Thứ bảy 06/12/2025 07:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số ý kiến đối với dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Việc ban hành nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (Nghị định số 154/2020/NĐ-CP) là rất cần thiết, cấp bách, bởi vì, qua quá trình triển khai dù đã thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế, bất cập cần sớm sửa đổi, bổ sung hoàn thiện để nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, ban hành, kiểm tra, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL).

Để góp phần hoàn thiện văn bản pháp lý quan trọng này, tác giả có một số ý kiến như sau:

Thứ nhất, theo dự kiến tại điểm a khoản 5 Điều 1 Dự thảo (sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 10 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP), Hồi đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh có thể quyết định việc gửi hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL đến bộ, cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực có liên quan để lấy ý kiến. Theo quy định, hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL là nghị quyết của HĐND cấp tỉnh được Thường trực HĐND cấp tỉnh xem xét, quyết định việc xây dựng. Bên cạnh đó, khi quy định HĐND quyết định việc gửi hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL để lấy ý kiến thì nội dung này phải đưa vào kỳ họp (họp thường kỳ hoặc chuyên đề) của HĐND, làm kéo dài thời gian xây dựng, ban hành văn bản. Vì vậy, đề nghị xem xét quy định theo hướng Thường trực HĐND cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh có thể quyết định việc gửi hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL đến bộ, cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực có liên quan để lấy ý kiến.

Thứ hai, tại điểm b khoản 5 Điều 1 dự thảo (sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 10 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) quy định: “Trước khi gửi hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL để thẩm định, cơ quan lập đề nghị phải đăng tải Bản tổng hợp, giải trình tiếp thu ý kiến trên Công thông tin điện tử của Chính phủ, Cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương...”. Quy định trên hướng tới mục đích làm tăng tính minh bạch của quy định được dự kiến, cũng như làm tăng trách nhiệm giải trình của cơ quan chủ trì soạn thảo. Tuy nhiên, cũng đồng thời làm tăng thời gian xây dựng văn bản nói chung, thời gian lập đề nghị xây dựng văn bản nói riêng. Vì vậy, theo tác giả, đề nghị xem xét, quy định theo hướng cùng với việc gửi hồ sơ đề nghị để thẩm định, cơ quan lập đề nghị phải đề nghị đăng tải bản tổng hợp, giải trình tiếp thu ý kiến trên cổng thông tin điện tử của Chính phủ, cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; đăng tải trên cổng thông tin hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan lập đề nghị.

Thứ ba, tại điểm c, khoản 5 Điều 1 dự thảo Nghị định (dự kiến bổ sung khoản 7 vào Điều 10 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) quy định: “Cơ quan chủ trì lập đề nghị xây dựng VBQPPL có trách nhiệm truyền thông nội dung chính sách trong quá trình lập đề nghị xây dựng VBQPPL”. Với quy định dự kiến nêu trên được hiểu, cơ quan chủ trì lập đề nghị xây dựng VBQPPL có trách nhiệm truyền thông tất cả nội dung chính sách trong quá trình lập đề nghị xây dựng VBQPPL. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy, đối với chính sách có nội dung thuộc bí mật nhà nước thì không thực hiện việc truyền thông theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Bên cạnh đó, khi cơ quan chủ trì soạn thảo dự kiến tham mưu quy định truyền thông tất cả nội dung chính sách trong quá trình lập đề nghị xây dựng VBQPPL thì cũng cần nghiên cứu, bổ sung các quy định khác có liên quan làm cơ sở tổ chức thi hành, đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ trong quá trình thực hiện (như hình thức truyền thông, nội dung thể hiện hoạt động truyền thông dự thảo chính sách trong thành phần hồ sơ đề nghị xây dựng, ban hành VBQPPL…); đồng thời, thuyết minh cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn và sự cần thiết ban hành quy định dự kiến nêu trên[1].

Thứ tư, đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét lại nội dung quy định tại điểm b, khoản 10 Điều 1 dự thảo Nghị định (bổ sung khoản 5 vào Điều 25 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) về trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo trong truyền thông nội dung cơ bản của dự án, dự thảo VBQPPL trong giai đoạn lấy ý kiến.

Thứ năm, liên quan đến trách nhiệm của Sở Tư pháp trong tổ chức họp tư vấn thẩm định; thành lập và hoạt động của Hội đồng tư vấn thẩm định, Hội đồng thẩm định; cuộc họp của Hội đồng tư vấn thẩm định, Hội đồng thẩm định dự kiến tại điểm a khoản 16, khoản 17, khoản 18 Điều 1 dự thảo Nghị định (dự kiến sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 49 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP; Điều 50 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP; Điều 51 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP), theo tác giả, cơ quan chủ trì soạn thảo cần nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề sau:

(i) Tại khoản 17 Điều 1 dự thảo Nghị định (dự kiến sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 50 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP) quy định Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định, Hội đồng thẩm định trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 50 (dự kiến sửa đổi, bổ sung theo khoản 17 Điều 1 dự thảo).

Trên thực tế, để thành lập được Hội đồng thẩm định, Hội đồng tư vấn thẩm định mất rất nhiều thời gian; nhiều cơ quan không cử thành viên tham gia Hội đồng; ý kiến thành viên Hội đồng chủ yếu là của thành viên đại diện Sở Tư pháp... Vì vậy, để đảm bảo tính linh hoạt, đảm bảo thời hạn thẩm định (đặc biệt thẩm định các dự thảo được xây dựng, ban hành theo trình tự thủ tục rút gọn) đề nghị cân nhắc quy định theo hướng: Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm thành lập Hội đồng thẩm định, Hội đồng tư vấn thẩm định đối với dự thảo do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo; xem xét, quyết định thành lập Hội đồng thẩm định, Hội đồng tư vấn thẩm định đối với dự thảo có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực.

Ngoài ra, khoản 1 Điều 50 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (dự kiến sửa đổi, bổ sung theo khoản 17 Điều 1 dự thảo) đã quy định Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định, Hội đồng thẩm định trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 50, tuy nhiên, khoản 2 Điều 50 (dự kiến sửa đổi, bổ sung theo khoản 17 Điều 1 dự thảo) tiếp tục quy định: Đối với trường hợp thẩm định dự thảo có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoặc do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo thì đại diện Sở Tư pháp không quá 1/3 tổng số thành viên Hội đồng. Tác giả nhận thấy quy định lặp lại như trên là không cần thiết, gây khó hiểu. Vì vậy, đề nghị xem xét, biên tập lại theo hướng: “... Đối với trường hợp Hội đồng tư vấn thẩm định, Hội đồng thẩm định được thành lập theo quy định tại khoản 1 Điều này, đại diện Sở Tư pháp không quá 1/3 tổng số thành viên Hội đồng”.

(ii) Tại khoản 17 Điều 1 dự thảo Nghị định (dự kiến sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 50 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP) quy định: “Hội đồng gồm Chủ tịch là lãnh đạo Sở Tư pháp, Thư ký là đại diện Sở Tư pháp và các thành viên là đại diện các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cơ quan, tổ chức khác có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học. Tổng số thành viên của Hội đồng do Giám đốc Sở Tư pháp quyết định. Đối với trường hợp thẩm định dự thảo có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoặc do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo thì đại diện Sở Tư pháp không quá 1/3 tổng số thành viên Hội đồng”. Với quy định được dự kiến nêu trên là chưa rõ thư ký là đại diện Sở Tư pháp có đóng vai trò là thành viên Hội đồng hay không? Và vì chưa rõ thư ký là đại diện Sở Tư pháp có đóng vai trò là thành viên Hội đồng hay không nên cũng chưa rõ thư ký là đại diện Sở Tư pháp có chịu sự điều chỉnh của quy định đại diện Sở Tư pháp không quá 1/3 tổng số thành viên Hội đồng hay không? Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo xem xét, chỉnh lý lại để cụ thể hóa vai trò của thư ký Hội đồng trong trường hợp nêu trên.

(iii) Điểm d khoản 3 và khoản 4 Điều 51 Nghị định số 43/2016/NĐ-CP (dự kiến sửa đổi, bổ sung theo khoản 18 Điều 1 dự thảo Nghị định) quy định Chủ tịch Hội đồng kết luận và nêu rõ ý kiến về việc dự thảo đủ điều kiện hoặc không đủ điều kiện trình UBND cấp tỉnh; thư ký Hội đồng trình Chủ tịch Hội đồng ký Báo cáo thẩm định. Như vậy, với quy định trên, Hội đồng thẩm định và Hội đồng tư vấn thẩm định đều kết luận dự thảo đủ hoặc chưa đủ điều kiện trình. Tuy nhiên, về bản chất, Hội đồng tư vấn thẩm định dự thảo Nghị quyết chỉ giữ vài trò “tư vấn thẩm định” mà không thẩm định, không quyết định dự thảo đủ điều kiện hoặc không đủ điều kiện trình UBND cấp tỉnh. Khi Hội đồng tư vấn thẩm định chỉ giữ vai trò “tư vấn thẩm định” thì yêu cầu đặt ra phải tiếp tục phải có Hội đồng/đơn vị giữ vai trò thẩm định trên cơ sở “tư vấn thẩm định” của Hội đồng tư vấn thẩm định. Từ những vấn đề nêu trên, đề nghị nghiên cứu, quy định theo hướng, khi có báo cáo của Hội đồng tư vấn thẩm định, cơ quan thẩm định nghiên cứu, tham khảo báo cáo của Hội đồng tư vấn thẩm định để xây dựng báo cáo thẩm định. Đối với dự thảo do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo thì trong hồ sơ trình chỉ cần báo cáo tư vấn thẩm định.

Thứ năm, theo quy định tại khoản 1 Điều 103 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (dự kiến sửa đổi, bổ sung tại khoản 21 Điều 1 dự thảo), văn bản được kiểm tra là các văn bản sau xác định có dấu hiệu trái luật, gồm thông tư, thông tư liên tịch, nghị quyết, quyết định, văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức VBQPPL… Tác giả nhận thấy, quy định trên là chưa hợp lý, văn bản chỉ xác định được có dấu hiệu trái pháp luật sau khi kiểm tra. Nói cách khác, phải thông qua kiểm tra mới xác định được văn bản có dấu hiệu trái hay không. Vì vậy, đề nghị xem xét, giữ nguyên như quy định hiện hành.

Thứ sáu, tại khoản 19 Điều 1 dự thảo Nghị định (dự kiến sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 64 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) quy định: “Đối với văn bản ban hành kèm theo văn bản khác, thì văn bản được ban hành kèm theo phải được đóng dấu treo của cơ quan ban hành văn bản”. Tác giả nhận thấy, Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định hệ thống VBQPPL do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành. Do đó, việc cơ quan chủ trì soạn thảo quy định đối với văn bản ban hành kèm theo văn bản khác, thì văn bản được ban hành kèm theo phải được đóng dấu treo của chỉ cơ quan ban hành văn bản là chưa đầy đủ (Ví dụ: Văn bản do Thủ tướng Chính phủ ban hành thì phải đóng dấu của Thủ tướng Chính phủ). Vì vậy, đề nghị nghiên cứu, bổ sung cho đầy đủ, phù hợp với thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ bảy, tác giả cho rằng để đảm bảo chính xác, thống nhất, phù hợp với các điều đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 154/2020/NĐ-CP, đề nghị rà soát, chỉnh lý tên gọi một số khoản của Điều 1 dự thảo Nghị định (một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP chưa được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 154/2020/NĐ-CP nhưng vẫn có tên là “… được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP”).

ThS. Phạm Văn Chung

Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum


[1] Theo Quyết định số 407/QĐ-TTg ngày 30/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng VBQPPL giai đoạn 2022 - 2027” thì Đề án được áp dụng đối với các dự thảo chính sách có đủ các tiêu chí sau: (i) Là các chính sách được ban hành trong các VBQPPL mà Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định phải lập đề nghị xây dựng VBQPPL trước khi tiến hành soạn thảo, trừ các nội dung thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật; (ii) Tác động trực tiếp làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của người dân, tổ chức, doanh nghiệp; (iii) Được xác định là những vấn đề khó, nhạy cảm, dư luận xã hội quan tâm hoặc có nhiều ý kiến khác nhau về nội dung dự thảo chính sách; (iv) Chính sách có tác động trên phạm vi cả nước hoặc trên phạm vi toàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Bên cạnh đó, ngoài các dự thảo chính sách nêu trên, các cơ quan chủ trì soạn thảo VBQPPL căn cứ nội dung dự thảo chính sách hoặc dự thảo quy định, yêu cầu và điều kiện thực tiễn, chủ động thực hiện việc truyền thông các chính sách do mình tham mưu xây dựng hoặc trực tiếp ban hành.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.
Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tóm tắt: Bài viết phân tích, làm rõ khái niệm người có ảnh hưởng, tình hình thực tiễn về mô hình quảng cáo thông qua người có ảnh hưởng và các hành vi quảng cáo gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những yêu cầu đặt ra về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như yêu cầu tháo gỡ những “điểm nghẽn”, “nút thắt” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng là cấp thiết, đặc biệt, dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) dự kiến được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10 vào tháng 10/2025. Trước bối cảnh đó, với vai trò là trụ cột, là nguồn lực chủ yếu để xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới, đồng thời là đội ngũ tiên phong tham gia các lĩnh vực mới, thanh niên ngành thi hành án dân sự cần tiếp tục phát huy vai trò và trách nhiệm trong việc tham gia vào công tác hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự.
Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam đối với việc thực hiện điều ước quốc tế, từ đó, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, bảo đảm công tác giám sát thực hiện điều ước quốc tế ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả.

Theo dõi chúng tôi trên: