Thứ năm 30/04/2026 07:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay

Thi hành án dân sự là một hoạt động quan trọng của Nhà nước nhằm đưa bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, trọng tài, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý cạnh tranh ra thi hành nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân.

Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định một nguyên tắc: “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Nhận thức được vị trí pháp lý và tầm quan trọng của hoạt động thi hành án dân sự trong thực tiễn đời sống xã hội, trong thời gian qua, hoạt động quản lý nhà nước đã có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được nhiều hiệu quả. Bài viết đã nêu lên được những thành tưu trong quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, cụ thể: Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật quản lý lĩnh vực thi hành án dân sự; xây dựng bộ máy quản lý và đội ngũ công chức các cơ quan thi hành án; hoạt động thanh tra, kiểm tra; tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn nghiệp vụ; giải quyết khiếu nại, tố cáo. Qua đó, bài viết chỉ ra được những vấn đề đang tồn tại, nguyên nhân chủ yếu và giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự.

Thi hành án dân sự là một hoạt động quan trọng của Nhà nước nhằm đưa bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, trọng tài, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý cạnh tranh ra thi hành nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân. Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định một nguyên tắc quan trọng: “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” (Điều 106). Nhận thức được vị trí pháp lý và tầm quan trọng của hoạt động thi hành án dân sự trong thực tiễn đời sống xã hội, trong thời gian qua, hoạt động quản lý nhà nước đã có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được nhiều hiệu quả.

1. Những thành tựu trong quản lý nhà nước về thi hành án dân sự

1.1. Về hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật quản lý lĩnh vực thi hành án dân sự

Thời gian qua, với mục đích tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực thi hành án dân sự, hoạt động xây dựng pháp luật đã được chú trọng. Các văn bản quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án tập trung ở các nội dung như: (i) Ban hành nghị định, thông tư cụ thể hóa Luật Thi hành án dân sự; (ii) Ban hành quyết định[1] của Thủ tướng Chính phủ, nghị quyết của Chính phủ[2] và các văn bản quy phạm pháp luật nhằm kiện toàn bộ máy và tổ chức cán bộ. Từ sau khi Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được Quốc hội ban hành, Bộ Tư pháp đã tham mưu cho Chính phủ ban hành 6 nghị định, 18 thông tư liên tịch và 25 thông tư về thi hành án dân sự. Trong quá trình thực hiện đã xuất hiện những hạn chế, bất cập và Bộ Tư pháp đã tham mưu giúp Chính phủ sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản (Nghị định số 58/2009/NĐ-CP[3], Nghị định số 61/2009/NĐ-CP[4]) và sau đó, giúp Chính phủ xây dựng, trình Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015). Ưu điểm nổi bật của các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực thi hành án dân sự giai đoạn này thể hiện ở việc các văn bản quy phạm pháp luật đã thế chế hóa các quan điểm của Đảng nêu trong Chiến lược cải cách tư pháp về công tác thi hành án dân sự. Đồng thời cụ thể hoá quy định của Hiến pháp năm 2013 về nguyên tắc: “Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật phải được nghiêm chỉnh chấp hành”. Việc sửa đổi, ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã chú trọng tới việc tăng cường trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể có chức năng quản lý nhà nước như Tòa án nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp tham gia quá trình thi hành án dân sự, đồng thời bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thi hành án dân sự.

1.2. Về xây dựng bộ máy quản lý hoạt động thi hành án dân sự và đội ngũ công chức các cơ quan thi hành án dân sự

Để quản lý nhà nước đối với lĩnh vực thi hành án dân sự có hiệu quả, hiệu lực, tổ chức bộ máy, cán bộ trong thời gian qua đã được củng cố, kiện toàn. Số Chi cục Thi hành án dân sự, đội ngũ lãnh đạo quản lý, số lượng chấp hành viên, thẩm tra viên đều tăng. Công tác biệt phái, điều động, luân chuyển công chức được chú trọng, đã có những lãnh đạo cấp vụ của Tổng cục Thi hành án dân sự được luân chuyển về địa phương giữ chức Cục trưởng hoặc Phó Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự; một số chấp hành viên và công chức thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự được biệt phái, điều động về địa phương. Tại các cơ quan thi hành án dân sự địa phương, việc điều động, luân chuyển công chức tại đơn vị cũng được thực hiện một cách chủ động. Công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức được đổi mới căn bản theo hướng tiết kiệm, hiệu quả và có trọng tâm, trọng điểm; kỷ cương, kỷ luật hành chính được siết chặt, ý thức trách nhiệm được tăng cường, kỷ luật làm việc của đội ngũ công chức, người lao động ngày càng đi vào nề nếp.

1.3. Về hoạt động thanh tra, kiểm tra

Hoạt động thanh tra, kiểm tra được xác định là một trong các hoạt động quản lý quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự. Việc kiểm tra được tiến hành thường xuyên, chủ động trên cơ sở xây dựng kế hoạch kiểm tra từ trung ương đến địa phương. Các hoạt động kiểm tra đột xuất và kiểm tra liên ngành cũng được chú trọng thực hiện. Trong nhiệm kỳ 2011 - 2015, Bộ Tư pháp đã tiến hành 19 cuộc kiểm tra toàn diện về công tác thi hành án dân sự, khoảng 100 cuộc kiểm tra chuyên đề về công tác xác minh, phân loại án, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, công tác xét duyệt quyết toán. Đồng thời, Bộ Tư pháp còn tiến hành các cuộc kiểm tra đột xuất về công tác tổ chức cán bộ, công tác thống kê, phân loại án hoặc phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an... tổ chức kiểm tra liên ngành. Thông qua đó, hiệu quả hoạt động kiểm tra được nâng lên, thể hiện là công cụ quản lý quan trọng đối với lĩnh vực thi hành án dân sự.

1.4. Về công tác tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn nghiệp vụ thi hành án dân sự

Từ năm 2011 đến nay, các cơ quan thi hành án dân sự đã chủ động ban hành nhiều văn bản hướng dẫn nghiệp vụ để kịp thời giải đáp những vấn đề còn vướng mắc, khó khăn của cấp cơ sở với tỷ lệ hàng năm luôn đạt trên 94%[5]. Các vụ án kéo dài, khó thi hành đã được hướng dẫn, chỉ đạo để giải quyết dứt điểm làm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động quản lý thi hành án dân sự[6].

1.5. Về giải quyết khiếu nại, tố cáo

Bộ Tư pháp và các cơ quan có trách nhiệm đã giải quyết kịp thời, đúng quy định các đơn thư khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền. Quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo được chấp hành nghiêm từ khâu tiếp công dân đến tiếp nhận và xem xét giải quyết. Đối với các vụ việc khiếu nại phức tạp, kéo dài, lãnh đạo và các cá nhân có thẩm quyền đã chú trọng khâu đối thoại trực tiếp, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của người tố cáo, khiếu nại để giải quyết triệt để. Do đó, tình trạng khiếu nại vượt cấp, đông người được hạn chế. Mặc dù số đơn thư khiếu nại, tố cáo của năm 2015 tăng 3.830 đơn (72,33%) nhưng tỷ lệ giải quyết luôn đạt trên 93%[7].

2. Một số điểm còn tồn tại và những nguyên nhân chủ yếu

2.1. Những điểm tồn tại

Về hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ xã hội trong thi hành án dân sự, trong thời gian qua, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thi hành án dân sự có tính ổn định không cao. Cho đến thời điểm hiện nay, vẫn còn nhiều vấn đề trong Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) đang đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, tổng kết và sửa đổi tiếp. Về hoạt động chỉ đạo, điều hành hoạt động quản lý thi hành án dân sự, việc chấp hành chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự đến các Cục Thi hành án dân sự ở địa phương chưa thông suốt, thống nhất, còn có dấu hiệu chưa sâu sát, chưa quyết liệt, “thậm chí qua kiểm tra phát hiện nhiều nơi có dấu hiệu buông lỏng quản lý và đã phải xử lý kỷ luật cả lãnh đạo Cục, Chi cục...”[8]. Công tác tổ chức cán bộ, xây dựng bộ máy thi hành án dân sự hiệu quả chưa cao. Hoạt động tham mưu ở cả cấp Tổng cục và cấp Cục còn hạn chế; kỷ cương, kỷ luật tại một số đơn vị còn chưa nghiêm; số lượng công chức vi phạm bị xử lý kỷ luật còn nhiều như ở Gia Lai, An Giang...; vẫn còn có nơi để xảy ra việc nhũng nhiễu, gây phiền hà cho các bên đương sự, gây bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng tới hình ảnh cán bộ, công chức cũng như hình ảnh của các cơ quan thi hành án dân sự[9]. Công tác thanh tra, kiểm tra, tự kiểm tra trong thời gian qua tuy đã có tiến bộ bước đầu nhưng chưa thực sự phát huy được vai trò là công cụ đắc lực phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành trong nội bộ các cơ quan thi hành án dân sự. Chương trình kiểm tra chưa sát với đối tượng kiểm tra, kiểm tra đôi lúc mang tính hình thức, chưa phát hiện được nhiều sai sót trong quá trình quản lý.

Công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa thực sự có hiệu quả, tiến độ giải quyết đơn thư còn chậm, chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu. Tại một số địa phương, chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo ở cấp cơ sở (Chi cục, Cục) còn thấp dẫn đến số đơn, thư khiếu nại, tố cáo gửi lên cấp Cục, Tổng cục còn nhiều... Số vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài chưa được giải quyết dứt điểm còn nhiều. Bên cạnh đó, nhiều vụ việc đã có sự chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ Tư pháp và Tổng cục Thi hành án dân sự, song quá trình giải quyết chưa căn cứ vào sự chỉ đạo đó dẫn đến kéo dài vụ việc và hiệu quả không cao.

2.2. Những nguyên nhân chủ yếu

Thứ nhất, về nguyên nhân chủ quan, do năng lực quản lý của các chủ thể quản lý chưa cao. Kỹ năng quản lý chưa được trau dồi để phù hợp với đối tượng quản lý là thi hành án dân sự - một trong những lĩnh vực đặc thù, khó quản lý. Nhiều trường hợp vi phạm pháp luật, tiêu cực, tham nhũng, gây khó khăn cho đương sự chưa được phát hiện và xử lý dẫn đến gia tăng vi phạm. Công tác quản lý thông qua thanh tra, kiểm tra còn mang tính hình thức. Hơn nữa, cơ chế hậu kiểm, phúc tra việc thực hiện kết luận kiểm tra của các đơn vị được kiểm tra vẫn còn là một khâu yếu, chưa được quan tâm thực hiện. Công tác phối hợp với các đơn vị có liên quan (Tòa án, Viện kiểm sát, công an...), với cấp ủy, chính quyền địa phương trong công tác thi hành án dân sự có lúc, có nơi còn thiếu chủ động, hiệu quả chưa cao mặc dù các văn bản hướng dẫn, quy chế phối hợp liên ngành khá đầy đủ. Một số nơi chưa phát huy tốt vai trò lãnh đạo của cấp ủy.

Thứ hai, về nguyên nhân khách quan, do mặt trái của nền kinh tế thị trường tác động dẫn đến nhiều vụ án và vụ việc dân sự cần thi hành án ngày càng gia tăng cả số việc và số tiền thụ lý[10]. Các cơ quan pháp luật về thi hành án dân sự những năm qua còn đang trong quá trình hoàn thiện vẫn còn thiếu đồng bộ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 mới bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/7/2015, các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn đang được tập trung xây dựng chưa được ban hành đầy đủ; một số bộ luật, luật quan trọng liên quan đến công tác thi hành án dân sự như Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 vừa mới được Quốc hội thông qua; các quy định pháp luật liên quan đến cơ chế quản lý sử dụng tiền mặt, kiểm soát tài sản, thu nhập của cá nhân, tổ chức còn chưa được hoàn thiện cũng đã hạn chế đáng kể kết quả thi hành án. Ý thức chấp hành bản án, quyết định của người phải thi hành án chưa cao, phần lớn người phải thi hành án thường tìm cách trì hoãn, kéo dài việc thi hành án, thậm chí có những trường hợp chống đối quyết liệt việc thi hành án, nhưng việc áp dụng chế tài hành chính, hình sự đối với những trường hợp này chưa đủ mạnh.

3. Giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự

Một là, cần chú trọng hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hóa các quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014. Tiến hành khẩn trương xây dựng các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành nhất là các thông tư, khắc phục những hạn chế trong quá trình quản lý nhưng thiếu luật và hướng dẫn thực hiện luật.

Hai là, nâng cao năng lực và trình độ của đội ngũ công chức thi hành án dân sự đi đôi với việc xây dựng, kiện toàn đội ngũ công chức bảo đảm cả về số lượng và chất lượng. Muốn vậy, cần chú trọng từ khâu tuyển dụng, bổ nhiệm đến sử dụng cán bộ, đồng thời tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; nâng cao các yêu cầu về đạo đức, ý thức trách nhiệm của đội ngũ công chức thi hành án dân sự cũng như đội ngũ lãnh đạo quản lý và chức danh pháp lý để đội ngũ này nâng cao tinh thần tự rèn luyện. Thực hiện đúng các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp nói chung và chuẩn mực đạo đức chấp hành viên thi hành án dân sự nói riêng gắn với việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4; đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; tăng cường kỷ luật, kỷ cương; kiên quyết xử lý nghiêm đối với những trường hợp sai phạm để làm trong sạch bộ máy, đẩy mạnh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, phấn đấu xây dựng các cơ quan thi hành án dân sự trong sạch, vững mạnh, toàn diện. Đồng thời, phối hợp tổ chức thực hiện có hiệu quả chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về thực hiện chế định Thừa phát lại, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa một số nội dung liên quan đến công tác thi hành án theo tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW của bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, hướng đến bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích của người dân; giảm tải công việc cho các cơ quan nhà nước, bớt gánh nặng cho ngân sách, góp phần tinh giản biên chế, đội ngũ cán bộ, công chức theo tinh thần Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Ba là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để bảo đảm hoạt động thanh tra, kiểm tra là thực chất, công tác kiểm tra, thanh tra phải bảo đảm phục vụ có hiệu quả công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành. Muốn vậy, các chương trình kiểm tra phải được xây dựng khoa học, có trọng tâm, trọng điểm, kiểm soát chặt chẽ hoạt động thi hành án dân sự được tiến hành đúng trình tự, thủ tục, đồng thời, chủ động phát hiện và khắc phục, xử lý kịp thời những sai phạm, thiếu sót ngay từ cơ sở, trong đó đặc biệt chú trọng kiểm tra công tác xác minh, phân loại án, kiểm tra công tác chuyên môn nghiệp vụ, công tác kế hoạch, tài chính... nhất là trong thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ về thi hành án dân sự theo nghị quyết của Quốc hội và thực hiện các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự. Bên cạnh đó, cần chú trọng hình thức thanh tra, kiểm tra đột xuất nhằm kịp thời phát hiện và chấn chỉnh những sai phạm, thiếu sót.

Bốn là, thực hiện tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, trong đó tập trung chỉ đạo sâu sát, quyết liệt đối với những vụ án lớn, những vụ phức tạp, kéo dài; rà soát, tìm hiểu rõ nguyên nhân phát sinh khiếu nại, tố cáo để có biện pháp giải quyết hiệu quả, kịp thời. Định kỳ tổ chức để lãnh đạo đối thoại, tiếp công dân, kịp thời, giải thích cho đương sự hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật, góp phần hạn chế thấp nhất tình trạng khiếu nại, tố cáo vượt cấp, kéo dài.

ThS. Trương Công Lý

Tài liệu tham khảo:

1. Quyết định số 61/2014/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thi hành án dân sự trực thuộc Bộ Tư pháp.

2. Nghị quyết số 82/NQ-CP ngày 06/12/2012 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/5/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí giai đoạn 2012 - 2016 và Chỉ thị số 01/CT-BTP ngày 11/02/2014 về của Bộ trưởng Bộ Tư pháp tăng cường phòng, chống tiêu cực, tham nhũng trong thi hành án dân sự.

3. Ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự.

4. Ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh.

5. Riêng tại Tổng cục Thi hành án dân sự: Năm 2011 đã ban hành 361 văn bản (94,26%), năm 2012: 316 văn bản (95%), năm 2013: 264 văn bản (96%), năm 2014: 362 văn bản (96,53%), năm 2015: 214 văn bản (95,96%).

6 Như vụ Trần Kia (Bạc Liêu), vụ Nga - Học (Quảng Ngãi), vụ Bạch Ngọc Giáp (Hà Nội), vụ Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam (Cần Thơ), vụ Đặng Thị Thông (Bình Định)...

7. Năm 2011: 93,18%, năm 2012: 96,06%, năm 2013: 97,6%, năm 2014: 96,68%, năm 2015: 96,76%.

8. Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 2011 - 2015.

9. Như vụ việc tham ô, nhận hối lộ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang (Đà Nẵng), Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành (Tiền Giang), Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hội An (Quảng Nam).

10. Năm 2015 tăng 1,55% về việc và 32,43% về tiền so với năm 2014 và cao nhất từ trước đến nay với gần 800.000 việc, số tiền xấp xỉ 126.000 tỷ đồng.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: