Thứ ba 17/03/2026 15:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số ý kiến đối với dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Việc ban hành nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (Nghị định số 154/2020/NĐ-CP) là rất cần thiết, cấp bách, bởi vì, qua quá trình triển khai dù đã thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế, bất cập cần sớm sửa đổi, bổ sung hoàn thiện để nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, ban hành, kiểm tra, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL).

Để góp phần hoàn thiện văn bản pháp lý quan trọng này, tác giả có một số ý kiến như sau:

Thứ nhất, theo dự kiến tại điểm a khoản 5 Điều 1 Dự thảo (sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 10 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP), Hồi đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh có thể quyết định việc gửi hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL đến bộ, cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực có liên quan để lấy ý kiến. Theo quy định, hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL là nghị quyết của HĐND cấp tỉnh được Thường trực HĐND cấp tỉnh xem xét, quyết định việc xây dựng. Bên cạnh đó, khi quy định HĐND quyết định việc gửi hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL để lấy ý kiến thì nội dung này phải đưa vào kỳ họp (họp thường kỳ hoặc chuyên đề) của HĐND, làm kéo dài thời gian xây dựng, ban hành văn bản. Vì vậy, đề nghị xem xét quy định theo hướng Thường trực HĐND cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh có thể quyết định việc gửi hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL đến bộ, cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực có liên quan để lấy ý kiến.

Thứ hai, tại điểm b khoản 5 Điều 1 dự thảo (sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 10 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) quy định: “Trước khi gửi hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL để thẩm định, cơ quan lập đề nghị phải đăng tải Bản tổng hợp, giải trình tiếp thu ý kiến trên Công thông tin điện tử của Chính phủ, Cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương...”. Quy định trên hướng tới mục đích làm tăng tính minh bạch của quy định được dự kiến, cũng như làm tăng trách nhiệm giải trình của cơ quan chủ trì soạn thảo. Tuy nhiên, cũng đồng thời làm tăng thời gian xây dựng văn bản nói chung, thời gian lập đề nghị xây dựng văn bản nói riêng. Vì vậy, theo tác giả, đề nghị xem xét, quy định theo hướng cùng với việc gửi hồ sơ đề nghị để thẩm định, cơ quan lập đề nghị phải đề nghị đăng tải bản tổng hợp, giải trình tiếp thu ý kiến trên cổng thông tin điện tử của Chính phủ, cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; đăng tải trên cổng thông tin hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan lập đề nghị.

Thứ ba, tại điểm c, khoản 5 Điều 1 dự thảo Nghị định (dự kiến bổ sung khoản 7 vào Điều 10 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) quy định: “Cơ quan chủ trì lập đề nghị xây dựng VBQPPL có trách nhiệm truyền thông nội dung chính sách trong quá trình lập đề nghị xây dựng VBQPPL”. Với quy định dự kiến nêu trên được hiểu, cơ quan chủ trì lập đề nghị xây dựng VBQPPL có trách nhiệm truyền thông tất cả nội dung chính sách trong quá trình lập đề nghị xây dựng VBQPPL. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy, đối với chính sách có nội dung thuộc bí mật nhà nước thì không thực hiện việc truyền thông theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Bên cạnh đó, khi cơ quan chủ trì soạn thảo dự kiến tham mưu quy định truyền thông tất cả nội dung chính sách trong quá trình lập đề nghị xây dựng VBQPPL thì cũng cần nghiên cứu, bổ sung các quy định khác có liên quan làm cơ sở tổ chức thi hành, đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ trong quá trình thực hiện (như hình thức truyền thông, nội dung thể hiện hoạt động truyền thông dự thảo chính sách trong thành phần hồ sơ đề nghị xây dựng, ban hành VBQPPL…); đồng thời, thuyết minh cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn và sự cần thiết ban hành quy định dự kiến nêu trên[1].

Thứ tư, đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét lại nội dung quy định tại điểm b, khoản 10 Điều 1 dự thảo Nghị định (bổ sung khoản 5 vào Điều 25 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) về trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo trong truyền thông nội dung cơ bản của dự án, dự thảo VBQPPL trong giai đoạn lấy ý kiến.

Thứ năm, liên quan đến trách nhiệm của Sở Tư pháp trong tổ chức họp tư vấn thẩm định; thành lập và hoạt động của Hội đồng tư vấn thẩm định, Hội đồng thẩm định; cuộc họp của Hội đồng tư vấn thẩm định, Hội đồng thẩm định dự kiến tại điểm a khoản 16, khoản 17, khoản 18 Điều 1 dự thảo Nghị định (dự kiến sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 49 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP; Điều 50 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP; Điều 51 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP), theo tác giả, cơ quan chủ trì soạn thảo cần nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề sau:

(i) Tại khoản 17 Điều 1 dự thảo Nghị định (dự kiến sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 50 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP) quy định Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định, Hội đồng thẩm định trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 50 (dự kiến sửa đổi, bổ sung theo khoản 17 Điều 1 dự thảo).

Trên thực tế, để thành lập được Hội đồng thẩm định, Hội đồng tư vấn thẩm định mất rất nhiều thời gian; nhiều cơ quan không cử thành viên tham gia Hội đồng; ý kiến thành viên Hội đồng chủ yếu là của thành viên đại diện Sở Tư pháp... Vì vậy, để đảm bảo tính linh hoạt, đảm bảo thời hạn thẩm định (đặc biệt thẩm định các dự thảo được xây dựng, ban hành theo trình tự thủ tục rút gọn) đề nghị cân nhắc quy định theo hướng: Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm thành lập Hội đồng thẩm định, Hội đồng tư vấn thẩm định đối với dự thảo do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo; xem xét, quyết định thành lập Hội đồng thẩm định, Hội đồng tư vấn thẩm định đối với dự thảo có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực.

Ngoài ra, khoản 1 Điều 50 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (dự kiến sửa đổi, bổ sung theo khoản 17 Điều 1 dự thảo) đã quy định Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định, Hội đồng thẩm định trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 50, tuy nhiên, khoản 2 Điều 50 (dự kiến sửa đổi, bổ sung theo khoản 17 Điều 1 dự thảo) tiếp tục quy định: Đối với trường hợp thẩm định dự thảo có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoặc do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo thì đại diện Sở Tư pháp không quá 1/3 tổng số thành viên Hội đồng. Tác giả nhận thấy quy định lặp lại như trên là không cần thiết, gây khó hiểu. Vì vậy, đề nghị xem xét, biên tập lại theo hướng: “... Đối với trường hợp Hội đồng tư vấn thẩm định, Hội đồng thẩm định được thành lập theo quy định tại khoản 1 Điều này, đại diện Sở Tư pháp không quá 1/3 tổng số thành viên Hội đồng”.

(ii) Tại khoản 17 Điều 1 dự thảo Nghị định (dự kiến sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 50 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP) quy định: “Hội đồng gồm Chủ tịch là lãnh đạo Sở Tư pháp, Thư ký là đại diện Sở Tư pháp và các thành viên là đại diện các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cơ quan, tổ chức khác có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học. Tổng số thành viên của Hội đồng do Giám đốc Sở Tư pháp quyết định. Đối với trường hợp thẩm định dự thảo có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoặc do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo thì đại diện Sở Tư pháp không quá 1/3 tổng số thành viên Hội đồng”. Với quy định được dự kiến nêu trên là chưa rõ thư ký là đại diện Sở Tư pháp có đóng vai trò là thành viên Hội đồng hay không? Và vì chưa rõ thư ký là đại diện Sở Tư pháp có đóng vai trò là thành viên Hội đồng hay không nên cũng chưa rõ thư ký là đại diện Sở Tư pháp có chịu sự điều chỉnh của quy định đại diện Sở Tư pháp không quá 1/3 tổng số thành viên Hội đồng hay không? Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo xem xét, chỉnh lý lại để cụ thể hóa vai trò của thư ký Hội đồng trong trường hợp nêu trên.

(iii) Điểm d khoản 3 và khoản 4 Điều 51 Nghị định số 43/2016/NĐ-CP (dự kiến sửa đổi, bổ sung theo khoản 18 Điều 1 dự thảo Nghị định) quy định Chủ tịch Hội đồng kết luận và nêu rõ ý kiến về việc dự thảo đủ điều kiện hoặc không đủ điều kiện trình UBND cấp tỉnh; thư ký Hội đồng trình Chủ tịch Hội đồng ký Báo cáo thẩm định. Như vậy, với quy định trên, Hội đồng thẩm định và Hội đồng tư vấn thẩm định đều kết luận dự thảo đủ hoặc chưa đủ điều kiện trình. Tuy nhiên, về bản chất, Hội đồng tư vấn thẩm định dự thảo Nghị quyết chỉ giữ vài trò “tư vấn thẩm định” mà không thẩm định, không quyết định dự thảo đủ điều kiện hoặc không đủ điều kiện trình UBND cấp tỉnh. Khi Hội đồng tư vấn thẩm định chỉ giữ vai trò “tư vấn thẩm định” thì yêu cầu đặt ra phải tiếp tục phải có Hội đồng/đơn vị giữ vai trò thẩm định trên cơ sở “tư vấn thẩm định” của Hội đồng tư vấn thẩm định. Từ những vấn đề nêu trên, đề nghị nghiên cứu, quy định theo hướng, khi có báo cáo của Hội đồng tư vấn thẩm định, cơ quan thẩm định nghiên cứu, tham khảo báo cáo của Hội đồng tư vấn thẩm định để xây dựng báo cáo thẩm định. Đối với dự thảo do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo thì trong hồ sơ trình chỉ cần báo cáo tư vấn thẩm định.

Thứ năm, theo quy định tại khoản 1 Điều 103 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (dự kiến sửa đổi, bổ sung tại khoản 21 Điều 1 dự thảo), văn bản được kiểm tra là các văn bản sau xác định có dấu hiệu trái luật, gồm thông tư, thông tư liên tịch, nghị quyết, quyết định, văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức VBQPPL… Tác giả nhận thấy, quy định trên là chưa hợp lý, văn bản chỉ xác định được có dấu hiệu trái pháp luật sau khi kiểm tra. Nói cách khác, phải thông qua kiểm tra mới xác định được văn bản có dấu hiệu trái hay không. Vì vậy, đề nghị xem xét, giữ nguyên như quy định hiện hành.

Thứ sáu, tại khoản 19 Điều 1 dự thảo Nghị định (dự kiến sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 64 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) quy định: “Đối với văn bản ban hành kèm theo văn bản khác, thì văn bản được ban hành kèm theo phải được đóng dấu treo của cơ quan ban hành văn bản”. Tác giả nhận thấy, Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định hệ thống VBQPPL do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành. Do đó, việc cơ quan chủ trì soạn thảo quy định đối với văn bản ban hành kèm theo văn bản khác, thì văn bản được ban hành kèm theo phải được đóng dấu treo của chỉ cơ quan ban hành văn bản là chưa đầy đủ (Ví dụ: Văn bản do Thủ tướng Chính phủ ban hành thì phải đóng dấu của Thủ tướng Chính phủ). Vì vậy, đề nghị nghiên cứu, bổ sung cho đầy đủ, phù hợp với thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ bảy, tác giả cho rằng để đảm bảo chính xác, thống nhất, phù hợp với các điều đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 154/2020/NĐ-CP, đề nghị rà soát, chỉnh lý tên gọi một số khoản của Điều 1 dự thảo Nghị định (một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP chưa được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 154/2020/NĐ-CP nhưng vẫn có tên là “… được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP”).

ThS. Phạm Văn Chung

Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum


[1] Theo Quyết định số 407/QĐ-TTg ngày 30/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng VBQPPL giai đoạn 2022 - 2027” thì Đề án được áp dụng đối với các dự thảo chính sách có đủ các tiêu chí sau: (i) Là các chính sách được ban hành trong các VBQPPL mà Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định phải lập đề nghị xây dựng VBQPPL trước khi tiến hành soạn thảo, trừ các nội dung thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật; (ii) Tác động trực tiếp làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của người dân, tổ chức, doanh nghiệp; (iii) Được xác định là những vấn đề khó, nhạy cảm, dư luận xã hội quan tâm hoặc có nhiều ý kiến khác nhau về nội dung dự thảo chính sách; (iv) Chính sách có tác động trên phạm vi cả nước hoặc trên phạm vi toàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Bên cạnh đó, ngoài các dự thảo chính sách nêu trên, các cơ quan chủ trì soạn thảo VBQPPL căn cứ nội dung dự thảo chính sách hoặc dự thảo quy định, yêu cầu và điều kiện thực tiễn, chủ động thực hiện việc truyền thông các chính sách do mình tham mưu xây dựng hoặc trực tiếp ban hành.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: