Thứ hai 20/04/2026 06:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nghĩa vụ tiền hợp đồng trong hợp đồng dịch vụ của Nguyên tắc luật Châu Âu (PEL SC) và bài học kinh nghiệm trong việc hoàn thiện quy định pháp luật ở Việt Nam

Bài viết trọng tâm phân tích các nội dung trong quy định về nghĩa vụ tiền hợp đồng trong hợp đồng dịch vụ (tên gọi là Service contract) của Nguyên tắc chung về luật Châu Âu (Principles of European Law - viết tắt PEL). Trên cơ sở các phân tích này, tác giả đưa ra kiến nghị hoàn thiện chế định nghĩa vụ tiền hợp đồng của hợp đồng dịch vụ trong bối cảnh dự thảo Bộ luật Dân sự năm 2005 sửa đổi (gọi tắt là Dự thảo Bộ luật) đang lấy ý kiến nhân dân.

1. Một số vấn đề cơ bản về nghĩa vụ tiền hợp đồng, hợp đồng dịch vụ và hợp đồng dịch vụ trong nguyên tắc luật hợp đồng Châu Âu

1.1. Khái quát nghĩa vụ tiền hợp đồng

Xuất phát từ thực tiễn thực hiện hợp đồng, đặc biệt các tranh chấp xảy ra mà luật sư người Đức Rudolph Von Jhering là người đầu tiên đưa ra học thuyết về nghĩa vụ tiền hợp đồng Culpa in contrahendo vào năm 1861[1]. Hợp đồng chỉ có thể được thực hiện và đem lại lợi ích cho các bên chủ thể một cách tốt nhất khi nội dung hợp đồng được giao kết phản ánh gần nhất mong muốn, tiệm cận gần nhất lợi ích thực sự của các chủ thể. Để đạt được mục tiêu này, giai đoan trước khi hợp đồng được giao kết, các bên phải thực hiện tốt các nghĩa vụ của mình như nghĩa vụ cung cấp thông tin, đảm bảo sự trung thực, thiện chí. Chính sự phù hợp với thực tiễn nên học thuyết dần dần được thừa nhận, đánh dấu bước nhảy vọt thông qua việc pháp luật các quốc gia ghi nhận dưới tên gọi như precontractual liability hoặc culpa in contrachendoc (pháp luật Đức, Pháp…), được thừa nhận trong phán quyết của Tòa án (Anh, Hoa Kỳ) hay trong các bộ nguyên tắc về hợp đồng mang tính chất quốc tế như: Nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế (Pricinples of international commercial contracts - viết tắt là PICC), Nguyên tắc về luật hợp đồng Châu Âu (Priciples of European contract law - viết tắt là PECL). Về cơ bản, nghĩa vụ tiền hợp đồng mang các đặc trưng: (1) Thời điểm phát sinh nghĩa vụ tiền hợp đồng là trước khi các bên tiến hành ký kết hợp đồng; (2) Căn cứ phát sinh nghĩa vụ tiền hợp đồng là các quy định của pháp luật dưới sự chi phối của nguyên tắc trung thực, thiện chí. Đây cũng là cơ sở để khẳng định nghĩa vụ tiền hợp đồng là các nghĩa vụ do luật định; (3) Nghĩa vụ tiền hợp đồng là cơ sở làm phát sinh trách nhiệm dân sự nếu có hành vi vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng. Do đó, nghĩa vụ tiền hợp đồng được hiểu là các xử sự mà pháp luật buộc các bên chủ thể trước khi tham gia ký kết hợp đồng phải thực hiện và trong trường hợp các bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu các hậu quả pháp lý mang tính chất bất lợi cho mình.

1.2. Khái quát hợp đồng dịch vụ

Pháp luật Việt Nam hiện nay có sự phân biệt giữa thương mại với dân sự trong lĩnh vực luật tư. Thương mại vốn dĩ đi từ gốc dân sự của lĩnh vực tư (hay còn được coi là dân sự theo nghĩa rộng), khi các hoạt động kinh tế “có một khối lượng nhất định về sản xuất và trao đổi, khi quan hệ quốc tế trở nên sôi động và khi có một sự tự do vừa đủ cho các thương gia”[2], tức là hàng hóa, dịch vụ trở thành đối tượng được trao đổi trên thị trường thì thương mại ra đời. Trong lĩnh vực dịch vụ, các chủ thể thiết lập quan hệ với nhau trên cơ sở hợp đồng. Đối với dịch vụ thương mại, hợp đồng sẽ chịu sự điều chỉnh bởi các nguyên tắc chung về hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 (sau đây gọi tắt là Bộ luật) và các quy định riêng nằm trong Luật Thương mại. Đối với dịch vụ không mang tính thương mại (hay còn gọi dịch vụ dân sự) sẽ chịu sự điều chỉnh bởi chế định hợp đồng dịch vụ - một hợp đồng dân sự thông dụng được ghi nhận trong Bộ luật. Bản chất hợp đồng dịch vụ là sự kết hợp giữa bản chất của hợp đồng dân sự với bản chất của dịch vụ - đối tượng của hợp đồng. Hợp đồng dịch vụ được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa bên cung ứng dịch vụ với bên thuê dịch vụ nhằm làm phát sinh ràng buộc pháp lý như bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện một công việc mang tính dịch vụ xác định cho bên thuê dịch vụ hoặc người thứ ba (trong trường hợp hợp đồng dịch vụ vì lợi ích của người thứ ba), bên thuê dịch vụ có nghĩa vụ tiếp nhận kết quả công việc, trả tiền dịch vụ… Như vậy, hợp đồng dịch vụ có thể được xem xét dưới nhiều giác độ: Là một căn cứ phát sinh quan hệ trái quyền; căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự; một chế định trong Bộ luật; hoặc là một bằng chứng ghi nhận phạm vi quyền, nghĩa vụ của các bên chủ thể. Hợp đồng dịch vụ hiện nay được Bộ luật định nghĩa tại Điều 518: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ”. Như vậy, khái niệm hợp đồng dịch vụ hiện nay được xem xét dưới góc độ là căn cứ phát sinh quan hệ trái quyền, căn cứ hình thành quan hệ nghĩa vụ với đặc trưng cơ bản về đối tượng là công việc phải thực hiện, mang tính song vụ và có tính chất đền bù.

1.3. Khái quát về hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắc luật Châu Âu (PEL SC)

Trên lộ trình hướng tới xây dựng Bộ luật Dân sự Châu Âu (European Civil Code), liên minh Châu Âu (European Union) đang từng bước xây dựng nhiều quy định chung mang tính chất tham chiếu cho các quan hệ phát sinh, thực hiện trên khu vực này, điển hình là Nguyên tắc chung về luật hợp đồng Châu Âu (Principles of European Contract Law - viết tắt PECL). Trong các quy định chung về hợp đồng, liên minh Châu Âu đang hướng tới xây dựng bảng tham chiếu về hợp đồng dịch vụ đóng vai trò như “hộp công cụ” nhằm hỗ trợ cho các chủ thể trong quan hệ hợp đồng này trong quá trình xây dựng nội dung, giao kết, thực hiện, chấm dứt hợp đồng cũng như trách nhiệm của các bên khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ. Hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắc luật Châu Âu được chia thành 7 chương[3].

2. Nội dung quy định về nghĩa vụ tiền hợp đồng trong hợp đồng dịch vụ của Nguyên tắc luật Châu Âu

Trong các quy định chung về hợp đồng dịch vụ của Nguyên tắc luật Châu Âu, tại Điều 1:103[4] ghi nhận cụ thể về nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng của bên cung ứng dịch vụ và bên thuê dịch vụ. Nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng bao gồm các nội dung:

Thứ nhất, quy định về nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng của bên cung ứng dịch vụ, trường hợp miễn không áp dụng nghĩa vụ này đối với bên cung ứng dịch vụ cũng như hậu quả pháp lý khi bên cung ứng dịch vụ vi phạm nghĩa vụ này của mình. Bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng trong các trường hợp cụ thể nhất định. Tại khoản (1) của Điều luật ghi nhận rằng bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ cảnh báo khi bản thân chủ thể này biết hoặc phải biết những rủi ro khi cung ứng dịch vụ trong ba trường hợp cụ thể: Không đạt được kết quả như đã thỏa thuận hoặc dự liệu đối với khách hàng; có thể gây thiệt hại khác cho lợi ích của khách hàng; hoặc có thể làm tăng chi phí hoặc tăng thời gian so với dự kiến hợp lý ban đầu đã thỏa thuận với khách hàng. Xuất phát từ bản chất của dịch vụ là các công việc được thực hiện chuyên nghiệp, mang tính chất ngành nghề kinh doanh, ngành nghề hoạt động hoặc nghề nghiệp của cá nhân, nên khi trở thành người cung ứng dịch vụ, chủ thể này được kỳ vọng và tin tưởng là người thực hiện công việc chuyên nghiệp và có chuyên môn. Chính vì thế nên bên cung ứng dịch vụ được coi là có kinh nghiệm trong việc dự đoán, nắm bắt và xử lý các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình cung ứng dịch vụ.

Tuy nhiên, nhà làm luật của Châu Âu cũng đã dự liệu trường hợp không áp dụng nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng cho bên cung ứng dịch vụ. Theo ghi nhận tại khoản (2) của Điều luật này, nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng sẽ không được áp dụng khi khách hàng: Hoàn toàn biết các rủi ro có thể xảy ra trong các trường hợp áp dụng nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng; và có cơ sở để biết về những rủi ro có thể gặp phải khi dịch vụ được thực hiện. Như vậy, khi bản thân khách hàng bằng nhận thức của mình hoặc có cơ sở để khẳng định rằng họ nhận thức được các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thực hiện dịch vụ thì bên cung ứng dịch vụ sẽ không phải thực hiện nghĩa vụ cảnh báo của mình. Điều đó cho thấy, nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng của Bên cung ứng dịch vụ nhằm bảo vệ khách hàng trong trường hợp mặc định hiểu rằng, khách hàng là người không có đủ kinh nghiệm và chuyên môn để nhận biết trước các rủi ro khi so sánh với bên cung ứng dịch vụ - người thực hiện dịch vụ chuyên nghiệp.

Khi bên cung ứng dịch vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình dẫn đến những rủi ro xảy ra thì bên thuê dịch vụ có quyền: Không chấp nhận thay đổi dịch vụ theo như nguyên tắc được quy định tại Điều 1:111. Tuy nhiên, bản thân trường hợp này cũng có ngoại lệ. Khi bên cung ứng dịch vụ chứng minh được khách hàng đã được cảnh báo đầy đủ nhưng vẫn chấp nhận tham gia vào hợp đồng; và khách hàng có quyền tự mình khắc phục thiệt hại như tại trường hợp đã được ghi nhận trong Điều 4:117 (2) và (3) của hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắc luật Châu Âu. Như vậy, các quy định chung của hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắc luật Châu Âu đã tạo nên thế chủ động đối phó của bên thuê dịch vụ đối với các tình huống có thể xảy ra và nguyên nhân sâu xa là sẽ giảm thiểu được thiệt hại cho bản thân mình.

Thứ hai, hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắc luật Châu Âu quy định nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng của bên thuê dịch vụ và những hậu quả pháp lý đặt ra khi chủ thể này có hành vi phạm nghĩa vụ của mình. Khi bên thuê dịch vụ biết và phải biết được các sự kiện bất thường mà sự kiện này là nguyên nhân tăng chi phí dịch vụ hoặc kéo dài thời gian thực hiện dịch vụ thì phải có nghĩa vụ cảnh báo cho bên cung ứng dịch vụ. Trường hợp này thường áp dụng khi điều kiện khách quan có thay đổi bất thường mà chỉ có bên thuê dịch vụ mới biết. Nội dung này được ghi nhận tại khoản (4) của Điều luật 1:103.

Bên thuê dịch vụ khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng thì bên thuê dịch vụ cũng phải gánh chịu những trách nhiệm pháp lý bất lợi cho mình. Tại khoản (5) của Điều 1:103, nhà làm luật quy định: (a) Bên cung ứng dịch vụ không phải gánh chịu thiệt hại xảy ra khi dịch vụ không thể thực hiện được do sự kiện bất thường mà Bên cung ứng dịch vụ không được cảnh báo đầy đủ; (b) Bên cung ứng dịch vụ có quyền điều chỉnh thời gian thực hiện dịch vụ trên cơ sở yêu cầu thực tế. Điều đó có thể hiểu, khi thiệt hại xảy ra do lỗi của bên thuê dịch vụ không thông báo sự kiện bất thường ảnh hưởng trực tiếp thực hiện dịch vụ thì chính chủ thể này sẽ phải gánh chịu thiệt hại, không được bên cung ứng dịch vụ bồi thường hoặc chịu sự điều chỉnh thời gian từ phía chủ thể này.

Thứ ba, hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắc luật Châu Âu đưa ra căn cứ để xác định nghĩa vụ tiền hợp đồng của Bên cung ứng dịch vụ và Bên thuê dịch vụ. Theo đó, tại khoản (6) Điều 1:103, bên cung ứng dịch vụ khi có đầy đủ ba yêu cầu: Biết về những rủi ro rõ ràng trong trường hợp những rủi ro đấy được xác định trên cơ sở kinh nghiệm cung ứng dịch vụ trong cùng điều kiện, hoàn cảnh của mình hoặc những nhà cung ứng cùng loại; thông tin được thu thập từ yêu cầu kết quả của khách hàng; và điều kiện cụ thể để thực hiện dịch vụ thì bên cung ứng phải thực hiện nghĩa vụ cảnh báo. Việc quy định minh thị về điều kiện xác định phải có nghĩa vụ cảnh báo của bên cung ứng dịch vụ là một bước tiến lớn bởi theo quan niệm truyền thống thông thường, các yếu tố như kinh nghiệm, chuyên nghiệp, chuyên môn, trách nhiệm của nhà cung ứng dịch vụ… đều là các vấn đề khó định lượng, khó xác định. Những điều kiện này sẽ cơ sở pháp lý trong việc xác định nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng của bên cung ứng dịch vụ.

Hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắc luật Châu Âu làm rõ điều kiện “có cơ sở để nhận thức” của bên thuê khách hàng khi chủ thể này có nghĩa vụ cảnh báo tới bên cung ứng dịch vụ. Người thuê dịch vụ không được coi là biết hoặc buộc phải biết về rủi ro chỉ đơn thuần do người đó có chuyên môn, trình độ hoặc được tư vấn bởi người có chuyên môn, trình độ trong lĩnh vực có liên quan, trừ trường hợp người đó là đại diện cho khách hàng trong trường hợp sử dụng dịch vụ tương tự. Từ quy định này cho thấy, yêu cầu đối với bên thuê dịch vụ trong nghĩa vụ cảnh báo đặt ra thấp hơn so với Bên cung ứng dịch vụ. Điều này xuất phát từ quan niệm của các nhà làm luật về tính chất dịch vụ cũng như trách nhiệm của bên thực hiện công việc chuyên nghiệp, có chuyên môn và giàu kinh nghiệm là bên cung ứng dịch vụ.

Nguyên tắc luật hợp đồng Châu Âu nói chung và Hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắc luật Châu Âu nói riêng được đánh giá là bộ nguyên tắc về hợp đồng tiên tiến theo kịp hơi thở hiện đại của các giao dịch kinh tế hiện nay. Những quy định nằm trong bộ nguyên tắc này có giá trị tham khảo lớn đối với pháp luật của nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

3. Bài học kinh nghiệm trong việc hoàn thiện chế định nghĩa vụ tiền hợp đồng của hợp đồng dịch vụ trong bối cảnh sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005

Trong Bộ luật hiện hành, chế định nghĩa vụ tiền hợp đồng nói chung và nghĩa vụ tiền hợp đồng trong hợp đồng dịch vụ nói riêng dường như còn khá “xa lạ”. Bộ luật hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận nghĩa vụ tôn trọng quyền trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng của bên đề nghị giao kết hợp đồng với bên được đề nghị giao kết hợp đồng[5] hay điều kiện áp dụng quyền sửa đổi, rút hoặc hủy bỏ lời đề nghị giao kết hợp đồng. Nghĩa vụ tiền hợp đồng chưa được thừa nhận chính thống, rõ ràng và minh bạch. Điều này xuất phát từ việc tôn trọng học thuyết bất biến trong quan hệ hợp đồng. Nghĩa vụ tiền hợp đồng cần được ghi nhận mang tính nguyên tắc dành chung cho các hợp đồng dân sự. Nghĩa vụ này được coi là trường hợp cụ thể của nguyên tắc thiện chí, trung thực của các chủ thể khi bắt đầu đàm phán và giao kết hợp đồng.

Hợp đồng dịch vụ với đặc trưng gắn liền các thông tin cung cấp cũng như chịu sự chi phối sâu sắc điều kiện khách quan thực hiện công việc nên nghĩa vụ tiền hợp đồng cần được quy định cụ thể, rõ ràng và bao quát. Trên cơ sở phân tích các quy định của hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắc luật Châu Âu cho thấy, các bài học kinh nghiệm trong việc hoàn thiện chế định nghĩa vụ tiền hợp đồng đối với hợp đồng này như sau:

Thứ nhất, cần xác định phạm vi nghĩa vụ tiền hợp đồng phù hợp với tính chất dịch vụ trong hợp đồng dịch vụ. Hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắc luật Châu Âu mới chỉ dừng lại quy định về nghĩa vụ cảnh báo dành cho bên cung ứng dịch vụ và bên thuê dịch vụ đối với nhau. Tuy nhiên, để xác định được tính chất, phạm vi của công việc mang tính dịch vụ thì trước khi tiến hành đàm phán, giao kết hợp đồng dịch vụ, các bên phải tiến hành cung cấp thông tin trung thực, đầy đủ, đặc biệt là bên thuê dịch vụ. Trên thực tiễn, bên thuê dịch vụ có thể điền vào các mẫu yêu cầu dịch vụ, mẫu cung cấp thông tin… Do đó, phạm vi của nghĩa vụ tiền hợp đồng phải bao gồm cả nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan việc xác định phạm vi công việc. Bên cạnh đó, khi hoàn cảnh khách quan thay đổi mà các bên không dự liệu được trong khi đã hoàn thành đàm phán phần nội dung này mà cả hai bên chủ thể đều mong muốn tiếp tục đàm phán để đi đến ký kết hợp đồng thì các bên cần tuân thủ nghĩa vụ đàm phán lại. Việc đàm phán lại khi hoàn cảnh thay đổi sẽ tránh lãng phí các chi phí, thời gian dành cho hoạt động đàm phán hợp đồng. Theo quan điểm người viết, phạm vi nghĩa vụ tiền hợp đồng bao gồm các nghĩa vụ cụ thể: Nghĩa vụ cung cấp thông tin trung thực, chính xác; Nghĩa vụ cảnh báo của các bên về các rủi ro có thể xảy ra; Nghĩa vụ tôn trọng quyền trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng; Nghĩa vụ đàm phán lại khi hoàn cảnh thay đổi.

Thứ hai, xác định cụ thể trách nhiệm trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng trong hợp đồng dịch vụ. Trong hợp đồng dịch vụ của Nguyên tắc luật Châu Âu ghi nhận quyền của các bên khi bên kia vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng. Tuy nhiên, trong các quy định này không đề cập đến trách nhiệm pháp lý khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng. Trách nhiệm pháp lý áp dụng cho các chủ thể cũng có thể tuân theo một trong hai trách nhiệm đang được luật hợp đồng truyền thống ghi nhận: (1) Trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ mà đã vi phạm. Trách nhiệm này áp dụng đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng khá đặc thù. Thông thường, các bên chủ thể phải có thành ý và mong muốn tiếp tục được đàm phán, giao kết hợp đồng thì sẽ áp dụng loại trách nhiệm này; (2) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại áp dụng khi các bên vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng của mình gây ra thiệt hại thực tế cho bên kia. Trong nhiều trường hợp, khi bên thuê dịch vụ sử dụng phương pháp “tung hỏa mù” - tức là ký hợp đồng với một bên nhưng lại đàm phán với nhiều nhà dịch vụ khác nhau nhằm mục đích buộc bên cung ứng dịch vụ mà mình mong muốn thúc đẩy nhanh quá trình giao kết hợp đồng, nên cung cấp thông tin thiếu trung thực, đầy đủ với các đối tác còn lại làm cho những nhà cung ứng dịch vụ này mất nhiều chi phí cho hoạt động đàm phán trên cơ sở cung cấp thông tin không trung thực, đầy đủ (như chi phí đi lại, ăn ở, nhân lực…).

Thứ ba, xác định các trường hợp được không áp dụng nghĩa vụ tiền hợp đồng trong hợp đồng dịch vụ. Theo quy định của hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắc luật Châu Âu, do nghĩa vụ tiền hợp đồng dừng lại ở nghĩa vụ cảnh báo rủi ro nên trong trường hợp bên kia đã biết và buộc phải biết những rủi ro đó thì bên này không có nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng. Do đó, đối với từng loại nghĩa vụ tiền hợp đồng trong hợp đồng dịch vụ cần phải quy định cụ thể các trường hợp không cần áp dụng nghĩa vụ tiền hợp đồng, cụ thể:

- Nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng: nghĩa vụ cung cấp các thông tin mang tính chất đặc thù, ảnh hưởng trực tiếp đến thực hiện hợp đồng dịch vụ. Nhóm thông tin mang tính chất phổ biến hoặc có cơ sở khẳng định bên kia đã biết đầy đủ các thông tin chi phối đến thực hiện hợp đồng thì sẽ không áp dụng nghĩa vụ này.

- Nghĩa vụ đàm phán lại hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi: Hoàn cảnh thay đổi chỉ làm phát sinh nghĩa vụ đàm phán lại khi nó ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của các bên chủ thể, vi phạm nghiêm trọng “lẽ công bằng”[6] khi một bên phải gánh chịu những thiệt hại quá lớn một cách vô lý. Tuy nhiên, trong trường hợp do chính sách nhà nước thay đổi (như các trường hợp cấm không được thực hiện hành vi cụ thể) thì không thể áp dụng nghĩa vụ đàm phán lại do hoàn cảnh thay đổi. Trường hợp này cũng là một trường hợp miễn áp dụng nghĩa vụ tiền hợp đồng.

ThS. Kiều Thị Thùy Linh

Đại học Luật Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.

Theo dõi chúng tôi trên: