Thứ năm 12/03/2026 22:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số ý kiến hoàn thiện chế định về người thực hiện trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hiện nay

Theo Điều 20 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 thì người thực hiện trợ giúp pháp lý là trợ giúp viên pháp lý và người tham gia trợ giúp pháp lý. Quy định này đã đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật về người thực hiện trợ giúp pháp lý. Tiếp theo đó, các văn bản dưới luật đã quy định khá đồng bộ về điều kiện, tiêu chuẩn, hình thức tham gia trợ giúp pháp lý cũng như quy định về quyền, nghĩa vụ, hoạt động và các vấn đề liên quan về người thực hiện trợ giúp pháp lý.

Tuy nhiên, qua một thời gian triển khai trên thực tiễn, bên cạnh những kết quả đạt được, chế định về người thực hiện trợ giúp pháp lý đã bộc lộ những hạn chế nhất định. Bài viết đã chỉ ra những điểm còn hạn chế về chế định người thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật hiện hành, đồng thời đưa ra những đóng góp để khắc phục những hạn chế nhằm hoàn thiện chế định về người thực hiện trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hiện nay.

Chế định về người thực hiện trợ giúp pháp lý (TGPL) đang được hoàn thiện ngày càng rõ nét, số lượng các văn bản quy phạm pháp luật có quy định liên quan đến người thực hiện TGPL được ban hành nhiều hơn, thể chế hóa những chủ trương, chính sách của Đảng về công tác TGPL. Lần đầu tiên, các quy định của pháp luật về người thực hiện TGPL được ghi nhận ở văn bản có giá trị pháp lý cao ở cấp độ luật mà các giai đoạn trước chưa đạt được. Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 đã đánh dấu một bước phát triển mới của chế định về người thực hiện TGPL. Trong đó, Luật dành toàn bộ Chương IV quy định về người thực hiện TGPL. Bên cạnh đó, Luật Luật sư được ban hành năm 2006 và lần đầu tiên, nội dung về nghĩa vụ thực hiện TGPL miễn phí của luật sư được quy định ở cấp độ luật và thay thế cho các quy định trong Pháp lệnh Luật sư năm 2001. Việc Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ghi nhận trợ giúp viên pháp lý là người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ghi nhận trợ giúp viên pháp lý là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; Luật Tố tụng hành chính năm 2015 ghi nhận trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đã tạo ra sự thống nhất về hoạt động TGPL trong tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hành chính. Có thể nói, đây là một bước tiến trong quá trình hoàn thiện quy định về tư cách tham gia tố tụng của người thực hiện TGPL ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Các văn bản dưới luật đã quy định khá đồng bộ về điều kiện, tiêu chuẩn, hình thức tham gia TGPL, quyền, nghĩa vụ, hoạt động của người thực hiện TGPL và các vấn đề khác có liên quan về người thực hiện TGPL. Về cơ bản, các quy định về người thực hiện TGPL đã bao quát được hầu hết các vấn đề về người thực hiện TGPL cần được pháp luật điều chỉnh. Tuy nhiên, chế định về người thực hiện TGPL còn bộc lộ một số điểm hạn chế sau đây:

Một là, các quy định của pháp luật về người thực hiện TGPL còn thiếu tính thống nhất, đồng bộ, thể hiện trong nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật có quy định về người thực hiện TGPL, cụ thể là:

- Về bản chất công việc của trợ giúp viên pháp lý và luật sư là giống nhau khi tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, tư vấn pháp luật hay hình thức cung cấp dịch vụ pháp lý khác cho người dân. Tuy nhiên, quy định của pháp luật hiện hành còn có sự chênh lệch về tiêu chuẩn, điều kiện giữa người thực hiện TGPL là trợ giúp viên pháp lý và luật sư (chẳng hạn, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 chưa quy định về chế độ tập sự đối với trợ giúp viên pháp lý, trong khi đó, Điều 10 Luật Luật sư năm 2006 quy định thời gian tập sự hành nghề luật sư và đã được đào tạo nghề luật sư là một trong những tiêu chuẩn của luật sư; trợ giúp viên pháp lý được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý, còn luật sư được Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp chứng chỉ hành nghề luật sư…).

- Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, thì tư vấn viên pháp luật và cộng tác viên TGPL khác (cộng tác viên không phải là luật sư) chỉ tham gia TGPL bằng hình thức tư vấn pháp luật. Tuy vậy, tiêu chuẩn, điều kiện của họ chưa được pháp luật quy định thống nhất. Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 của Chính phủ về tư vấn pháp luật, thì “tư vấn viên pháp luật là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có đủ tiêu chuẩn sau đây: a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích; b) Có bằng cử nhân luật; c) Có thời gian công tác pháp luật từ ba năm trở lên”, còn đối với cộng tác viên TGPL khác (cộng tác viên không phải là luật sư), như “người thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi” chỉ cần “có bằng trung cấp luật hoặc có thời gian làm công tác pháp luật từ ba năm trở lên hoặc có kiến thức pháp luật và có uy tín trong cộng đồng” được Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, công nhận và cấp thẻ cộng tác viên TGPL (điểm b khoản 1 Điều 22 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006).

- Theo quy định của pháp luật về TGPL hiện hành, mặc dù đội ngũ chuyên viên pháp lý của Trung tâm TGPL nhà nước đều có trình độ chuyên môn từ cử nhân luật trở lên, nhưng không được thực hiện tư vấn pháp luật cũng như các hình thức TGPL khác cho người được TGPL. Trong khi đó, cộng tác viên không phải là luật sư, thậm chí có trình độ trung cấp luật nêu trên cũng được thực hiện tư vấn pháp luật cho người được TGPL. Như vậy, việc chuyên viên pháp lý có trình độ từ cử nhân luật trở lên không được thực hiện TGPL đã và đang gây lãng phí một nguồn lực không nhỏ tham gia thực hiện TGPL cho người dân.

Sự thiếu thống nhất, đồng bộ của pháp luật về người thực hiện TGPL còn thể hiện ở việc chưa thống nhất giữa một số quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 và Luật Luật sư năm 2006, như: Nghĩa vụ thực hiện TGPL của luật sư được quy định trong Luật Luật sư còn hoạt động TGPL của tổ chức thực hiện TGPL và tổ chức tham gia TGPL được thực hiện theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý; chưa quy định rõ ràng, tách bạch giữa hoạt động TGPL theo nghĩa vụ và hoạt động TGPL tự nguyện của luật sư.

Bên cạnh đó, các văn quy phạm pháp luật dưới luật chưa hướng dẫn cụ thể việc thực hiện TGPL theo nghĩa vụ, tự nguyện của luật sư và hoạt động TGPL của tư vấn viên pháp luật.

Hai là, mặc dù Nghị định số 80/2015/NĐ-CP ngày 17/9/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2013/NĐ-CP ngày 05/02/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý (Nghị định số 80/2015/NĐ-CP) đã quy định mức bồi dưỡng mới cho luật sư thực hiện TGPL bằng hình thức tham gia tố tụng theo yêu cầu của Nhà nước1, tuy nhiên mức bồi dưỡng này vẫn còn thấp so với thực tế, đồng thời chưa có văn bản hướng dẫn kịp thời về cách tính buổi, tính thời gian để làm căn cứ khoán chi hoặc chi trả mức bồi dưỡng cho luật sư theo buổi hoặc theo thời gian làm việc, nên nhiều địa phương còn lúng túng trong việc thực hiện mức chi mới này cho người thực hiện TGPL.

Ba là, hiện nay, chưa có cơ chế thu hút các tổ chức, cá nhân tham gia TGPL, cũng như chưa có cơ chế quản lý, kiểm soát hoạt động nghĩa vụ TGPL của luật sư theo Luật Luật sư, chưa có chế tài nếu luật sư không thực hiện TGPL, do vậy, hàng năm chưa huy động được đông đảo đội ngũ luật sư cung cấp dịch vụ TGPL cho người được TGPL.

Để khắc phục những điểm hạn chế nêu trên, cần sửa đổi, bổ sung các quy định về người thực hiện TGPL của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 và các văn bản pháp luật có liên quan, cụ thể là:

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung quy định về trợ giúp viên pháp lý, chuyên viên pháp lý. Trước mắt, để bảo đảm người dân được hưởng dịch vụ pháp lý công bằng và có chất lượng, cần sửa đổi, bổ sung quy định về tiêu chuẩn của trợ giúp viên pháp lý cho tương đồng với tiêu chuẩn của luật sư hành nghề tự do như hiện nay. Đồng thời, để tạo thuận lợi cho trợ giúp viên pháp lý thực hiện TGPL, thì việc quy định Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thẩm quyền bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý là cần thiết. Bên cạnh đó, bổ sung quy định chuyên viên pháp lý được thực hiện TGPL bằng hình thức tư vấn pháp luật sẽ góp phần bổ sung nguồn lực cho đội ngũ người thực hiện TGPL đáp ứng nhu cầu TGPL ngày càng cao của nhân dân.

Thứ hai, chuyển đổi chức danh trợ giúp viên pháp lý thành luật sư công. Về lâu dài, để bảo đảm cung cấp dịch vụ pháp lý một cách chuyên nghiệp như luật sư hành nghề tự do, người dân dễ nhận diện người thực hiện TGPL, xóa đi mặc cảm trợ giúp viên pháp lý không chuyên nghiệp và thu hút được đội ngũ luật sư tham gia thực hiện TGPL, đề nghị sửa đổi, bổ sung Điều 20 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 về người thực hiện TGPL theo hướng xây dựng đội ngũ luật sư công thay thế cho trợ giúp viên pháp lý hiện nay, đồng thời vẫn bổ sung chuyên viên pháp lý làm việc ở Trung tâm TGPL nhà nước được thực hiện TGPL bằng hình thức tư vấn pháp luật như đã phân tích nêu trên. Theo hướng này, tại Trung tâm TGPL nhà nước có luật sư công và chuyên viên pháp lý là người thực hiện TGPL, được cung cấp dịch vụ pháp lý. Luật sư công là luật sư được đào tạo nghề luật sư, tập sự hành nghề luật sư như đối với luật sư hành nghề tự do hiện nay, nhưng họ là viên chức làm việc tại các Trung tâm TGPL nhà nước và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Luật sư công được cung cấp dịch vụ pháp lý thông qua tất cả các hình thức TGPL, còn chuyên viên TGPL chỉ được thực hiện TGPL bằng hình thức tư vấn pháp luật. Nguồn của đội ngũ luật sư công là trợ giúp viên pháp lý đã thực hiện TGPL, có nhiều kinh nghiệm chuyển sang (cần có quy định chuyển đổi trợ giúp viên pháp lý thành luật sư công, theo hướng sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư, trong đó quy định trợ giúp viên pháp lý là một trong những trường hợp được miễn đào tạo nghề luật sư); luật sư đang hành nghề tự do có nguyện vọng làm việc tại Trung tâm TGPL, được Trung tâm TGPL tạo điều kiện ký hợp đồng lao động và được trả lương từ ngân sách nhà nước và đội ngũ chuyên viên TGPL đủ tiêu chuẩn được đào tạo nghề luật sư, tập sự tại các tổ chức hành nghề luật sư hoặc tại Trung tâm TGPL và được cấp chứng chỉ hành nghề.

Thứ ba, về tham gia thực hiện TGPL của luật sư và tư vấn viên pháp luật cần quy định rõ ràng, cụ thể và minh bạch, cởi mở hơn, đồng bộ với pháp luật về luật sư, với pháp luật về tư vấn pháp luật theo hướng tạo khung pháp lý để họ tham gia thực hiện TGPL được nhiều nhất, huy động được nguồn lực xã hội tham gia TGPL bằng nguồn lực của chính họ (kinh phí, thời gian, công sức, chất xám...).

Thứ tư, sửa đổi điều kiện, tiêu chuẩn cộng tác viên TGPL. Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý hiện hành, điều kiện, tiêu chuẩn của cộng tác viên chưa phù hợp với thực tiễn, nhiều trường hợp chưa bảo đảm chất lượng dịch vụ TGPL cho người được TGPL. Theo khoản 1 Điều 22 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, thì cộng tác viên bao gồm 05 nhóm người: Người có bằng cử nhân luật; người có bằng đại học khác làm việc trong các ngành, nghề có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; người thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi có bằng trung cấp luật hoặc có thời gian làm công tác pháp luật từ ba năm trở lên hoặc có kiến thức pháp luật và có uy tín trong cộng đồng; luật sư; tư vấn viên pháp luật.

Để bảo đảm tính chuyên nghiệp của đội ngũ người thực hiện TGPL, nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL, thì việc quy định nâng cao mức điều kiện, tiêu chuẩn cộng tác viên TGPL là rất cần thiết. Vì vậy, tác giả đề nghị sửa đổi quy định về cộng tác viên TGPL theo hướng cộng tác viên chỉ bao gồm 03 nhóm người là: Luật sư; người có bằng cử nhân luật trở lên; người có bằng đại học khác trở lên và am hiểu pháp luật. Đối với cộng tác viên là luật sư thì được thực hiện TGPL bằng tất cả các hình thức tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, tư vấn và các hình thức khác. Còn đối với cộng tác viên khác là người có bằng cử nhân luật hoặc có bằng đại học khác và am hiểu pháp luật, thì chỉ được tham gia TGPL bằng hình thức tư vấn pháp luật.

Thứ năm, sửa đổi pháp luật có liên quan đến chế định về người thực hiện TGPL bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.

- Trước mắt, sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư theo hướng quy định trợ giúp viên pháp lý là một trong những trường hợp được miễn đào tạo nghề luật sư để có lộ trình chuyển đổi chức danh trợ giúp viên pháp lý thành luật sư công cho phù hợp.

- Về lâu dài, đề nghị sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 theo hướng điều chỉnh đồng bộ, toàn diện các hoạt động TGPL của người thực hiện TGPL hiện nay đang được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật khác nhau, cụ thể như sau: Điều chỉnh hoạt động TGPL của luật sư công làm việc trong Trung tâm TGPL nhà nước, luật sư là cộng tác viên TGPL, luật sư tham gia TGPL làm việc tại các tổ chức hành nghề luật sư, Trung tâm Tư vấn pháp luật đăng ký tham gia TGPL, hoạt động TGPL theo nghĩa vụ của luật sư (trong đó, bổ sung chế tài đối với trường hợp luật sư không thực hiện TGPL); bổ sung quy định điều chỉnh việc tham gia TGPL của luật sư hành nghề với tư cách cá nhân và quy định điều chỉnh việc tự nguyện thực hiện TGPL của các luật sư không đăng ký tham gia TGPL. Bên cạnh đó, sửa đổi Luật Luật sư theo hướng cho phép luật sư được lựa chọn tập sự hành nghề luật sư tại các Trung tâm TGPL nhà nước hoặc tổ chức hành nghề luật sư; quy định trợ giúp viên pháp lý là một trong những trường hợp được miễn đào tạo nghề luật sư để tạo cơ sở pháp lý cho việc chuyển đổi trợ giúp viên pháp lý hiện nay thành luật sư công. Quy định luật sư được lựa chọn hình thức hành nghề trong Trung tâm TGPL nhà nước với tư cách là viên chức nhà nước, đồng thời là luật sư công. Quy định rõ tư cách của luật sư công trong Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính theo hướng quy định thống nhất quyền và nghĩa vụ của luật sư hành nghề tự do và luật sư công khi tham gia tố tụng.

Thứ sáu, xã hội hóa hoạt động TGPL, huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia thực hiện TGPL, đáp ứng nhu cầu TGPL của người được TGPL. Trước mắt, cần xây dựng văn bản hướng dẫn cụ thể thực hiện chính sách xã hội hóa hoạt động TGPL theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, theo đó, có chính sách như miễn, giảm thuế cho các tổ chức hành nghề luật sư, các Trung tâm Tư vấn pháp luật tham gia thực hiện TGPL và hỗ trợ cơ sở vật chất, kinh phí thực hiện vụ việc TGPL thông qua cơ chế hợp đồng đặt hàng với Nhà nước để cung cấp dịch vụ TGPL. Đồng thời, xác định rõ cơ chế Nhà nước hỗ trợ cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện TGPL.

Để khuyến khích các tổ chức hành nghề luật sư đăng ký tham gia TGPL và các luật sư tham gia thực hiện TGPL, Liên đoàn Luật sư Việt Nam cần sớm sửa đổi Quyết định số 93/QĐ-BTV ngày 09/10/2014 của Ban Thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam hướng dẫn về nghĩa vụ thực hiện TGPL của luật sư theo hướng mỗi năm luật sư tham gia tố tụng ít nhất 01 vụ/năm và thực hiện tư vấn pháp luật 24-36 giờ/01 năm (nghĩa vụ thực hiện TGPL của luật sư theo quy định hiện nay là 08 giờ/năm); đồng thời rà soát các văn bản có liên quan, bổ sung quy định về các biện pháp xử lý đối với trường hợp luật sư không thực hiện nghĩa vụ TGPL theo quy định.

Ngoài ra, để khuyến khích, huy động các Trung tâm Tư vấn pháp luật tham gia TGPL, tác giả kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Thông tư số 01/2010/TT-BTP ngày 09/02/2010 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 của Chính phủ về tư vấn pháp luật, hướng dẫn cụ thể cơ chế bảo đảm tham gia thực hiện TGPL của các Trung tâm Tư vấn pháp luật. Đồng thời, có cơ chế thu hút, động viên hội viên là luật sư, chuyên gia pháp lý làm cộng tác viên tư vấn pháp luật với tinh thần trách nhiệm, tích cực tham gia tư vấn pháp luật và TGPL. Để khuyến khích luật sư, tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên TGPL tích cực tham gia thực hiện TGPL và thực hiện vụ việc TGPL bảo đảm chất lượng, cần sửa đổi một số văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 như: Nghị định số 80/2015/NĐ-CP, Nghị định số 14/2013/NĐ-CP..., trong đó sửa đổi các quy định về chế độ bồi dưỡng vụ việc TGPL cho cộng tác viên TGPL theo mức cao hơn so với mức quy định hiện hành.

Bên cạnh đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho người thực hiện TGPL thực hiện các thủ tục thanh toán vụ việc TGPL, cần sớm sửa đổi Thông tư số 18/2013/TT-BTP ngày 20/11/2013 của Bộ Tư pháp hướng dẫn cách tính thời gian thực hiện và thủ tục thanh toán chi phí thực hiện vụ việc TGPL theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính; quy định cụ thể về tính chất, nội dung vụ việc, cách tính thời gian để làm căn cứ khoán chi hoặc chi trả mức bồi dưỡng cho luật sư, cộng tác viên TGPL theo thời gian.

Trần Văn Tùy
Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

1. Khoản 4 Điều 1 Nghị định số 80/2015/NĐ-CP quy định: “Trong trường hợp thực hiện trợ giúp pháp lý bằng hình thức tham gia tố tụng thì mức bồi dưỡng được trả cho luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo yêu cầu của Nhà nước là 500.000 đồng/01 buổi làm việc hoặc khoán chi theo vụ việc với mức tối thiểu bằng 03 tháng lương cơ sở và mức tối đa là 10 tháng lương cơ sở (tùy tính chất, nội dung vụ việc).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: