Thứ tư 23/09/2026 11:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vướng mắc về hợp đồng vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 dưới góc nhìn công chứng

Bài viết này nghiên cứu, phân tích những vướng mắc về hợp đồng vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 dưới góc nhìn công chứng để làm cơ sở cho việc đề xuất hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.

Tóm tắt: Bài viết này nghiên cứu, phân tích những vướng mắc về hợp đồng vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 dưới góc nhìn công chứng để làm cơ sở cho việc đề xuất hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.

Abstract: This article studies and analyzes problems related to property loan contracts under the provisions of the Civil Code of 2015 from the perspective of notarization to serve as a basis for proposing improvement of the law in this field.

Thực tiễn cuộc sống luôn đặt ra nhu cầu vay tài sản để giải quyết những khó khăn tạm thời về kinh tế, do đó, hợp đồng vay tài sản là phương tiện pháp lý được đặt ra để đáp ứng mãn những nhu cầu đó. Pháp luật dân sự đã quy định khá chi tiết về loại hợp đồng này và cách thức triển khai trong thực tiễn. Qua việc nghiên cứu hợp đồng vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 trong hoạt động công chứng hiện nay, tác giả xác định một số khó khăn, vướng mắc áp dụng pháp luật như sau:

Thứ nhất, những quy định chung của pháp luật về “hợp đồng vay tài sản” và “hợp đồng mượn tài sản” được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 còn một số nội dung chưa rõ ràng, có thể gây ra sự nhầm lẫn giữa hai loại hợp đồng này. Trong thực tiễn áp dụng, nhiều chủ thể, kể cả công chứng viên trong một số trường hợp còn xác định nhầm lẫn giữa hai loại hợp đồng này, mặc dù bản chất pháp lý của hai loại hợp đồng này là hoàn toàn khác nhau.

Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Điều 494 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được”.

Nếu chỉ xem xét dựa trên hai khái niệm nêu trên, chúng ta thiếu cơ sở pháp lý để phân định một cách rõ ràng giữa hai loại hợp đồng này. Thậm chí, giữa hợp đồng vay tài sản không phải trả lãi với hợp đồng mượn tài sản có nhiều điểm tương đồng. Chỉ sau khi nghiên cứu một số nội dung của điều luật khác có liên quan đến hai loại hợp đồng này trong Bộ luật Dân sự năm 2015, thì quy định về “quyền sở hữu đối với tài sản vay” mới là tiêu chí mấu chốt để phân định giữa loại “hợp đồng vay tài sản” với “hợp đồng mượn tài sản”. Cụ thể là, trong hợp đồng vay tài sản thì bên vay trở thành chủ sở hữu đối với tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó; còn trong hợp đồng mượn tài sản thì không có quy định nào như vậy - tức là bên mượn không được chuyển giao quyền sở hữu tài sản đi mượn.

Thứ hai, xác định tài sản có thể trở thành đối tượng của hợp đồng vay tài sản. Theo Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”. Tài sản được phân thành 08 nhóm khác nhau: Bất động sản và động sản; hoa lợi, lợi tức; vật chính và vật phụ; vật chia được và vật không chia được; vật tiêu hao và vật không tiêu hao; vật cùng loại và vật đặc định; vật đồng bộ và quyền tài sản. Dựa trên các quy định của pháp luật về hợp đồng vay tài sản và các quy định nêu trên về tài sản cũng như thực tế, có thể nhận thấy, “tiền” là một loại tài sản phổ biến nhất trong đối tượng của hợp đồng vay tài sản. Tuy nhiên, còn những loại tài sản khác đang có nhiều cách hiểu khác nhau trong việc xác định đúng tài sản nào có thể và tài sản nào không thể trở thành đối tượng của hợp đồng vay tài sản?

Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “… khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả lại cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng…”. Đây là một đặc điểm pháp lý quan trọng nhất của hợp đồng vay tài sản. Theo các quy định trên, dường như chỉ có những tài sản có thể thay thế được bằng một tài sản khác cùng loại mới đủ điều kiện đem cho vay. Các bên có thể đi vay hoặc cho vay cùng một lúc một hoặc nhiều tài sản khác nhau. Số lượng và chất lượng của tài sản là hai vấn đề rất quan trọng, công chứng viên đặc biệt chú ý khi soạn thảo văn bản hay xem xét nội dung hợp đồng vay tài sản.

Như vậy, “vật”, “tiền”, “giấy tờ có giá” hoàn toàn có thể trở thành đối tượng của hợp đồng vay tài sản, còn “quyền tài sản” thì không. Tương tự như vậy, thì trong 08 nhóm tài sản nêu trên, có thể cho vay: Vật chính và vật phụ, vật chia được và vật không chia được, vật tiêu hao và vật không tiêu hao… nhưng không cho vay được “bất động sản” hay “vật đặc định”. Ngoài ra, những tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, cho dù là loại tài sản nào cũng không thể trở thành đối tượng của hợp đồng vay tài sản. Mà trên thực tế thì người dân vẫn có nhu cầu vay đối với các loại tài sản này, nhưng theo quy định nêu trên thì không thể xác lập giao dịch.

Với tư cách là đối tượng của hợp đồng vay tài sản, “tiền” luôn là tài sản thông dụng nhất. Tuy nhiên, tiền thì bao gồm cả tiền Việt Nam và ngoại tệ, mà ngoại tệ được xác định là một loại ngoại hối. Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) quy định: “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”. Theo đó, có thể hiểu ngoại tệ trở thành một loại ngoại hối bị hạn chế sử dụng và không thể trở thành đối tượng của hợp đồng vay tài sản theo quy định của Pháp Lệnh ngoại hối năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013). Như vậy, quy định này chưa đồng nhất với Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong khi đó, việc sử dụng ngoại tệ là đối tượng trong hợp đồng vay tài sản hiện nay là khá phổ biến trên thực tiễn.

Thứ ba, xác định chủ thể tham gia giao kết hợp đồng vay tài sản bao gồm: Bên cho vay và bên vay. Hiện nay, đang tồn tại quan điểm khác nhau liên quan đến chủ thể là doanh nghiệp, xoay quanh hình thức hợp đồng vay tài sản có đối tượng phổ biến nhất là tiền.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, doanh nghiệp chỉ được phép kinh doanh những ngành, nghề đã được ghi nhận trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Cơ sở pháp lý giải thích cho quan điểm này là khoản 12 Điều 4 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nêu rõ: Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: (i) Nhận tiền gửi; (ii) Cấp tín dụng; (iii) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Trong khi đó, việc “cấp tín dụng” được xác định “là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” (khoản 14 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010) (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, chỉ có các hình thức tổ chức tín dụng được quy định tại Điều 6 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) mới được phép cho vay vốn dưới mọi hình thức. Như vậy, cho vay tiền dường như là ngành, nghề kinh doanh mang tính độc quyền của ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng phi ngân hàng.

Quan điểm thứ hai cho rằng, doanh nghiệp có quyền kinh doanh mọi ngành, nghề mà pháp luật không cấm và không cần phải căn cứ vào ngành, nghề đã đăng ký. Như vậy, có nghĩa là doanh nghiệp dù không đăng ký ngành, nghề cho vay tiền thì vẫn được phép thực hiện chức năng này. Điểm d khoản 2 Điều 3 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp quy định về thu nhập chịu thuế như sau: “Thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn, bán ngoại tệ bao gồm: Lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng, lãi cho vay vốn dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật bao gồm cả tiền lãi trả chậm, lãi trả góp, phí bảo lãnh tín dụng và các khoản phí khác trong hợp đồng cho vay vốn; thu nhập từ bán ngoại tệ; khoản chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản nợ phải trả có gốc ngoại tệ cuối năm tài chính; khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ (riêng chênh lệch tỷ giá phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản để hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp mới thành lập mà tài sản cố định này chưa đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính). Đối với khoản nợ phải thu, khoản cho vay có gốc ngoại tệ phát sinh trong kỳ thì chênh lệch tỷ giá hối đoái của các khoản nợ phải thu, khoản cho vay này là khoản chênh lệch giữa tỷ giá hối đoái tại thời điểm thu hồi nợ với tỷ giá hối đoái tại thời điểm ghi nhận khoản nợ phải thu hoặc khoản cho vay ban đầu”. Do đó, mặc dù không có quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể là doanh nghiệp có quyền cho vay vốn, nhưng với quy định này thì doanh nghiệp hoàn toàn có quyền cho vay vốn và sẽ phải chịu thuế thu nhập phát sinh từ việc cho vay vốn đó.

Theo phân tích nêu trên, vấn đề về chủ thể tham gia giao kết hợp đồng vay tài sản là doanh nghiệp với tư cách là bên cho vay hiện nay chưa có cơ sở pháp lý quy định một cách cụ thể và trực tiếp thể hiện việc cấm hay cho phép chủ thể là doanh nghiệp được thực hiện hoạt động cho vay vốn. Vì vậy, trên thực tiễn, vẫn đang tồn tại hai quan điểm khác nhau dựa trên một số các văn bản quy phạm pháp luật chỉ quy định một cách gián tiếp. Việc chưa có quy định một cách rõ ràng như vậy gây ra không ít vướng mắc, khó khăn cho các công chứng viên. Thực tiễn tại các tổ chức hành nghề công chứng cho thấy, khi gặp tình huống có chủ thể là doanh nghiệp yêu cầu công chứng hợp đồng cho vay tài sản là tiền với tư cách là bên cho vay, công chứng viên sẽ lúng túng không biết có công chứng được hay không? Nếu đồng ý thụ lý hồ sơ yêu cầu công chứng thì dựa trên cơ sở pháp lý nào.

Thứ tư, đối với hợp đồng cho vay tài sản có lãi suất mà đối tượng tài sản của hợp đồng không phải là tiền thì thực hiện như thế nào?

Nếu lấy lãi suất làm tiêu chí, có thể chia hợp đồng vay tài sản thành: Hợp đồng vay tài sản không có lãi và hợp đồng vay tài phải trả lãi. Lãi suất được đề cập trong khái niệm về hợp đồng vay tài sản tại Điều 463 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015: (i) Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thể thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác…; (ii) Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Từ những quy định nêu trên, khi soạn thảo hoặc kiểm tra nội dung trong hợp đồng vay tài sản có lãi, các bên có thể đưa ra 02 phương án giải quyết khi đề cập đến yếu tố lãi: Phương án thứ nhất, ấn định luôn một số lãi cụ thể, bất biến; phương án thứ hai, lãi suất do các bên tự thỏa thuận - đây là vấn đề mà các bên cần đặc biệt quan tâm. Trong thực tiễn, đa số các bên khi tham gia giao kết hợp đồng vay tài sản thường lựa chọn phương án thứ hai. Do vậy, khi xác định lãi suất trong hợp đồng vay tài sản thì các bên cần xem xét kỹ nội dung Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tuy nhiên, đây là quy định về lãi suất áp dụng đối với đối tượng tài sản trong hợp đồng vay tài sản là “tiền”. Nhưng trên thực tế, đối tượng tài sản của hợp đồng vay tài sản không chỉ có tiền mà còn nhiều loại tài sản khác. Ví dụ như: Vàng cũng là loại tài sản là đối tượng của giao dịch cho vay rất phổ biến trong xã hội. Vàng trong trường hợp này không phải là đối tượng được điều chỉnh theo Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) tại mục d khoản 1 Điều 4 (Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam); không phải là một loại tài sản hay hàng hóa bị nhà nước cấm lưu thông trong nước. Vàng là đối tượng tài sản trong hợp đồng vay tài sản là loại vàng mà người sở hữu có quyền mua bán, tặng cho, cho vay…

Hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định mức lãi suất tối đa mà các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng vay tài sản có đối tượng không phải là “tiền”. Vậy một số câu hỏi đặt ra là: Liệu có đủ cơ sở pháp lý cho các chủ thể tham gia giao dịch hợp đồng vay tài sản có đối tượng vay không phải là tiền mà có lãi suất hay không? Nếu có thì các chủ thể sẽ lấy cơ sở pháp lý nào để giải quyết vấn đề về lãi suất trong loại hợp đồng vay tài sản này?

Vì vậy, đây chính là một trong những nội dung mà pháp luật chưa có quy định cụ thể, gây ra khó khăn cho các bên tham gia giao dịch. Khi có tranh chấp loại hợp đồng này xảy ra thì các cơ quan có thẩm quyền sẽ rất khó khăn để giải quyết nếu trong hợp đồng các bên tự thỏa thuận lãi suất; không ấn định mức lãi suất cụ thể, bất biến trong hợp đồng. Đồng thời, từ đó cũng đặt ra vấn đề: Nếu hợp đồng vay tài sản có đối tượng không phải là tiền mà có lãi suất nhưng giữa các bên đã có sự thống nhất về mức lãi suất, ấn định cụ thể và bất biến là một con số cụ thể nào đó. Khi đó vấn đề lãi suất trong hợp đồng vay tài sản này đã được xử lý một cách rõ ràng, mức lãi suất thì hoàn toàn có thể được công nhận theo mức lãi suất của hợp đồng vay tài sản có đối tượng là tiền được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vậy thì các chủ thể khi có nhu cầu xác lập loại hợp đồng vay tài sản này có thể xác lập được không? Các tổ chức hành nghề công chứng có tiếp nhận để giải quyết yêu cầu công chứng cho các bên không?

Thứ năm, về mục đích sử dụng tài sản vay. Đây là một quy định mang tính đặc thù, chỉ hiện diện ở hợp đồng vay tài sản trong số các loại hợp đồng dẫn tới chuyển dịch chủ sở hữu hoặc sử dụng tài sản. Sau khi quyền sở hữu tài sản đã được chuyển dịch sang cho chủ sở hữu mới thông qua các hình thức khác nhau như: Tặng cho, mua bán hoặc trao đổi, về mặt nguyên tắc chủ sở hữu mới được tự do thực hiện các quyền sở hữu đối với khối tài sản đó theo quy định của pháp luật mà không phải chịu bất cứ sự ràng buộc nào từ phía chủ sở hữu cũ trước đó. Tuy nhiên, tại Điều 467 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Các bên có thể thỏa thuận về việc tài sản vay phải được sử dụng đúng mục đích vay, bên cho vay có quyền kiểm tra việc sử dụng tài sản và đòi lại tài sản cho vay trước thời hạn nếu đã có thỏa thuận mà bên vay vẫn sử dụng tài sản trái mục đích”. Như vậy, có thể hiểu, mục đích sử dụng tài sản vay chính là tài sản đi vay sẽ được bên vay đem dùng vào công việc gì và mục đích sử dụng tài sản vay phải được bên vay và bên cho vay thỏa thuận trước khi giao kết hợp đồng vay tài sản. Liệu quy định này có tạo nên yếu tố mâu thuẫn với tinh thần của chế định quyền sở hữu khi mà bên cho vay đã chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên vay khi xác lập giao dịch vay tài sản?

Thứ sáu, về hình thức của hợp đồng vay tài sản. Hiện nay, pháp luật chưa quy định hình thức bắt buộc đối với loại hợp đồng này. Vì vậy, các bên khi giao kết hợp đồng vay tài sản có thể tùy ý lựa chọn hình thức của hợp đồng, trong đó hình thức giao kết bằng miệng diễn ra rất phổ biến. Do đó, việc phát sinh các tranh chấp từ loại hợp đồng này hiện nay rất khó xử lý, thậm chí nhiều bên cho vay không thể thu hồi nợ do thiếu cơ sở pháp lý.

Bên cạnh đó, việc xác lập hợp đồng vay tài sản mang tính giả tạo trên thực tế hiện nay cũng rất phổ biến. Đã có nhiều trường hợp các bên thực hiện giao dịch vay tài sản nhưng không ký hợp đồng vay tài sản mà ký hợp đồng mua bán, đặt cọc tài sản. Ví dụ như: Hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng đặt cọc mua bán nhà, mua bán quyền sử dụng đất; hợp đồng mua bán xe ô tô... Với những trường hợp này, bên cho vay sẽ giữ tài sản hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở của bên vay. Khi đến hạn trả nợ, nếu bên vay không trả gốc và lãi thì bên cho vay yêu cầu tiến hành thủ tục mua bán tài sản. Trường hợp này, nếu bên vay kiện lên Tòa án thì khó có thể đòi được quyền lợi của mình, vì hình thức của hợp đồng không phải là hợp đồng vay tài sản. Việc xác định mức lãi suất, hạn trả nợ không được quy định trong hợp đồng mà sẽ do các bên thỏa thuận. Mặt khác, bên cho vay sẽ đưa hợp đồng mua bán hay đặt cọc tài sản đó ra làm chứng cứ trước Tòa, dẫn đến Tòa án buộc phải chấp nhận yêu cầu của bên cho vay mà không thể bảo vệ cho bên vay.

ThS. Phạm Thị Yến

Đại học Công nghệ Đông Á

(Ảnh: Internet)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: