Thứ sáu 13/03/2026 10:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Nghị định số 111/2010/NĐ-CP ngày 23/11/2010 của Chính phủ

Bài viết nghiên cứu nội dung Nghị định số 111/2010/NĐ-CP ngày 23/11/2010 của Chính phủ, từ đó, tác giả đưa ra đề xuất sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Nghị định này góp phần hoàn thiện thể chế về lý lịch tư pháp.

Ngày 23/11/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 111/2010/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Lý lịch tư pháp (Nghị định số 111/2010/NĐ-CP) tạo cơ sở pháp lý nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác triển khai xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, làm cơ sở cho việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp được thuận lợi; đưa công tác quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp ngày càng hiệu quả ở cả trung ương và địa phương. Tuy nhiên, qua hơn 13 năm thi hành, Nghị định số 111/2010/NĐ-CP đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần sửa đổi, bổ sung để góp phần hoàn thiện thể chế về lý lịch tư pháp.

1. Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Nghị định số 111/2010/NĐ-CP

Chủ trương, chính sách về chuyển đổi số quốc gia trong giai đoạn hiện nay đã được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, thể chế hóa vào tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, các Nghị quyết của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030. Một trong những chủ trương, chính sách của Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là “… Hoàn thiện pháp luật, chính sách về dữ liệu, quản trị dữ liệu, tạo thuận lợi cho việc tạo dựng, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu bảo đảm an toàn, an ninh mạng trong nước...”. Ngày 07/3/2019, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 17/NQ-CP về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thúc đẩy việc xây dựng Chính phủ điện tử, trong đó nhiệm vụ cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến được Chính phủ đặc biệt quan tâm. Để nâng cao hiệu quả trong giải quyết thủ tục hành chính, Chính phủ ban hành Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 107/2021/NĐ-CP ngày 06/12/2021 của Chính phủ); Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 về thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, trong đó có hoạt động cấp Phiếu lý lịch tư pháp, theo đó, bên cạnh việc trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính bản giấy, cơ quan giải quyết thủ tục hành chính có thể trả kết quả thủ tục hành chính bản điện tử.

Một số văn bản ban hành như: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Phí và lệ phí… có quy định mới có liên quan đến công tác lý lịch tư pháp đòi hỏi phải hoàn thiện để nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

Ngày 09/7/2023, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 23/CT-TTg về việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp (Chỉ thị số 23/CT-TTg). Trong đó, Chỉ thị số 23/CT-TTg đã đặt ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp phải thực hiện trong giai đoạn hiện nay nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác lý lịch tư pháp.

Sau hơn 13 năm thi hành, một số quy định của Nghị định số 111/2010/NĐ-CP chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn và pháp luật ban hành gần đây. Cụ thể như:

Một là, quy định của Nghị định số 111/2010/NĐ-CP chưa đáp ứng được yêu cầu về tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, thực hiện chuyển đổi số, xây dựng Chính phủ điện tử, cụ thể:

- Nghị định số 111/2010/NĐ-CP đã quy định về việc cung cấp thông tin giữa Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp và cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu khác. Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh hiện nay thì cần phải có quy định về việc Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp phải kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trong dự thảo Nghị định để bảo đảm phù hợp với quy định của Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của các cơ quan nhà nước, Quyết định số 1911/QĐ-TTg ngày 15/11/2021 về việc thực hiện kết nối, chia sẻ giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và phục vụ cho việc triển khai Đề án phát triển ứng dụng cơ sở dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia trong giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06).

- Nghị định số 111/2010/NĐ-BTP quy định về dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử đó là: “Dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử bao gồm thông tin lý lịch tư pháp có trong hồ sơ lý lịch tư pháp bằng giấy đã được chuyển sang dạng dữ liệu điện tử”. Tuy nhiên, hiện nay, quy định này không còn phù hợp với bối cảnh ứng dụng công nghệ thông tin mạnh mẽ, dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử có thể được tạo lập, hình thành từ thông tin dưới dạng điện tử do các cơ quan có liên quan cung cấp hoặc do được chia sẻ, kết nối với cơ sở dữ liệu khác cơ liên quan.

- Chỉ thị số 23/CT-TTg đặt ra nhiệm vụ phải đẩy mạnh số hóa, hoàn thiện Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, tuy nhiên, hiện nay, chưa có quy định về việc số hóa Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Do đó, cần thiết sửa đổi, bổ sung Nghị định số 111/NĐ-CP để thực hiện nhiệm vụ này.

Hai là, chưa có quy định cụ thể về việc tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính về cấp Phiếu lý lịch tư pháp trên môi trường điện tử.

Hiện nay, chỉ thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp dưới dạng văn bản giấy mà chưa có quy định về Phiếu lý lịch tư pháp điện tử. Vì vậy, để phù hợp với các quy định mới có liên quan đồng thực hiện chủ trương về việc xây dựng Chính phủ điện tử, đẩy mạnh giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường mạng, bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành về triển khai dịch vụ công trực tuyến cần có quy định về Phiếu lý lịch tư pháp điện tử, quy trình, thủ tục thực hiện thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp trên môi trường điện tử để nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, cơ quan, tổ chức khi yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp và sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp.

Ba là, tăng cường việc sử dụng, khai thác Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp để phục vụ công tác cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo quy định.

Hiện nay, Nghị định số 111/2010/NĐ-CP chưa có quy định về việc phân quyền cho Sở Tư pháp sử dụng, khai thác Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia phục vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp nhằm tăng tính chủ động, chịu trách nhiệm, giảm thời gian, chi phí thực hiện thủ tục hành chính theo nhiệm vụ được giao tại Chỉ thị số 23/CT-TTg.

Bốn là, quy định về việc phối hợp xác minh thông tin về điều kiện đương nhiên xóa án tích chưa phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 17 Nghị định số 111/2010/NĐ-CP quy định về việc xác minh thông tin về điều kiện đương nhiên được xóa án tích trên cơ sở quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, Điều 17 Nghị định số 111/2010/NĐ-CP không còn phù hợp do Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã có những quy định mới về điều kiện đương nhiên được xóa án tích.

Năm là, thực tiễn công tác tra cứu, xác minh thông tin lý lịch tư pháp về án tích có trước ngày 01/7/2010 tại cơ quan có liên quan còn khó khăn, vướng mắc.

Trên thực tế, nhiều trường hợp thông tin không đầy đủ; thông tin bị mất, thất lạc, nhiều cơ quan không còn lưu giữ được thông tin nên không trả lời đề nghị tra cứu xác minh của Sở Tư pháp hoặc trả lời không có thông tin. Sở Tư pháp đã thực hiện nhiều phương thức xác minh khác nhau (công văn, xác minh trực tiếp, điện thoại, fax...), dù đã quá thời hạn nhưng vẫn không có thông tin. Nguyên nhân chủ yếu là các thông tin này đã quá lâu, chủ yếu những thông tin những năm 1970 đến những năm 1990, đồng thời là việc sáp nhập địa giới hành chính, chuyển trụ sở nên ảnh hưởng công tác lưu trữ của một số cơ quan. Thực tế này dẫn đến khó khăn, lúng túng cho Sở Tư pháp, gây ra tình trạng chậm thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp, có trường hợp kéo dài hằng tháng, gây bức xúc cho người dân.

Đặt trong bối cảnh cấp thiết phải đổi mới, phải tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin một cách mạnh mẽ vào hoạt động của Chính phủ nói chung và và công tác quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp nói riêng nói riêng thì việc hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực lý lịch tư pháp, trong đó có nhiệm vụ về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 111/2010/NĐ-CP để đáp ứng chủ trương, chính sách mới của Nhà nước và Chính phủ là thực sự cần thiết.

2. Một số yêu cầu đặt ra và đề xuất nội dung sửa đổi, bổ sung Nghị định số 111/2010/NĐ-CP nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành

2.1. Một số yêu cầu đặt ra khi sửa đổi, bổ sung Nghị định số 111/2010/NĐ-CP

- Bảo đảm đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bảo đảm quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong Luật Lý lịch tư pháp và một số biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành Luật Lý lịch tư pháp.

- Bảo đảm thực hiện chủ trương cải cách hành chính, cải cách tư pháp và phù hợp với tình hình thi hành Luật Lý lịch tư pháp hiện nay.

- Quy định khoa học, hợp lý về cơ chế phối hợp cung cấp thông tin để xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp và tạo thuận lợi nhất cho cá nhân, cơ quan, tổ chức nhưng không làm thay đổi phạm vi, đối tượng của Nghị định số 111/2010/NĐ-CP hiện nay.

- Bảo đảm khắc phục những bất cập, khó khăn trong thực tiễn thi hành hiện nay và bảo đảm phù hợp với các quy định mới có liên quan.

2.2. Đề xuất một số nội dung sửa đổi, bổ sung Nghị định số 111/2010/NĐ-CP

- Sửa đổi, bổ sung quy định về kết nối, chia sẻ thông tin giữa Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cơ sở dữ liệu khác của các bộ, ngành, địa phương tại Điều 5 Nghị định số 111/2010/NĐ-CP như sau: “Điều 5. Kết nối, chia sẻ thông tin giữa Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cơ sở dữ liệu khác của các bộ, ngành, địa phương

Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp được kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và các cơ sở dữ liệu khác của bộ, ngành, địa phương có liên quan theo quy định của pháp luật về lý lịch tư pháp và pháp luật về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của các cơ quan nhà nước trên. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu được thực hiện trên cơ sở thống nhất giữa Bộ Tư pháp và cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu về phạm vi, hình thức, cấu trúc dữ liệu kết nối, trách nhiệm của các cơ quan nhằm bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và bảo vệ bí mật cá nhân”.

- Bổ sung quy định về trình tự, thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp trên môi trường điện tử thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh, qua ứng dụng VneID hoặc ứng dụng cung cấp dịch vụ hành chính công khác. Quy định về giá trị của Phiếu lý lịch tư pháp điện tử và phương thức cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Bên cạnh đó, nhằm hạn chế tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp; bảo đảm giữ bí mật thông tin lý lịch tư pháp theo quy định: Đề xuất bổ sung quy định về việc cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thực hiện yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp của cá nhân theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Luật Lý lịch tư pháp trên Cổng dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh không yêu cầu cá nhân nộp hoặc xuất trình Phiếu lý lịch tư pháp để phục vụ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.

- Sửa đổi tên và khoản 1 Điều 17 quy định về việc phối hợp xác minh về hành vi phạm tội mới: Để bảo đảm phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về điều kiện đương nhiên được xóa án tích, đề xuất sửa đổi tên Điều 17 thành “Phối hợp xác minh về hành vi phạm tội mới”, đồng thời, sửa đổi khoản 1 Điều 17 của Nghị định số 111/1010/NĐ-CP.

- Sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm đẩy mạnh số hóa, hoàn thiện Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp và giải quyết thủ tục hành chính cho người dân như:

+ Sửa đổi khoản 3 Điều 19 quy định về dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử như sau: “3. Dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử là dữ liệu được kết nối, chia sẻ giữa Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cơ sở dữ liệu khác có liên quan hoặc được tạo lập trên cơ sở cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp của cá nhân theo quy định của pháp luật về lý lịch tư pháp, bằng thiết bị số, trong môi trường mạng, thông qua các Phần mềm chuyên ngành về lý lịch tư pháp”.

+ Bổ sung khoản 5 Điều 19 quy định về số hóa dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử như sau:

“5. Số hóa dữ liệu lý lịch tư pháp là quá trình chuyển đổi thông tin đang được thể hiện trong hồ sơ lý lịch tư pháp bằng giấy sang dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử.

Số hoá dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử được thực hiện trên cơ sở các Phần mềm chuyên ngành về lý lịch tư pháp do Bộ Tư pháp xây dựng, thiết kế, cung cấp cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp để thực hiện cập nhật, xử lý, quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử”.

+ Sửa đổi khoản 2 Điều 22 nhằm quy định về việc phân quyền khai thác Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp như sau:

“2. Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia thực hiện khai thác, tra cứu thông tin tại Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Trung tâm và Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Sở Tư pháp để phục vụ thống kê, báo cáo, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong phạm vi cả nước và cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo thẩm quyền.

Sở Tư pháp thực hiện khai thác, tra cứu thông tin tại Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại địa phương và Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia phục vụ thống kê, báo cáo về việc quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại địa phương và cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo thẩm quyền”.

- Để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp trong trường hợp đã quá thời hạn tra cứu, xác minh nhưng các cơ quan có thẩm quyền không có văn bản trả lời hoặc có văn bản trả lời về việc không có thông tin về tình trạng án tích của người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, đề xuất bổ sung quy định cho phép Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp và xác nhận là không có án tích cho người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp nếu các kết quả tra cứu, xác minh thông tin khác cho thấy không có thông tin về cá nhân bị kết án bởi bản án có hiệu lực pháp luật. Quy định nêu trên phù hợp với nguyên tắc suy đoán vô tội quy định tại khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”, bảo đảm có lợi cho người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

- Sửa đổi khoản 1, khoản 2 Điều 25 quy định về “Tra cứu thông tin lý lịch tư pháp về án tích tại cơ quan Công an” để khắc phục tình trạng chậm trả kết quả tra cứu thông tin, hạn chế tối đa việc trễ hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp, thực hiện chủ trương về cải cách thủ tục hành chính, đề xuất sửa đổi quy định này theo hướng: Việc gửi hồ sơ và trả kết quả tra cứu được thực hiện trên môi trường điện tử, rút ngắn thời hạn tra cứu, xác minh thông tin, đồng thời quy định thời hạn theo “ngày” (thay cho “ngày làm việc”) để bảo đảm thống nhất với quy định về thời hạn của Luật Lý lịch tư pháp (Điều 48)./.

Nguyễn Đặng Mai Linh

Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Bộ Tư pháp

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 405), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Trong không khí xuân Bính Ngọ năm 2026, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm với nhiều chính sách mang tính đột phá. Ngày 09/9/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với sức khỏe của người dân hướng đến mục tiêu xây dựng nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, tinh thần và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. Đồng chí Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, sức khỏe của người dân phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những chia sẻ của Bộ trưởng mở ra bức tranh toàn diện về định hướng chăm sóc sức khỏe suốt đời, từ phòng bệnh chủ động, giảm chi phí y tế, đến xây dựng hệ thống y tế công bằng, bền vững cho mọi người dân.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là sự kiện chính trị trọng đại, là dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển đất nước, khởi điểm lịch sử mới của dân tộc Việt Nam sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Để tạo nền tảng chính trị xác định tầm nhìn chiến lược và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIV có nhiều điểm mới, đột phá.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu cao về hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường pháp lý và thúc đẩy hội nhập, việc rà soát, đánh giá và hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bài viết phân tích mâu thuẫn hiện hành trong quy định pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, làm rõ nguyên nhân từ góc độ kỹ thuật lập pháp và tư duy điều chỉnh; đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả của pháp luật về hợp đồng, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và tạo đột phá chiến lược được đặt ra với tính cấp thiết và chiều sâu chưa từng có. Đột phá thể chế không chỉ là yêu cầu cải cách quản lý, mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển, sức cạnh tranh và bản lĩnh tự chủ của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn mới. Trên cơ sở tiếp cận thể chế như hạ tầng mềm của phát triển, bài viết phân tích vai trò trung tâm của đột phá thể chế - đặc biệt là thể chế bảo đảm thực hiện pháp luật hiệu quả, nghiêm minh và nhất quán - đối với việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030. Thông qua làm rõ những điểm mới về thể chế trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết khẳng định: chỉ khi nâng cao thực chất hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật, thể chế mới thực sự trở thành nền móng cải cách và động lực nội sinh cho phát triển nhanh, bền vững.
Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an đã xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Luật An ninh mạng theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo Luật gồm 09 chương với 58 điều, đang được thảo luận tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV; đã có 70 lượt đại biểu phát biểu ý kiến tại tổ (ngày 31/10/2025), 15 lượt đại biểu phát biểu tại hội trường (ngày 06/11/2025) và 05 Đoàn đại biểu Quốc hội gửi ý kiến bằng văn bản.
Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, phát triển kinh tế số, chuyển đổi số quốc gia, khắc phục sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và Luật An ninh mạng năm 2018, dự án Luật An ninh mạng đã được xây dựng trên cơ sở hợp nhất 02 luật nêu trên và đang được Quốc hội khóa XV xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10.
Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; đồng thời, bổ sung một số nội dung mới để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là một trong những hình thức hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, đồng thời, mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.
Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Việc xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về dân sự là yêu cầu cấp thiết khách quan, nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay trong hoạt động TTTP nói chung và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 nói riêng, đáp ứng yêu cầu của công tác này trong tình hình mới.
Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Hiện, Bộ Tư pháp đang dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự (dự thảo Luật). Trong chế định tương trợ tư pháp về dân sự, thuật ngữ “ủy thác tư pháp” được sử dụng tương đối phổ biến. Nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng thuật ngữ “ủy thác tư pháp” để thiết lập các quy phạm điều chỉnh lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự là không phù hợp và dự thảo Luật không sử dụng thuật ngữ này là hợp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: