Thứ năm 15/01/2026 02:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong bối cảnh hiện nay

Bài viết tập trung phân tích thực trạng hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, đồng thời chỉ ra yêu cầu và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong bối cảnh hiện nay.

1. Thực trạng hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp

Qua thực tiễn hơn 13 năm thi hành Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 cho thấy, hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác lý lịch tư pháp đã từng bước được chú trọng thực hiện và ngày càng đi vào nền nếp. Các cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp từ Trung ương đến địa phương (Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia thuộc Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) đã khẩn trương thực hiện nhiệm vụ xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp ngay sau khi Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 có hiệu lực thi hành. Hằng năm, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp thực hiện tiếp nhận hàng trăm nghìn thông tin lý lịch tư pháp từ hơn 2.000 cơ quan đầu mối cung cấp thông tin (Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan Công an, cơ quan Thi hành án dân sự và các cơ quan có liên quan trong quân đội…). Hiện nay, Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp đã được xây dựng tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và 63 Sở Tư pháp. Sau hơn 13 năm thi hành Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã thực hiện tiếp nhận, xử lý hơn 02 triệu thông tin lý lịch tư pháp, trên cơ sở đó, tạo lập hơn 1,2 triệu hồ sơ lý lịch tư pháp và gần 800 nghìn thông tin lý lịch tư pháp bổ sung. Các Sở Tư pháp đã thực hiện tiếp nhận, xử lý hơn 06 triệu thông tin lý lịch tư pháp, tạo lập gần 1,3 triệu hồ sơ lý lịch tư pháp và hơn 4,7 triệu thông tin lý lịch tư pháp bổ sung. Đây là một trong những cơ sở dữ liệu quan trọng để Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp thực hiện khai thác, tra cứu thông tin, phục vụ công tác cấp Phiếu lý lịch tư pháp, đáp ứng kịp thời yêu cầu của người dân, cơ quan, tổ chức.

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác lý lịch tư pháp được quan tâm, chú trọng ngay từ những ngày đầu tổ chức thi hành Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 nhằm phát triển công tác này theo hướng chuyên nghiệp, từng bước hiện đại. Từ năm 2012, Bộ Tư pháp đã xây dựng, triển khai Phần mềm Quản lý lý lịch tư pháp dùng chung cho các Sở Tư pháp và phiên bản cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia. Từ đó đến nay, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp đã sử dụng các phần mềm nói trên để thực hiện tiếp nhận, xử lý thông tin, xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Trên cơ sở đó, Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử cũng từng bước được xây dựng, tạo lập nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Từ tháng 5/2015, Bộ Tư pháp đã triển khai sử dụng phân hệ trao đổi thông tin lý lịch tư pháp điện tử giữa Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp nhằm từng bước thay thế việc gửi thông tin lý lịch tư pháp bằng văn bản giấy và hạn chế tối đa việc thông tin phải nhập lại nhiều lần. Đến nay, đã có khoảng hơn 1,6 triệu thông tin điện tử được thực hiện trao đổi, cung cấp giữa các Sở Tư pháp và Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia.

Để nâng cao hiệu quả công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, hằng năm, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia thường xuyên có các văn bản gửi Sở Tư pháp đề nghị tăng cường công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Định kỳ 06 tháng và hằng năm, Trung tâm chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan (Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan Công an, cơ quan có liên quan trong Quân đội…) thực hiện rà soát thông tin lý lịch tư pháp đã cung cấp, tiếp nhận để xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp theo quy định của pháp luật, bảo đảm thông tin được cung cấp, tiếp nhận đầy đủ, kịp thời. Để bảo đảm chất lượng thông tin có trong Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, từ năm 2022, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã phối hợp các Sở Tư pháp thực hiện chuẩn hóa thông tin lý lịch tư pháp trong cơ sở dữ liệu tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp đang bộc lộ một số hạn chế, bất cập sau đây:

Thứ nhất, công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp chưa đáp ứng yêu cầu của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, vẫn còn tình trạng tồn đọng thông tin chưa được xử lý, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Tại một số Sở Tư pháp, thông tin được cập nhật chưa đầy đủ, có thiếu sót, ảnh hưởng đến hoạt động khai thác, tra cứu thông tin trong Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp để phục vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp hoặc vẫn còn tình trạng thông tin lý lịch tư pháp sau khi thực hiện tiếp nhận còn chậm được xử lý và cập nhật vào cơ sở dữ liệu. Một số Sở Tư pháp chưa chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan, đặc biệt là Tòa án đề nghị cung cấp bổ sung bản án dẫn đến tình trạng lý lịch tư pháp được lập thiếu các thông tin chi tiết của bản án (tội danh, điều khoản luật được áp dụng...)...

Thứ hai, cơ chế, phương thức phối hợp liên ngành trong cung cấp, trao đổi, thông tin lý lịch tư pháp để xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp chưa hiệu quả, kịp thời. Thông tin lý lịch tư pháp hiện nay được cung cấp cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp chủ yếu bằng văn bản giấy theo phương thức thủ công qua đường văn thư, bưu chính dẫn đến tình trạng thông tin bị thất lạc, tiếp nhận không kịp thời.

Thứ ba, việc chia sẻ, kết nối Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác có liên quan chưa được thực hiện đồng bộ, hiệu quả. Một số Sở Tư pháp chưa chủ động khai thác, tra cứu Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp để phục vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập này có thể kể đến như: Một số Sở Tư pháp chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Nguồn nhân lực, trang thiết bị, cơ sở vật chất tại nhiều địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Tại hầu hết các Sở Tư pháp, cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp còn thiếu về số lượng và chủ yếu là kiêm nhiệm. Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp còn chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác này. Hoạt động xử lý, cập nhật thông tin vào Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp chủ yếu được thực hiện trực tuyến (online) trên Hệ thống Phần mềm Quản lý lý lịch tư pháp và được kết nối giữa Trung ương và các địa phương trên toàn quốc. Tuy nhiên, Phần mềm này được xây dựng và đưa vào sử dụng từ năm 2012, chưa được nâng cấp nên nhiều lúc bị gián đoạn, chậm, lỗi kết nối. Quy trình khai thác, tra cứu thông tin tại Cơ sở dữ liệu của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia còn phức tạp, qua nhiều bước, một số tính năng khai thác, tra cứu Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trên Phần mềm chưa hoàn thiện. Quy trình nghiệp vụ tiếp nhận, xử lý thông tin, xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được xây dựng từ khi Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 mới có hiệu lực nên đã bộc lộ những hạn chế, vướng mắc, không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay.

2. Yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong bối cảnh hiện nay

2.1. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp từ yêu cầu hội nhập quốc tế

Trong bối cảnh hợp tác quốc tế sâu rộng như hiện nay, các yêu cầu liên quan đến bảo đảm quyền con người, quyền bảo vệ, tiếp cận thông tin về cá nhân, trong đó, có quyền tiếp cận thông tin lý lịch tư pháp, quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp ngày càng thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Việt Nam đã gia nhập các công ước về quyền con người như Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948, Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Các quy định pháp luật của Việt Nam về lý lịch tư pháp cũng thể hiện rõ nét vấn đề bảo đảm quyền con người thông qua các quy định về phạm vi quản lý lý lịch tư pháp, chế định xóa án tích, quyền tiếp cận thông tin lý lịch tư pháp, vấn đề xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm quản lý và theo dõi thông tin lý lịch tư pháp của công dân Việt Nam bị Tòa án nước ngoài kết án trong trường hợp bản án, trích lục bản án hình sự của người đó được cung cấp theo điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự hoặc theo nguyên tắc “có đi có lại”. Kết quả rà soát sơ bộ cho thấy, đến nay, Việt Nam đã tham gia ký kết 17 điều ước quốc tế song phương, 16 điều ước quốc tế đa phương, còn 06 điều ước quốc tế song phương đã đàm phán, chờ phê chuẩn chính thức. Theo đó, một số hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam và nước ngoài như các hiệp định với Ba Lan, Tiệp Khắc (Séc và Slovakia kế thừa), Nga, Hungary có quy định về việc hai bên gửi cho nhau thông tin về bản án hình sự có hiệu lực pháp luật hoặc các thông tin về án tích của công dân hai nước, trong đó, có thể quy định nhằm mục đích truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không quy định cụ thể mục đích sử dụng các thông tin này. Đến nay, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã tiếp nhận hàng nghìn thông tin lý lịch tư pháp là các trích lục án tích do cơ quan có thẩm quyền của các nước như Séc, Nga, Slovakia, Ba Lan, Hungary cung cấp cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao trên cơ sở các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự mà Việt Nam đã ký kết với các nước này.

Đồng thời, cũng theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm quản lý và theo dõi thông tin lý lịch tư pháp của công dân nước ngoài bị Tòa án Việt Nam kết án. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay, nhiều quốc gia đang đặc biệt quan tâm đến mối đe dọa của tội phạm nước ngoài đối với các vấn đề trong nước nên họ có nhu cầu trao đổi, chia sẻ thông tin liên quan đến lý lịch tư pháp của công dân nước ngoài đang sinh sống tại quốc gia đó để có biện pháp phòng ngừa phù hợp đối với các mối đe dọa của tội phạm nước ngoài và có chế tài phù hợp đối với những đối tượng phạm tội.

2.2. Yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong giai đoạn mới

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tác động, ảnh hưởng sâu rộng tới mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Ngày 27/9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Một trong những chủ trương, chính sách của Nghị quyết này là: “Hoàn thiện pháp luật, chính sách về dữ liệu, quản trị dữ liệu, tạo thuận lợi cho việc tạo dựng, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu bảo đảm an toàn, an ninh mạng trong nước, tiến tới kết nối với khu vực ASEAN và quốc tế”.

Ngày 07/3/2019, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 17/NQ-CP về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025. Một trong các quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết này là: “Đổi mới phương thức phục vụ, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, lấy sự hài lòng của cá nhân, tổ chức là thước đo quan trọng trong phát triển Chính phủ điện tử; bảo đảm gắn kết chặt chẽ, đồng bộ ứng dụng công nghệ thông tin với cải cách hành chính, đổi mới lề lối, phương thức làm việc, xác định ứng dụng công nghệ thông tin là công cụ hữu hiệu hỗ trợ, thúc đẩy cải cách hành chính”. Trên cơ sở đó, ngày 28/3/2019, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có Quyết định số 702b/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch hành động của Ngành Tư pháp triển khai thực hiện Nghị quyết số 17/NQ-CP với một trong các mục đích là: “Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong tất cả các hoạt động và lĩnh vực công tác của Ngành Tư pháp trừ các hoạt động và lĩnh vực công tác có yêu cầu giữ bí mật thông tin theo quy định của pháp luật, trong đó chú trọng đến các lĩnh vực: Lý lịch tư pháp…”. Ngày 07/5/2021, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 682/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển Chính phủ số và bảo đảm an toàn thông tin mạng trong hoạt động của Ngành Tư pháp giai đoạn 2021 - 2025, trong đó xác định: “Xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử” là một nhiệm vụ trọng tâm về ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác lý lịch tư pháp.

Bên cạnh đó, nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện, giải quyết thủ tục hành chính, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; Nghị định số 107/2021/NĐ-CP ngày 06/12/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính.

Ngày 06/01/2022, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 06/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06). Theo đó, thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp được xác định là 01 trong 25 dịch vụ công thiết yếu, thực hiện trực tuyến theo Đề án 06.

Ngày 05/01/2024, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách năm 2024 (Nghị quyết số 01/NQ-CP). Một trong những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện Nghị quyết này đã được xác định, đó là: “Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong các lĩnh vực hành chính tư pháp… tăng cường xây dựng, hoàn thiện Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, bảo đảm thông tin lý lịch tư pháp luôn được cập nhật đầy đủ, kịp thời…”.

Những chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ về các giải pháp nhằm thực hiện chủ động cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, yêu cầu xây dựng Chính phủ điện tử, đặc biệt là các nhiệm vụ thực hiện Đề án 06, Nghị quyết số 01/NQ-CP cũng như xuất phát từ chính thực tiễn công tác lý lịch tư pháp trong thời gian qua đã và đang đặt ra những yêu cầu phải đổi mới, hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp

Xuất phát thực tiễn công tác xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp hiện nay, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động này, cụ thể như sau:

Thứ nhất, tiếp tục triển khai có hiệu quả Luật Lý lịch tư pháp năm 2009; xác định đúng vai trò của công tác lý lịch tư pháp trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội và bảo đảm thực hiện quyền công dân; thúc đẩy cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Tăng cường nhận thức về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tới các bộ, ngành, địa phương và nhất là người đứng đầu. Nghiên cứu đề xuất đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp; phát huy vai trò chủ động của cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, gắn công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Ưu tiên đầu tư nguồn lực cho công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp; tập trung xử lý, cập nhật thông tin lý lịch tư pháp kịp thời, đầy đủ, chính xác; bảo đảm thực hiện mục tiêu 100% thông tin lý lịch tư pháp được tiếp nhận, xử lý, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, đáp ứng yêu cầu của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009. Nghiên cứu, đổi mới quy trình tiếp nhận, xử lý thông tin, xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp theo hướng chú trọng kiểm soát chất lượng cơ sở dữ liệu, bảo đảm nguyên tắc cơ sở dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

Thứ hai, nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về lý lịch tư pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác lý lịch tư pháp nói chung, hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp nói riêng, nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) đã giao cho cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp xác nhận cá nhân đó “không có án tích” nếu có đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đây là chế định thể hiện tính nhân văn, nhân đạo của pháp luật hình sự của Nhà nước ta nhưng cũng đặt ra nhiệm vụ mới, nặng nề và khó khăn cho các cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Để thực hiện tốt và hiệu quả nhiệm vụ nêu trên, cần nghiên cứu hoàn thiện thể chế về lý lịch tư pháp, nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, đặc biệt là trong công tác phối hợp với các cơ quan trong cung cấp thông tin để xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý lý lịch tư pháp, đặc biệt là hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực này cần được đặc biệt chú trọng, nâng cao hiệu quả để đáp ứng yêu cầu của Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, trong đó trọng tâm là nghiên cứu, triển khai thực hiện trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp dưới dạng dữ liệu điện tử để xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, hạn chế dần việc cung cấp, tiếp nhận thông tin dưới dạng văn bản giấy. Đồng thời, khẩn trương triển khai thực hiện số hóa Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp ngay từ khâu tiếp nhận, xử lý thông tin lý lịch tư pháp để xây dựng, tạo lập Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử; thực hiện kết nối, chia sẻ, liên thông dữ liệu với Cổng Dịch vụ công quốc gia, Cổng Dịch vụ công cấp tỉnh nhằm phục vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến theo yêu cầu của Đề án 06.

Thứ tư, nghiên cứu bổ sung nguồn thông tin lý lịch tư pháp được cung cấp, xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp thông qua một số kênh hợp tác quốc tế khác. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn chú trọng mở rộng và phát triển quan hệ với các nước trong khu vực cũng như trên toàn thế giới: Năm 1991, Cảnh sát Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (INTERPOL); năm 1995, Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và cũng trong năm này, Việt Nam tham gia Hiệp hội Tư lệnh Cảnh sát các nước ASEAN (ASEANAPOL); tháng 11/1998, Việt Nam trở thành thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC); Việt Nam đã phê chuẩn nhiều công ước của Liên Hợp quốc về kiểm soát ma túy, phòng, chống tham nhũng và tham gia các tổ chức pháp luật và tư pháp quốc tế như Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế… Do đó, cần nghiên cứu bổ sung nguồn thông tin lý lịch tư pháp được cung cấp thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế nêu trên. Đồng thời, cũng cần xác định cụ thể các điều kiện để ghi nhận các thông tin lý lịch tư pháp được tiếp nhận từ nguồn này vào Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp của Việt Nam.

Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế để trao đổi, chia sẻ, học tập kinh nghiệm của các quốc gia có hệ thống lý lịch tư pháp phát triển, phục vụ quá trình xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp, đáp ứng tốt nhất yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Đồng thời, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác lý lịch tư pháp, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Có thể khẳng định, xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp luôn được coi là hoạt động cơ bản, nền tảng, có vai trò đặc biệt quan trọng của công tác lý lịch tư pháp. Trong bối cảnh hiện nay, hoạt động này cần được quan tâm đầu tư đúng mức, nhằm phát triển công tác lý lịch tư pháp theo hướng chuyên nghiệp, từng bước hiện đại, góp phần xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, xây dựng Chính phủ điện tử, phục vụ công cuộc thực hiện chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xây dựng xã hội số./.

ThS. Đỗ Thị Thúy Lan

Phó Giám đốc Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Bộ Tư pháp

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 405), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: