Thứ tư 18/03/2026 13:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong bối cảnh hiện nay

Bài viết tập trung phân tích thực trạng hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, đồng thời chỉ ra yêu cầu và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong bối cảnh hiện nay.

1. Thực trạng hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp

Qua thực tiễn hơn 13 năm thi hành Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 cho thấy, hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác lý lịch tư pháp đã từng bước được chú trọng thực hiện và ngày càng đi vào nền nếp. Các cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp từ Trung ương đến địa phương (Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia thuộc Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) đã khẩn trương thực hiện nhiệm vụ xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp ngay sau khi Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 có hiệu lực thi hành. Hằng năm, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp thực hiện tiếp nhận hàng trăm nghìn thông tin lý lịch tư pháp từ hơn 2.000 cơ quan đầu mối cung cấp thông tin (Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan Công an, cơ quan Thi hành án dân sự và các cơ quan có liên quan trong quân đội…). Hiện nay, Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp đã được xây dựng tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và 63 Sở Tư pháp. Sau hơn 13 năm thi hành Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã thực hiện tiếp nhận, xử lý hơn 02 triệu thông tin lý lịch tư pháp, trên cơ sở đó, tạo lập hơn 1,2 triệu hồ sơ lý lịch tư pháp và gần 800 nghìn thông tin lý lịch tư pháp bổ sung. Các Sở Tư pháp đã thực hiện tiếp nhận, xử lý hơn 06 triệu thông tin lý lịch tư pháp, tạo lập gần 1,3 triệu hồ sơ lý lịch tư pháp và hơn 4,7 triệu thông tin lý lịch tư pháp bổ sung. Đây là một trong những cơ sở dữ liệu quan trọng để Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp thực hiện khai thác, tra cứu thông tin, phục vụ công tác cấp Phiếu lý lịch tư pháp, đáp ứng kịp thời yêu cầu của người dân, cơ quan, tổ chức.

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác lý lịch tư pháp được quan tâm, chú trọng ngay từ những ngày đầu tổ chức thi hành Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 nhằm phát triển công tác này theo hướng chuyên nghiệp, từng bước hiện đại. Từ năm 2012, Bộ Tư pháp đã xây dựng, triển khai Phần mềm Quản lý lý lịch tư pháp dùng chung cho các Sở Tư pháp và phiên bản cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia. Từ đó đến nay, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp đã sử dụng các phần mềm nói trên để thực hiện tiếp nhận, xử lý thông tin, xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Trên cơ sở đó, Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử cũng từng bước được xây dựng, tạo lập nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Từ tháng 5/2015, Bộ Tư pháp đã triển khai sử dụng phân hệ trao đổi thông tin lý lịch tư pháp điện tử giữa Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp nhằm từng bước thay thế việc gửi thông tin lý lịch tư pháp bằng văn bản giấy và hạn chế tối đa việc thông tin phải nhập lại nhiều lần. Đến nay, đã có khoảng hơn 1,6 triệu thông tin điện tử được thực hiện trao đổi, cung cấp giữa các Sở Tư pháp và Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia.

Để nâng cao hiệu quả công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, hằng năm, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia thường xuyên có các văn bản gửi Sở Tư pháp đề nghị tăng cường công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Định kỳ 06 tháng và hằng năm, Trung tâm chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan (Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan Công an, cơ quan có liên quan trong Quân đội…) thực hiện rà soát thông tin lý lịch tư pháp đã cung cấp, tiếp nhận để xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp theo quy định của pháp luật, bảo đảm thông tin được cung cấp, tiếp nhận đầy đủ, kịp thời. Để bảo đảm chất lượng thông tin có trong Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, từ năm 2022, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã phối hợp các Sở Tư pháp thực hiện chuẩn hóa thông tin lý lịch tư pháp trong cơ sở dữ liệu tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp đang bộc lộ một số hạn chế, bất cập sau đây:

Thứ nhất, công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp chưa đáp ứng yêu cầu của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, vẫn còn tình trạng tồn đọng thông tin chưa được xử lý, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Tại một số Sở Tư pháp, thông tin được cập nhật chưa đầy đủ, có thiếu sót, ảnh hưởng đến hoạt động khai thác, tra cứu thông tin trong Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp để phục vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp hoặc vẫn còn tình trạng thông tin lý lịch tư pháp sau khi thực hiện tiếp nhận còn chậm được xử lý và cập nhật vào cơ sở dữ liệu. Một số Sở Tư pháp chưa chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan, đặc biệt là Tòa án đề nghị cung cấp bổ sung bản án dẫn đến tình trạng lý lịch tư pháp được lập thiếu các thông tin chi tiết của bản án (tội danh, điều khoản luật được áp dụng...)...

Thứ hai, cơ chế, phương thức phối hợp liên ngành trong cung cấp, trao đổi, thông tin lý lịch tư pháp để xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp chưa hiệu quả, kịp thời. Thông tin lý lịch tư pháp hiện nay được cung cấp cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp chủ yếu bằng văn bản giấy theo phương thức thủ công qua đường văn thư, bưu chính dẫn đến tình trạng thông tin bị thất lạc, tiếp nhận không kịp thời.

Thứ ba, việc chia sẻ, kết nối Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác có liên quan chưa được thực hiện đồng bộ, hiệu quả. Một số Sở Tư pháp chưa chủ động khai thác, tra cứu Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp để phục vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập này có thể kể đến như: Một số Sở Tư pháp chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Nguồn nhân lực, trang thiết bị, cơ sở vật chất tại nhiều địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Tại hầu hết các Sở Tư pháp, cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp còn thiếu về số lượng và chủ yếu là kiêm nhiệm. Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp còn chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác này. Hoạt động xử lý, cập nhật thông tin vào Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp chủ yếu được thực hiện trực tuyến (online) trên Hệ thống Phần mềm Quản lý lý lịch tư pháp và được kết nối giữa Trung ương và các địa phương trên toàn quốc. Tuy nhiên, Phần mềm này được xây dựng và đưa vào sử dụng từ năm 2012, chưa được nâng cấp nên nhiều lúc bị gián đoạn, chậm, lỗi kết nối. Quy trình khai thác, tra cứu thông tin tại Cơ sở dữ liệu của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia còn phức tạp, qua nhiều bước, một số tính năng khai thác, tra cứu Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trên Phần mềm chưa hoàn thiện. Quy trình nghiệp vụ tiếp nhận, xử lý thông tin, xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được xây dựng từ khi Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 mới có hiệu lực nên đã bộc lộ những hạn chế, vướng mắc, không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay.

2. Yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong bối cảnh hiện nay

2.1. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp từ yêu cầu hội nhập quốc tế

Trong bối cảnh hợp tác quốc tế sâu rộng như hiện nay, các yêu cầu liên quan đến bảo đảm quyền con người, quyền bảo vệ, tiếp cận thông tin về cá nhân, trong đó, có quyền tiếp cận thông tin lý lịch tư pháp, quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp ngày càng thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Việt Nam đã gia nhập các công ước về quyền con người như Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948, Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Các quy định pháp luật của Việt Nam về lý lịch tư pháp cũng thể hiện rõ nét vấn đề bảo đảm quyền con người thông qua các quy định về phạm vi quản lý lý lịch tư pháp, chế định xóa án tích, quyền tiếp cận thông tin lý lịch tư pháp, vấn đề xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm quản lý và theo dõi thông tin lý lịch tư pháp của công dân Việt Nam bị Tòa án nước ngoài kết án trong trường hợp bản án, trích lục bản án hình sự của người đó được cung cấp theo điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự hoặc theo nguyên tắc “có đi có lại”. Kết quả rà soát sơ bộ cho thấy, đến nay, Việt Nam đã tham gia ký kết 17 điều ước quốc tế song phương, 16 điều ước quốc tế đa phương, còn 06 điều ước quốc tế song phương đã đàm phán, chờ phê chuẩn chính thức. Theo đó, một số hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam và nước ngoài như các hiệp định với Ba Lan, Tiệp Khắc (Séc và Slovakia kế thừa), Nga, Hungary có quy định về việc hai bên gửi cho nhau thông tin về bản án hình sự có hiệu lực pháp luật hoặc các thông tin về án tích của công dân hai nước, trong đó, có thể quy định nhằm mục đích truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không quy định cụ thể mục đích sử dụng các thông tin này. Đến nay, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã tiếp nhận hàng nghìn thông tin lý lịch tư pháp là các trích lục án tích do cơ quan có thẩm quyền của các nước như Séc, Nga, Slovakia, Ba Lan, Hungary cung cấp cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao trên cơ sở các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự mà Việt Nam đã ký kết với các nước này.

Đồng thời, cũng theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm quản lý và theo dõi thông tin lý lịch tư pháp của công dân nước ngoài bị Tòa án Việt Nam kết án. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay, nhiều quốc gia đang đặc biệt quan tâm đến mối đe dọa của tội phạm nước ngoài đối với các vấn đề trong nước nên họ có nhu cầu trao đổi, chia sẻ thông tin liên quan đến lý lịch tư pháp của công dân nước ngoài đang sinh sống tại quốc gia đó để có biện pháp phòng ngừa phù hợp đối với các mối đe dọa của tội phạm nước ngoài và có chế tài phù hợp đối với những đối tượng phạm tội.

2.2. Yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong giai đoạn mới

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tác động, ảnh hưởng sâu rộng tới mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Ngày 27/9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Một trong những chủ trương, chính sách của Nghị quyết này là: “Hoàn thiện pháp luật, chính sách về dữ liệu, quản trị dữ liệu, tạo thuận lợi cho việc tạo dựng, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu bảo đảm an toàn, an ninh mạng trong nước, tiến tới kết nối với khu vực ASEAN và quốc tế”.

Ngày 07/3/2019, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 17/NQ-CP về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025. Một trong các quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết này là: “Đổi mới phương thức phục vụ, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, lấy sự hài lòng của cá nhân, tổ chức là thước đo quan trọng trong phát triển Chính phủ điện tử; bảo đảm gắn kết chặt chẽ, đồng bộ ứng dụng công nghệ thông tin với cải cách hành chính, đổi mới lề lối, phương thức làm việc, xác định ứng dụng công nghệ thông tin là công cụ hữu hiệu hỗ trợ, thúc đẩy cải cách hành chính”. Trên cơ sở đó, ngày 28/3/2019, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có Quyết định số 702b/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch hành động của Ngành Tư pháp triển khai thực hiện Nghị quyết số 17/NQ-CP với một trong các mục đích là: “Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong tất cả các hoạt động và lĩnh vực công tác của Ngành Tư pháp trừ các hoạt động và lĩnh vực công tác có yêu cầu giữ bí mật thông tin theo quy định của pháp luật, trong đó chú trọng đến các lĩnh vực: Lý lịch tư pháp…”. Ngày 07/5/2021, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 682/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển Chính phủ số và bảo đảm an toàn thông tin mạng trong hoạt động của Ngành Tư pháp giai đoạn 2021 - 2025, trong đó xác định: “Xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử” là một nhiệm vụ trọng tâm về ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác lý lịch tư pháp.

Bên cạnh đó, nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện, giải quyết thủ tục hành chính, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; Nghị định số 107/2021/NĐ-CP ngày 06/12/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính.

Ngày 06/01/2022, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 06/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06). Theo đó, thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp được xác định là 01 trong 25 dịch vụ công thiết yếu, thực hiện trực tuyến theo Đề án 06.

Ngày 05/01/2024, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách năm 2024 (Nghị quyết số 01/NQ-CP). Một trong những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện Nghị quyết này đã được xác định, đó là: “Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong các lĩnh vực hành chính tư pháp… tăng cường xây dựng, hoàn thiện Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, bảo đảm thông tin lý lịch tư pháp luôn được cập nhật đầy đủ, kịp thời…”.

Những chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ về các giải pháp nhằm thực hiện chủ động cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, yêu cầu xây dựng Chính phủ điện tử, đặc biệt là các nhiệm vụ thực hiện Đề án 06, Nghị quyết số 01/NQ-CP cũng như xuất phát từ chính thực tiễn công tác lý lịch tư pháp trong thời gian qua đã và đang đặt ra những yêu cầu phải đổi mới, hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp

Xuất phát thực tiễn công tác xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp hiện nay, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động này, cụ thể như sau:

Thứ nhất, tiếp tục triển khai có hiệu quả Luật Lý lịch tư pháp năm 2009; xác định đúng vai trò của công tác lý lịch tư pháp trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội và bảo đảm thực hiện quyền công dân; thúc đẩy cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Tăng cường nhận thức về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tới các bộ, ngành, địa phương và nhất là người đứng đầu. Nghiên cứu đề xuất đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp; phát huy vai trò chủ động của cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, gắn công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Ưu tiên đầu tư nguồn lực cho công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp; tập trung xử lý, cập nhật thông tin lý lịch tư pháp kịp thời, đầy đủ, chính xác; bảo đảm thực hiện mục tiêu 100% thông tin lý lịch tư pháp được tiếp nhận, xử lý, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, đáp ứng yêu cầu của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009. Nghiên cứu, đổi mới quy trình tiếp nhận, xử lý thông tin, xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp theo hướng chú trọng kiểm soát chất lượng cơ sở dữ liệu, bảo đảm nguyên tắc cơ sở dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

Thứ hai, nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về lý lịch tư pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác lý lịch tư pháp nói chung, hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp nói riêng, nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) đã giao cho cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp xác nhận cá nhân đó “không có án tích” nếu có đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đây là chế định thể hiện tính nhân văn, nhân đạo của pháp luật hình sự của Nhà nước ta nhưng cũng đặt ra nhiệm vụ mới, nặng nề và khó khăn cho các cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Để thực hiện tốt và hiệu quả nhiệm vụ nêu trên, cần nghiên cứu hoàn thiện thể chế về lý lịch tư pháp, nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, đặc biệt là trong công tác phối hợp với các cơ quan trong cung cấp thông tin để xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý lý lịch tư pháp, đặc biệt là hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực này cần được đặc biệt chú trọng, nâng cao hiệu quả để đáp ứng yêu cầu của Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, trong đó trọng tâm là nghiên cứu, triển khai thực hiện trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp dưới dạng dữ liệu điện tử để xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, hạn chế dần việc cung cấp, tiếp nhận thông tin dưới dạng văn bản giấy. Đồng thời, khẩn trương triển khai thực hiện số hóa Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp ngay từ khâu tiếp nhận, xử lý thông tin lý lịch tư pháp để xây dựng, tạo lập Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử; thực hiện kết nối, chia sẻ, liên thông dữ liệu với Cổng Dịch vụ công quốc gia, Cổng Dịch vụ công cấp tỉnh nhằm phục vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến theo yêu cầu của Đề án 06.

Thứ tư, nghiên cứu bổ sung nguồn thông tin lý lịch tư pháp được cung cấp, xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp thông qua một số kênh hợp tác quốc tế khác. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn chú trọng mở rộng và phát triển quan hệ với các nước trong khu vực cũng như trên toàn thế giới: Năm 1991, Cảnh sát Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (INTERPOL); năm 1995, Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và cũng trong năm này, Việt Nam tham gia Hiệp hội Tư lệnh Cảnh sát các nước ASEAN (ASEANAPOL); tháng 11/1998, Việt Nam trở thành thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC); Việt Nam đã phê chuẩn nhiều công ước của Liên Hợp quốc về kiểm soát ma túy, phòng, chống tham nhũng và tham gia các tổ chức pháp luật và tư pháp quốc tế như Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế… Do đó, cần nghiên cứu bổ sung nguồn thông tin lý lịch tư pháp được cung cấp thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế nêu trên. Đồng thời, cũng cần xác định cụ thể các điều kiện để ghi nhận các thông tin lý lịch tư pháp được tiếp nhận từ nguồn này vào Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp của Việt Nam.

Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế để trao đổi, chia sẻ, học tập kinh nghiệm của các quốc gia có hệ thống lý lịch tư pháp phát triển, phục vụ quá trình xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp, đáp ứng tốt nhất yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Đồng thời, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác lý lịch tư pháp, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Có thể khẳng định, xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp luôn được coi là hoạt động cơ bản, nền tảng, có vai trò đặc biệt quan trọng của công tác lý lịch tư pháp. Trong bối cảnh hiện nay, hoạt động này cần được quan tâm đầu tư đúng mức, nhằm phát triển công tác lý lịch tư pháp theo hướng chuyên nghiệp, từng bước hiện đại, góp phần xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, xây dựng Chính phủ điện tử, phục vụ công cuộc thực hiện chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xây dựng xã hội số./.

ThS. Đỗ Thị Thúy Lan

Phó Giám đốc Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Bộ Tư pháp

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 405), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: