Thứ hai 21/09/2026 00:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số ý kiến đối với dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Việc ban hành nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (Nghị định số 154/2020/NĐ-CP) là rất cần thiết, cấp bách, bởi vì, qua quá trình triển khai dù đã thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế, bất cập cần sớm sửa đổi, bổ sung hoàn thiện để nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, ban hành, kiểm tra, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL).

Để góp phần hoàn thiện văn bản pháp lý quan trọng này, tác giả có một số ý kiến như sau:

Thứ nhất, theo dự kiến tại điểm a khoản 5 Điều 1 Dự thảo (sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 10 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP), Hồi đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh có thể quyết định việc gửi hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL đến bộ, cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực có liên quan để lấy ý kiến. Theo quy định, hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL là nghị quyết của HĐND cấp tỉnh được Thường trực HĐND cấp tỉnh xem xét, quyết định việc xây dựng. Bên cạnh đó, khi quy định HĐND quyết định việc gửi hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL để lấy ý kiến thì nội dung này phải đưa vào kỳ họp (họp thường kỳ hoặc chuyên đề) của HĐND, làm kéo dài thời gian xây dựng, ban hành văn bản. Vì vậy, đề nghị xem xét quy định theo hướng Thường trực HĐND cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh có thể quyết định việc gửi hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL đến bộ, cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực có liên quan để lấy ý kiến.

Thứ hai, tại điểm b khoản 5 Điều 1 dự thảo (sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 10 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) quy định: “Trước khi gửi hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL để thẩm định, cơ quan lập đề nghị phải đăng tải Bản tổng hợp, giải trình tiếp thu ý kiến trên Công thông tin điện tử của Chính phủ, Cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương...”. Quy định trên hướng tới mục đích làm tăng tính minh bạch của quy định được dự kiến, cũng như làm tăng trách nhiệm giải trình của cơ quan chủ trì soạn thảo. Tuy nhiên, cũng đồng thời làm tăng thời gian xây dựng văn bản nói chung, thời gian lập đề nghị xây dựng văn bản nói riêng. Vì vậy, theo tác giả, đề nghị xem xét, quy định theo hướng cùng với việc gửi hồ sơ đề nghị để thẩm định, cơ quan lập đề nghị phải đề nghị đăng tải bản tổng hợp, giải trình tiếp thu ý kiến trên cổng thông tin điện tử của Chính phủ, cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; đăng tải trên cổng thông tin hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan lập đề nghị.

Thứ ba, tại điểm c, khoản 5 Điều 1 dự thảo Nghị định (dự kiến bổ sung khoản 7 vào Điều 10 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) quy định: “Cơ quan chủ trì lập đề nghị xây dựng VBQPPL có trách nhiệm truyền thông nội dung chính sách trong quá trình lập đề nghị xây dựng VBQPPL”. Với quy định dự kiến nêu trên được hiểu, cơ quan chủ trì lập đề nghị xây dựng VBQPPL có trách nhiệm truyền thông tất cả nội dung chính sách trong quá trình lập đề nghị xây dựng VBQPPL. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy, đối với chính sách có nội dung thuộc bí mật nhà nước thì không thực hiện việc truyền thông theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Bên cạnh đó, khi cơ quan chủ trì soạn thảo dự kiến tham mưu quy định truyền thông tất cả nội dung chính sách trong quá trình lập đề nghị xây dựng VBQPPL thì cũng cần nghiên cứu, bổ sung các quy định khác có liên quan làm cơ sở tổ chức thi hành, đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ trong quá trình thực hiện (như hình thức truyền thông, nội dung thể hiện hoạt động truyền thông dự thảo chính sách trong thành phần hồ sơ đề nghị xây dựng, ban hành VBQPPL…); đồng thời, thuyết minh cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn và sự cần thiết ban hành quy định dự kiến nêu trên[1].

Thứ tư, đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét lại nội dung quy định tại điểm b, khoản 10 Điều 1 dự thảo Nghị định (bổ sung khoản 5 vào Điều 25 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) về trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo trong truyền thông nội dung cơ bản của dự án, dự thảo VBQPPL trong giai đoạn lấy ý kiến.

Thứ năm, liên quan đến trách nhiệm của Sở Tư pháp trong tổ chức họp tư vấn thẩm định; thành lập và hoạt động của Hội đồng tư vấn thẩm định, Hội đồng thẩm định; cuộc họp của Hội đồng tư vấn thẩm định, Hội đồng thẩm định dự kiến tại điểm a khoản 16, khoản 17, khoản 18 Điều 1 dự thảo Nghị định (dự kiến sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 49 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP; Điều 50 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP; Điều 51 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP), theo tác giả, cơ quan chủ trì soạn thảo cần nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề sau:

(i) Tại khoản 17 Điều 1 dự thảo Nghị định (dự kiến sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 50 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP) quy định Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định, Hội đồng thẩm định trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 50 (dự kiến sửa đổi, bổ sung theo khoản 17 Điều 1 dự thảo).

Trên thực tế, để thành lập được Hội đồng thẩm định, Hội đồng tư vấn thẩm định mất rất nhiều thời gian; nhiều cơ quan không cử thành viên tham gia Hội đồng; ý kiến thành viên Hội đồng chủ yếu là của thành viên đại diện Sở Tư pháp... Vì vậy, để đảm bảo tính linh hoạt, đảm bảo thời hạn thẩm định (đặc biệt thẩm định các dự thảo được xây dựng, ban hành theo trình tự thủ tục rút gọn) đề nghị cân nhắc quy định theo hướng: Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm thành lập Hội đồng thẩm định, Hội đồng tư vấn thẩm định đối với dự thảo do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo; xem xét, quyết định thành lập Hội đồng thẩm định, Hội đồng tư vấn thẩm định đối với dự thảo có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực.

Ngoài ra, khoản 1 Điều 50 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (dự kiến sửa đổi, bổ sung theo khoản 17 Điều 1 dự thảo) đã quy định Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định, Hội đồng thẩm định trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 50, tuy nhiên, khoản 2 Điều 50 (dự kiến sửa đổi, bổ sung theo khoản 17 Điều 1 dự thảo) tiếp tục quy định: Đối với trường hợp thẩm định dự thảo có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoặc do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo thì đại diện Sở Tư pháp không quá 1/3 tổng số thành viên Hội đồng. Tác giả nhận thấy quy định lặp lại như trên là không cần thiết, gây khó hiểu. Vì vậy, đề nghị xem xét, biên tập lại theo hướng: “... Đối với trường hợp Hội đồng tư vấn thẩm định, Hội đồng thẩm định được thành lập theo quy định tại khoản 1 Điều này, đại diện Sở Tư pháp không quá 1/3 tổng số thành viên Hội đồng”.

(ii) Tại khoản 17 Điều 1 dự thảo Nghị định (dự kiến sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 50 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP) quy định: “Hội đồng gồm Chủ tịch là lãnh đạo Sở Tư pháp, Thư ký là đại diện Sở Tư pháp và các thành viên là đại diện các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cơ quan, tổ chức khác có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học. Tổng số thành viên của Hội đồng do Giám đốc Sở Tư pháp quyết định. Đối với trường hợp thẩm định dự thảo có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoặc do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo thì đại diện Sở Tư pháp không quá 1/3 tổng số thành viên Hội đồng”. Với quy định được dự kiến nêu trên là chưa rõ thư ký là đại diện Sở Tư pháp có đóng vai trò là thành viên Hội đồng hay không? Và vì chưa rõ thư ký là đại diện Sở Tư pháp có đóng vai trò là thành viên Hội đồng hay không nên cũng chưa rõ thư ký là đại diện Sở Tư pháp có chịu sự điều chỉnh của quy định đại diện Sở Tư pháp không quá 1/3 tổng số thành viên Hội đồng hay không? Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo xem xét, chỉnh lý lại để cụ thể hóa vai trò của thư ký Hội đồng trong trường hợp nêu trên.

(iii) Điểm d khoản 3 và khoản 4 Điều 51 Nghị định số 43/2016/NĐ-CP (dự kiến sửa đổi, bổ sung theo khoản 18 Điều 1 dự thảo Nghị định) quy định Chủ tịch Hội đồng kết luận và nêu rõ ý kiến về việc dự thảo đủ điều kiện hoặc không đủ điều kiện trình UBND cấp tỉnh; thư ký Hội đồng trình Chủ tịch Hội đồng ký Báo cáo thẩm định. Như vậy, với quy định trên, Hội đồng thẩm định và Hội đồng tư vấn thẩm định đều kết luận dự thảo đủ hoặc chưa đủ điều kiện trình. Tuy nhiên, về bản chất, Hội đồng tư vấn thẩm định dự thảo Nghị quyết chỉ giữ vài trò “tư vấn thẩm định” mà không thẩm định, không quyết định dự thảo đủ điều kiện hoặc không đủ điều kiện trình UBND cấp tỉnh. Khi Hội đồng tư vấn thẩm định chỉ giữ vai trò “tư vấn thẩm định” thì yêu cầu đặt ra phải tiếp tục phải có Hội đồng/đơn vị giữ vai trò thẩm định trên cơ sở “tư vấn thẩm định” của Hội đồng tư vấn thẩm định. Từ những vấn đề nêu trên, đề nghị nghiên cứu, quy định theo hướng, khi có báo cáo của Hội đồng tư vấn thẩm định, cơ quan thẩm định nghiên cứu, tham khảo báo cáo của Hội đồng tư vấn thẩm định để xây dựng báo cáo thẩm định. Đối với dự thảo do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo thì trong hồ sơ trình chỉ cần báo cáo tư vấn thẩm định.

Thứ năm, theo quy định tại khoản 1 Điều 103 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (dự kiến sửa đổi, bổ sung tại khoản 21 Điều 1 dự thảo), văn bản được kiểm tra là các văn bản sau xác định có dấu hiệu trái luật, gồm thông tư, thông tư liên tịch, nghị quyết, quyết định, văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức VBQPPL… Tác giả nhận thấy, quy định trên là chưa hợp lý, văn bản chỉ xác định được có dấu hiệu trái pháp luật sau khi kiểm tra. Nói cách khác, phải thông qua kiểm tra mới xác định được văn bản có dấu hiệu trái hay không. Vì vậy, đề nghị xem xét, giữ nguyên như quy định hiện hành.

Thứ sáu, tại khoản 19 Điều 1 dự thảo Nghị định (dự kiến sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 64 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) quy định: “Đối với văn bản ban hành kèm theo văn bản khác, thì văn bản được ban hành kèm theo phải được đóng dấu treo của cơ quan ban hành văn bản”. Tác giả nhận thấy, Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định hệ thống VBQPPL do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành. Do đó, việc cơ quan chủ trì soạn thảo quy định đối với văn bản ban hành kèm theo văn bản khác, thì văn bản được ban hành kèm theo phải được đóng dấu treo của chỉ cơ quan ban hành văn bản là chưa đầy đủ (Ví dụ: Văn bản do Thủ tướng Chính phủ ban hành thì phải đóng dấu của Thủ tướng Chính phủ). Vì vậy, đề nghị nghiên cứu, bổ sung cho đầy đủ, phù hợp với thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ bảy, tác giả cho rằng để đảm bảo chính xác, thống nhất, phù hợp với các điều đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 154/2020/NĐ-CP, đề nghị rà soát, chỉnh lý tên gọi một số khoản của Điều 1 dự thảo Nghị định (một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP chưa được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 154/2020/NĐ-CP nhưng vẫn có tên là “… được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP”).

ThS. Phạm Văn Chung

Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum


[1] Theo Quyết định số 407/QĐ-TTg ngày 30/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng VBQPPL giai đoạn 2022 - 2027” thì Đề án được áp dụng đối với các dự thảo chính sách có đủ các tiêu chí sau: (i) Là các chính sách được ban hành trong các VBQPPL mà Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định phải lập đề nghị xây dựng VBQPPL trước khi tiến hành soạn thảo, trừ các nội dung thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật; (ii) Tác động trực tiếp làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của người dân, tổ chức, doanh nghiệp; (iii) Được xác định là những vấn đề khó, nhạy cảm, dư luận xã hội quan tâm hoặc có nhiều ý kiến khác nhau về nội dung dự thảo chính sách; (iv) Chính sách có tác động trên phạm vi cả nước hoặc trên phạm vi toàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Bên cạnh đó, ngoài các dự thảo chính sách nêu trên, các cơ quan chủ trì soạn thảo VBQPPL căn cứ nội dung dự thảo chính sách hoặc dự thảo quy định, yêu cầu và điều kiện thực tiễn, chủ động thực hiện việc truyền thông các chính sách do mình tham mưu xây dựng hoặc trực tiếp ban hành.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: