hai là phải tính thành hai khoản thời gian: một là từ lúc bị cáo bắt đầu chấp hành bản án trước đến ngày bị cáo bị trích xuất; hai là từ thời điểm bị cáo bị trích xuất để tạm giam đến ngày tòa án xét xử (thời gian này là thời gian tạm giam nên phải tính một tháng 03 ngày). Tuy nhiên, qua nghiên cứu và thử tính thì thời gian theo hai cách tính là khác nhau.

Ví dụ: Theo bản án của Tòa án huyện X, bị cáo A phải chấp hành hình phạt tù là 03 năm. Thời gian chấp hành hình phạt từ tính từ ngày 01/02/2018. Ngày 01/02/2019, bị cáo A bị trích xuất để phục vụ điều tra. Ngày 02/02/2019, A bị ra Lệnh tạm giam là 60 ngày. Ngày 14/3/2019, bị cáo A bị Tòa án huyện Y xử phạt 01 năm tù. Theo quan điểm thứ nhất, thời gian bị cáo đã chấp hành bản án trước là từ ngày 01/02/2018 đến ngày 14/3/2019 (tức là được 01 năm 01 tháng 13 ngày). Theo quan điểm thứ hai, thời gian bị cáo A đã chấp hành bản án trước được tính như sau: (i) Từ ngày 01/02/2018 đến hết ngày 01/02/2019 là 01 năm; (ii) Từ ngày 02/02/2019 đến ngày 14/3/2019 là 41 ngày (tức 01 tháng 11 ngày). Cho nên thời gian bị cáo A đã chấp hành của bản án trước là 01 năm 01 tháng 11 ngày.

2.3. Tòa án nhân dân cấp huyện có được tổng hợp hình phạt nếu hình phạt chung là trên 15 năm tù, chung thân hoặc tử hình

Vấn đề Tòa án nhân dân cấp huyện có được tổng hợp hình phạt nếu hình phạt chung là trên 15 năm tù, chung thân hoặc tử hình hay không hiện còn quan điểm khác nhau trong thực tiễn. Mặc dù thẩm quyền xét xử và thẩm quyền tổng hợp hình phạt là hai vấn đề khác nhau nhưng có một điều theo qua điểm tác giả cần lưu ý là việc thi hành phạt cuối cùng là phải theo bản án đã tổng hợp hình phạt. Chính vì vậy, trước đây tại Nghị quyết số 02/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao bổ sung một số hướng dẫn của Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 và Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn tại khoản 2 Điều 1 như sau: “Trường hợp bị cáo bị truy tố về một hoặc một số tội thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện mà khi thụ lý vụ án xét thấy bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình tại một bản án khác và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật thì Tòa án nhân dân cấp huyện phải báo cáo với Tòa án nhân dân cấp tỉnh để Tòa án nhân dân cấp tỉnh thống nhất với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh rút hồ sơ vụ án lên để truy tố, xét xử ở cấp tỉnh”. Như vậy, theo quan điểm tác giả nếu Tòa án nhân dân cấp huyện mà khi thụ lý vụ án xét thấy bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình tại một bản án khác và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật hoặc nếu thấy việc tổng hợp hình phạt là trên 15 năm tù thì Tòa án nhân dân cấp huyện phải báo cáo với Tòa án nhân dân cấp tỉnh để Tòa án nhân dân cấp tỉnh thống nhất với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh rút hồ sơ vụ án lên để truy tố, xét xử ở cấp tỉnh. Tuy nhiên, để thực tiễn áp dụng pháp luật cho thống nhất thì vấn đề này rất cần được hướng dẫn cụ thể hơn.

2.4. Chánh án Tòa án nào có quyền tổng hợp hình phạt theo khoản 3 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015

Qua nghiên cứu thì quy định Chánh án Tòa án tổng hợp hình phạt của nhiều bản án có hiệu lực pháp luật theo khoản 3 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện nay chưa được hướng dẫn. Theo tác giả việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật hiện nay có thể vận dụng theo tinh thần quy định tại mục 5 của Thông tư liên tịch 02/TT-LN ngày 20/12/1991 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao mà tác giả đã trình bày. Tuy nhiên, để việc áp dụng pháp luật cho thống nhất thì quy định tại khoản 3 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 cần được hướng dẫn lại cho cụ thể vì hiện nay có quan điểm cho rằng Thông tư liên tịch 02/TT-LN ngày 20/12/1991 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã hết hiệu lực pháp luật.

Dương Tấn Thanh

Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.

Theo dõi chúng tôi trên: