Thứ tư 23/09/2026 10:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội Việt Nam hiện nay

Bài viết này nêu lên một số vấn đề ảnh hưởng tới chất lượng đại biểu Quốc hội Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện nay; đồng thời, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội trong thời gian tới.

Những khuyết điểm, yếu kém của một bộ phận không nhỏ cán bộ và những hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ cũng là một nguyên nhân chủ yếu làm cho đất nước phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và mong muốn của chúng ta, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước[1]. Quốc hội khóa XIV chưa bầu đủ 500 đại biểu, vẫn còn trường hợp sau khi trúng cử phát hiện không đủ tư cách đại biểu Quốc hội[2] (ĐBQH) và vấn đề nhức nhối hơn cả là mới đến kỳ họp thứ 5 mà đã có tới 06 ĐBQH miễn nhiệm, bãi nhiệm do vi phạm. Chính vì thế, việc xây dựng đội ngũ cán bộ ĐBQH phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả.

1. Một số vấn đề ảnh hưởng tới chất lượng đại biểu Quốc hội hiện nay

Thứ nhất, tiêu chuẩn ĐBQH hiện nay khá chung chung, không cụ thể, khó xác định, mang tính định tính hơn là định lượng, cử tri rất khó xác định. Công việc bầu cử ĐBQH là của cử tri, còn những công việc trước đó để có được danh sách bầu cử là của các cơ quan có thẩm quyền.

Đối với tiêu chí: “1. Trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; 2. Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác” (Điều 22 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014) đang còn rất chung chung, trừu tượng. Cử tri rất khó biết được ứng viên đáp ứng các tiêu chí trên là như thế nào? Chỉ có những người làm cùng cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc cùng địa bàn cư trú với ứng viên trong phạm vi làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư thì mới có thể có cách nhìn toàn diện về tiêu chí đối với ứng viên. Mặt khác, quá trình bầu cử đã có giai đoạn giới thiệu, nhận xét, hiệp thương để đánh giá về ứng viên ĐBQH đối của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Đó chính là những chủ thể có đánh giá ứng viên về các tiêu chí trên là phù hợp, hiệu quả nhất.

Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội…” (Điều 27) và “có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội” (khoản 3 Điều 22 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014). Theo Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), người đủ 21 tuổi, trình độ cao nhất nếu hoàn thành được cũng mới chỉ là trình độ đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân (trong khi đó, hệ thống giáo dục quốc dân còn có đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ). Nếu đối chiếu hai quy định trên (Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 về tiêu chí ứng cử ĐBQH), thì đối với công dân đủ 21 tuổi nếu đạt trình độ đại học có chuyên môn, thì sẽ chưa có kinh nghiệm công tác và tất nhiên uy tín để thực hiện nhiệm vụ sẽ không đáp ứng được. Tuổi 21 có sức khỏe, có ước mơ, song tích lũy kiến thức xã hội chưa nhiều, kiến thức văn hóa còn ít, nhận thức chính trị còn yếu, tâm sinh lý chưa ổn định. Dẫu biết rằng, việc quy định trong văn bản quy phạm pháp luật là mang tính dự báo, tính khuôn mẫu, tính phổ biến và các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giới thiệu, hiệp thương ứng viên bầu cử ĐBQH sẽ tùy tình hình thực tế để thực hiện. Tuy nhiên, quy định trong văn bản quy phạm pháp luật cũng cần mang tính hiệu quả, khả thi để thực hiện trên thực tế. Theo kết quả bầu cử ĐBQH khóa IV, đại biểu dưới 40 tuổi chỉ có 71 người chiếm tỉ lệ 14,3%[3]. Trong khi đó, ĐBQH trẻ tuổi nhất của khóa XIV là ở độ tuổi 24[4]. Như vậy, pháp luật quy định công dân đủ 21 tuổi có quyền ứng cử có phạm vi rộng, không mang tính khả thi. Đưa một quy định không có tính khả thi, sẽ dễ khiến dư luận quốc tế “phàn nàn”, đó là hiệu ứng không tốt trong mối quan hệ quốc tế.

“Văn hóa” là từ có khái niệm rất rộng, sâu sắc, đó là “tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”[5]. Để cử tri nắm rõ được tiêu chí “có trình độ văn hóa” khi bầu ứng viên ĐBQH là vấn đề rất khó khăn và cử tri phải có trình độ nhất định. Theo số liệu thống kê, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ở Việt Nam cho đến quý II năm 2016 không có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm gần 79,4% tổng số lực lượng lao động[6]. Đây cũng là số người có thể nằm trong độ tuổi cử tri đi bầu ứng viên ĐBQH. Từ đó, chúng ta thấy có độ chênh tiêu chí ứng viên ĐBQH giữa các văn bản quy phạm pháp luật cũng như tính khả thi của các tiêu chí đó.

Mặt khác, về trình độ ĐBQH khóa XIV: Trên đại học là 310 người (62,50%); đại học là 180 người (36,30%); dưới đại học là 6 người (1,20%)[7]. Trước đó, ĐBQH khóa XIII: Đại biểu có trình độ ĐH là 263 (52,6%), trên đại học là 228 (45,6%)[8]. Như vậy, về trình độ ĐBQH các khóa gần đây đều từ đại học trở lên chiếm tỉ lệ rất cao trong QH. Nước ta nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, cơ hội tiếp cận học tập, bồi dưỡng trình độ chuyên môn rất rộng mở, trình độ dân trí ngày càng cao… đó là một trong những lý do cần thiết phải thay đổi tiêu chí trình độ văn hóa, chuyên môn của ĐBQH.

Thứ hai, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định: “Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách dành toàn bộ thời gian làm việc để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu tại cơ quan của Quốc hội hoặc tại Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương” (khoản 1 Điều 24) và “thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, kiến nghị của cử tri” (khoản 1 Điều 27). Tuy nhiên, công tác tiếp xúc cử tri thời gian qua được các ĐBQH thực hiện rất ít. Theo Báo cáo kết quả giám sát việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri (Quốc hội khóa XIV) gửi đến kỳ họp thứ 4, thông qua 1.383 cuộc tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp thứ 4, các đoàn đại biểu đã tiếp nhận, tổng hợp được 2.099 kiến nghị của cử tri[9], bình quân mỗi ĐBQH chưa được 03 cuộc tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp. Như vậy, ĐBQH chỉ tham dự những cuộc tiếp xúc cử tri trước và sau phiên họp thường kỳ của Quốc hội. Rõ ràng là việc tiếp xúc cử tri của ĐBQH rất ít, điều này tạo ra sự khó khăn khi đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri.

Thứ ba, so với các nước trên thế giới, dựa trên tỉ lệ ĐBQH trên tổng số dân quốc gia, Việt Nam có số lượng ĐBQH tương đối cao. Chẳng hạn, Hạ nghị viện Hoa Kỳ gồm các thành viên do nhân dân các tiểu bang lựa chọn, số lượng Hạ nghị sĩ phân chia theo quy mô dân số, có số thành viên là 435[10], trong đó, số dân là 325.820.587 người[11]; Duma - Quốc gia Liên Bang Nga có 450 đại biểu[12] trong tổng số dân là 143.392.941 người[13]; Quốc hội Trung Quốc có 2.992 đại biểu[14] trong tổng số dân là 1.386.594.980 người[15]. Trong khi đó, Việt Nam chúng ta có tới 496 đại biểu trong tổng số hơn 90.000.000 người dân. So với các nước, số lượng ĐBQH Việt Nam là cao. Số lượng đại biểu của chúng ta cao so với số dân, điều đó ảnh hưởng tới chất lượng ĐBQH, đến số lượng ĐBQH chuyên trách tới nguồn lực phẩn bổ cho các ĐBQH, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Quốc hội, đến vai trò cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

Thứ tư, theo báo cáo kết quả bầu cử Quốc hội khóa XIV, đại biểu do các cơ quan, tổ chức ở trung ương giới thiệu là 197 người thì chỉ có 182 người trúng cử[16]. Những người không trúng cử thuộc 2 khối Quốc hội và Mặt trận[17]. Những người này đều được trung ương giới thiệu về địa phương để cử tri địa phương bầu. Điều này đặt ra vấn đề, tại sao những người được giới thiệu đó lại không được cử tri địa phương bầu cử? Nếu xét về trình độ, uy tín của họ thì sẽ thường là được đảm bảo. Vậy có phải cử tri địa phương không biết rõ về những người này mà chỉ theo dõi thông tin cơ bản qua danh sách gửi về? Hay do vấn đề về lợi ích người dân địa phương? Nếu mang ra so sánh những người được trung ương giới thiệu với ứng viên tại địa phương thì đương nhiên cử tri sẽ ưu tiên người của địa phương hơn. Từ đó, có thể thấy, Quốc hội là cơ quan hoạt động ở trung ương, có rất nhiều đại biểu hoạt động ở trung ương nhưng chúng ta lại đưa những người đó cho cử tri ở địa phương xa xôi bầu, liệu có phù hợp hay không? Cử tri địa phương rõ ràng biết rất ít về thông tin nhân thân ứng viên đó. Nếu không có chương trình hành động cụ thể, lời hứa cụ thể gì giúp ích cho cử tri địa phương thì liệu có được cử tri địa phương bầu? Do vậy, chúng ta cần có những tính toán, bước đi mang tính cụ thể, thiết thực, hiệu quả hơn.

Thứ năm, trong cơ cấu ĐBQH Việt Nam khóa XIV (đại biểu ngoài Đảng chỉ chiếm 4,2%)[18] và cả những khóa trước đây tỉ lệ đại biểu là đảng viên chiếm phần lớn (khóa XIII đại biểu ngoài Đảng chỉ có 8,4% tổng số đại biểu)[19]. Dẫu biết rằng, đại biểu là đảng viên là lực lượng tiến bộ nhất trong xã hội, việc lựa chọn ứng viên là đảng viên không sai. Tuy nhiên, lại không hoàn toàn phù hợp. Bởi vì, ĐBQH là đại diện cho rất nhiều tầng lớp, giai tầng trong xã hội chứ không chỉ có mình đội ngũ trong đảng. Dẫu rằng, theo quy định của pháp luật thì không có tiêu chí ĐBQH phải là đảng viên. Nhưng trong thực tiễn, đảng viên thì lại được giới thiệu, cơ cấu đa số. Điều đó ảnh hưởng đến tính đại diện và tính độc lập của đại biểu.

2. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội trong thời gian tới

Một là, đối với tiêu chí ĐBQH nên cần cụ thể, rõ ràng, mọi cử tri đều nhận biết được và mang tính phổ thông. Tác giả xin đề xuất các tiêu chí về ĐBQH như sau:

- Về độ tuổi, pháp luật nên quy định công dân đủ 31 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào QH. Đây là độ tuổi có thể đảm bảo về sự ổn định tâm lý, tình cảm, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, ổn định gia đình, kinh tế… để đảm trách công việc của ĐBQH.

- Về trình độ chuyên môn: ĐBQH tối thiểu phải có trình độ đại học. Tốt nghiệp đại học thông qua cơ sở trường lớp, trang bị cho con người nhiều tri thức. Thông qua học đại học, một con người có được phương pháp nhận biết sự vật, hiện tượng, biết khái quát, biết được quy luật khách quan. Vì thế, làm ĐBQH với chức năng làm luật phải đưa vào luật những quan hệ xã hội mang tính khách quan, phổ biến, gạt bỏ đi được những yếu tố chủ quan, cục bộ[20].

- Về thời gian cư trú tại địa phương nơi ứng viên được bầu: Ứng viên phải có một thời gian nhất định cư trú tại nơi mình được bầu làm ứng viên ĐBQH để mới có thể nắm bắt được địa bàn về phong tục tập quán, điều kiện kinh tế - xã hội… để từ đó có những “lời hứa” với cử tri trong quá trình tranh cử hiệu quả. ĐBQH phải thực sự gần dân, ở tại địa bàn nơi cử tri bầu chọn cho mình thì mới “liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, kiến nghị của cử tri với Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan; phổ biến và vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật”.

Hai là, pháp luật cần có quy định cụ thể về số lần tiếp xúc cử tri của ĐBQH. ĐBQH tiếp xúc với cử tri nhiều lần sẽ càng nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng cũng như những vấn đề cử tri quan tâm. ĐBQH phải là những chuyên gia am tường vận động chính trị, quan tâm cử tri, duy trì mối quan hệ với cử tri liên tục, thường xuyên tiếp xúc, lắng nghe tiếng nói của cử tri, để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri mà mình đại diện.

Ba là, ứng viên ĐBQH cần có chương trình hành động cho mình khi tranh cử và các ứng viên phải có quyền tranh luận về các chương trình hành động đó trước các cử tri. Chẳng hạn, theo lời Tướng Nguyễn Văn Hưởng, động cơ chính yếu của Tổng thống Trump (Hoa Kỳ) khi đưa ra quyết định gây nhiều tranh cãi, mở tòa đại sứ mới tại Israel ở Jerusalem (người mà cuối năm 2017 đã phá bỏ chính sách của Hoa Kỳ trong nhiều thập niên với việc công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel) là nhắm đến một khối cử tri đông đảo và vững chắc cho cuộc chạy đua nhiệm kỳ Tổng thống kế tiếp[21]. Quyết định trên của Tổng thống Trump là thực hiện lời hứa với cử tri Do Thái khi tranh cử. Dẫn chứng một lời hứa khi tranh cử của một Tổng thống Hoa Kỳ khi nói về chính sách hành động của ĐBQH Việt Nam khi tranh cử là khập khiễng. Nhưng để nói lên rằng, ứng viên ĐBQH Việt Nam cần đưa ra cho mình một chương trình hành động khi tranh cử và phải thực hiện được lời hứa đó khi được cử tri tin tưởng bầu cho mình thì mới xứng đáng với vai trò của một ĐBQH. Bên cạnh đó, trong quá trình vận động tranh cử, chúng ta cũng phải kiểm soát chương trình hành động của ứng viên ĐBQH, tránh tình trạng ứng viên dùng những thủ đoạn chính trị mang tính mị dân, đánh vào tâm lý của đám đông để kêu gọi, tổ chức phong trào nhằm lôi kéo, tranh thủ sự ủng hộ của dư luận và quần chúng nhân dân[22].

Bốn là, thời gian tới cần tăng số lượng ĐBQH chuyên trách, đồng thời giảm tổng số ĐBQH của cả nước. Tuy nhiên, không chỉ cần có nhiều ĐBQH chuyên trách mà còn phải chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn cao trong lĩnh vực mà mình phụ trách, đại diện cho cử tri. Từ đó, chúng ta mới có đủ nguồn lực để tạo điều kiện cho ĐBQH hoạt động như trang bị cho ĐBQH bộ máy giúp việc, cấp nguồn kinh phí nhất định để đại biểu có thể cùng tham gia đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội tại nơi mà đại biểu là đại diện.

Năm là, hiện nay, tỉ lệ ĐBQH là đảng viên chiếm tỷ lệ lớn trong Quốc hội. Thời gian vừa qua, đến kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khóa XIV đã có tới 06 ĐBQH bị miễn nhiệm, bãi nhiệm do vi phạm và đều là đảng viên. Do đó, cần phải quy trách nhiệm, kỷ luật các tổ chức Đảng có cán bộ giới thiệu sai[23]. Có như vậy, chúng ta mới “chỉnh đốn Đảng” làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng niềm tin đối với nhân dân.

Sáu là, ĐBQH là đại diện cho cử tri, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân. ĐBQH được nhân dân ủy quyền thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước. Nhân dân là chủ thể “bảo trợ” quyền lực cho các ĐBQH. Khi ĐBQH làm đúng, làm đầy đủ, phù hợp với ý chí, nguyện vọng của nhân dân thì được nhân dân “trọng dụng” trao quyền. Ngược lại, khi ĐBQH không còn xứng đáng với niềm tin của nhân dân, làm sai ý chí, nguyện vọng của nhân dân thì ĐBQH đó phải chịu trách nhiệm trước cử tri đã bầu cho mình. Chính vì thế, các cơ quan có thẩm quyền cần phải “trả lại” cho cử tri quyền bãi nhiệm thực chất của mình đối với đại biểu không còn xứng đáng. ĐBQH do cử tri đi bỏ phiếu bầu lên và đương nhiên khi vi phạm, không còn xứng đáng thì cử tri cũng đi bỏ phiếu bãi nhiệm tư cách ĐBQH đó (nếu trên 50% cử tri bỏ phiếu đồng ý bãi nhiệm thì ĐBQH đó sẽ bị xóa tư cách ĐBQH). Có làm được như vậy, thì chúng ta mới gắn được trách nhiệm giữa ĐBQH và cử tri, giúp cho mối quan hệ ngày càng tốt đẹp hơn, thịnh vượng hơn và đương nhiên chất lượng hoạt động của ĐBQH sẽ chuyên nghiệp, hiệu quả hơn đáp ứng kỳ vọng của cử tri.

Bảy là, để khắc phục tình trạng Quốc hội là thiết chế ở trung ương mà lại đưa về cử tri địa phương để bầu cử ĐBQH, thiết nghĩ, trong tương lai, Quốc hội nên có 02 viện như ở các nước tư sản, trong đó một viện ở trung ương chuyên có vai trò thảo luận, xem xét thông qua luật, để thành lập viện này nên trao cho mỗi địa phương một số ĐBQH như nhau; viện còn lại, chia theo mật độ dân số ở địa phương, chuyên làm nhiệm vụ xây dựng các văn bản luật.

Đất nước chúng ta đang tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Một trong những nhiệm vụ để hoàn thành mục tiêu này, đó là chúng ta xây dựng được cơ chế kiểm soát quyền lực mạnh mẽ, hiệu quả. Để Quốc hội có thể kiểm soát, ràng buộc hoặc ít nhất có thể giám sát một cách có hiệu quả quyền lực của các cơ quan khác thì Quốc hội phải thực sự mạnh mẽ. ĐBQH là những mắt xích quan trọng hợp lại thành Quốc hội. Do đó, việc nâng cao chất lượng ĐBQH là công việc phải được tiến hành thường xuyên, liên tục và hiệu quả.

Dương Văn Quý

Trường Trung cấp Luật Buôn Ma Thuột


[1] Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

[2] Hội đồng bầu cử quốc gia, Báo cáo tóm tắt Tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021, ngày 19/7/2016.

[3] Hội đồng bầu cử quốc gia, Báo cáo tóm tắt Tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021, ngày 19/7/2016.

[4] Báo điện tử Vietnamnet, http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/quoc-hoi/dbqh-tre-nhat-la-co-nong-dan-xinh-dep-nguoi-dao-309406.html, truy cập ngày 25/5/2018.

[5] Vũ Dương Ninh (Chủ biên), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2013, tr. 5-6.

[6] Tổng cục Thống kê - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo điều tra lao động việc làm quý II năm 2016, Hà Nội, 2016.

[7] Hội đồng bầu cử quốc gia, Báo cáo tóm tắt Tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021, ngày 19/7/2016.

[8] http://dbqh.na.gov.vn/thong-tin-bau-cu/XIII.aspx.

[9] http://www.nhandan.com.vn/baothoinay/baothoinay-chinhtri/item/36441202-da-giai-quyet-dut-diem-162-kien-nghi-cua-cu-tri.html.

[10] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hiến pháp nước ngoài, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2016, tr. 216.

[11] Thống kê dân số thế giới năm 2017, Cổng thông tin điện tử Viện Khoa học thống kê, http://vienthongke.vn/tin-tuc/43-tin-tuc/2560-thong-ke-dan-so-the-gioi-nam-2017, truy cập ngày 24/5/2018.

[12] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hiến pháp nước ngoài, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2016, tr. 283.

[13] Thống kê dân số thế giới năm 2017, Cổng thông tin điện tử Viện Khoa học thống kê, http://vienthongke.vn/tin-tuc/43-tin-tuc/2560-thong-ke-dan-so-the-gioi-nam-2017, truy cập ngày 24/5/2018.

[14] Trường Đại học Luật Hà Nội Giáo trình Luật Hiến pháp nước ngoài, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2016, tr. 426.

[15] Thống kê dân số thế giới năm 2017, Cổng thông tin điện tử Viện Khoa học thống kê, http://vienthongke.vn/tin-tuc/43-tin-tuc/2560-thong-ke-dan-so-the-gioi-nam-2017, truy cập ngày 24/5/2018.

[16] Hội đồng bầu cử quốc gia, Báo cáo tóm tắt Tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021, ngày 19/7/2016.

[17] Trang thông tin điện tử Báo mới, https://baomoi.com/danh-sach-15-nguoi-do-t-u-gioi-thieu-khong-trung-cu-dbqh/c/19575031.epi, truy cập ngày 25/5/2018.

[18] Hội đồng bầu cử quốc gia, Báo cáo tóm tắt Tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021, ngày 19/7/2016.

[19] http://dbqh.na.gov.vn/thong-tin-bau-cu/XIII.aspx

[20] TS. Đỗ Ngọc Hải, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/to-chuc-bo-may-nha-nuoc/ve-tieu-chi-111ai-bieu-quoc-hoi-trong-111ieu-kien-viet-nam-la-thanh-vien-wto, truy cập ngày 23/5/2018.

[21] Nguyễn Văn Hưởng, Báo điện tử vietnamnet, http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/tieudiem/tuong-huong-noi-ve-buoc-di-gay-nhieu-tranh-cai-cua-tong-thong-trump-452322.html, truy cập ngày 23/5/2018.

[22] Võ Văn Thưởng, Chủ nghĩa dân túy và những cảnh báo đối với Việt Nam, Báo điện tử Vietnamnet, http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/chu-nghia-dan-tuy-va-nhung-canh-bao-doi-voi-viet-nam-451143.html, truy cập ngày 15/5/2018.

[23] Báo dân trí Việt Nam, http://dantri.com.vn/chinh-tri/chua-co-quan-nao-chiu-trach-nhiem-de-lot-dai-bieu-khong-xung-dang-vao-quoc-hoi-20180515151532909.htm, truy cập ngày 15/5/2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: