Thứ bảy 24/10/2026 15:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Nghị định số 111/2010/NĐ-CP ngày 23/11/2010 của Chính phủ

Bài viết nghiên cứu nội dung Nghị định số 111/2010/NĐ-CP ngày 23/11/2010 của Chính phủ, từ đó, tác giả đưa ra đề xuất sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Nghị định này góp phần hoàn thiện thể chế về lý lịch tư pháp.

Ngày 23/11/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 111/2010/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Lý lịch tư pháp (Nghị định số 111/2010/NĐ-CP) tạo cơ sở pháp lý nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác triển khai xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, làm cơ sở cho việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp được thuận lợi; đưa công tác quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp ngày càng hiệu quả ở cả trung ương và địa phương. Tuy nhiên, qua hơn 13 năm thi hành, Nghị định số 111/2010/NĐ-CP đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần sửa đổi, bổ sung để góp phần hoàn thiện thể chế về lý lịch tư pháp.

1. Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Nghị định số 111/2010/NĐ-CP

Chủ trương, chính sách về chuyển đổi số quốc gia trong giai đoạn hiện nay đã được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, thể chế hóa vào tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, các Nghị quyết của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030. Một trong những chủ trương, chính sách của Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là “… Hoàn thiện pháp luật, chính sách về dữ liệu, quản trị dữ liệu, tạo thuận lợi cho việc tạo dựng, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu bảo đảm an toàn, an ninh mạng trong nước...”. Ngày 07/3/2019, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 17/NQ-CP về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thúc đẩy việc xây dựng Chính phủ điện tử, trong đó nhiệm vụ cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến được Chính phủ đặc biệt quan tâm. Để nâng cao hiệu quả trong giải quyết thủ tục hành chính, Chính phủ ban hành Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 107/2021/NĐ-CP ngày 06/12/2021 của Chính phủ); Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 về thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, trong đó có hoạt động cấp Phiếu lý lịch tư pháp, theo đó, bên cạnh việc trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính bản giấy, cơ quan giải quyết thủ tục hành chính có thể trả kết quả thủ tục hành chính bản điện tử.

Một số văn bản ban hành như: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Phí và lệ phí… có quy định mới có liên quan đến công tác lý lịch tư pháp đòi hỏi phải hoàn thiện để nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

Ngày 09/7/2023, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 23/CT-TTg về việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp (Chỉ thị số 23/CT-TTg). Trong đó, Chỉ thị số 23/CT-TTg đã đặt ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp phải thực hiện trong giai đoạn hiện nay nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác lý lịch tư pháp.

Sau hơn 13 năm thi hành, một số quy định của Nghị định số 111/2010/NĐ-CP chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn và pháp luật ban hành gần đây. Cụ thể như:

Một là, quy định của Nghị định số 111/2010/NĐ-CP chưa đáp ứng được yêu cầu về tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, thực hiện chuyển đổi số, xây dựng Chính phủ điện tử, cụ thể:

- Nghị định số 111/2010/NĐ-CP đã quy định về việc cung cấp thông tin giữa Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp và cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu khác. Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh hiện nay thì cần phải có quy định về việc Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp phải kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trong dự thảo Nghị định để bảo đảm phù hợp với quy định của Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của các cơ quan nhà nước, Quyết định số 1911/QĐ-TTg ngày 15/11/2021 về việc thực hiện kết nối, chia sẻ giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và phục vụ cho việc triển khai Đề án phát triển ứng dụng cơ sở dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia trong giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06).

- Nghị định số 111/2010/NĐ-BTP quy định về dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử đó là: “Dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử bao gồm thông tin lý lịch tư pháp có trong hồ sơ lý lịch tư pháp bằng giấy đã được chuyển sang dạng dữ liệu điện tử”. Tuy nhiên, hiện nay, quy định này không còn phù hợp với bối cảnh ứng dụng công nghệ thông tin mạnh mẽ, dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử có thể được tạo lập, hình thành từ thông tin dưới dạng điện tử do các cơ quan có liên quan cung cấp hoặc do được chia sẻ, kết nối với cơ sở dữ liệu khác cơ liên quan.

- Chỉ thị số 23/CT-TTg đặt ra nhiệm vụ phải đẩy mạnh số hóa, hoàn thiện Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, tuy nhiên, hiện nay, chưa có quy định về việc số hóa Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Do đó, cần thiết sửa đổi, bổ sung Nghị định số 111/NĐ-CP để thực hiện nhiệm vụ này.

Hai là, chưa có quy định cụ thể về việc tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính về cấp Phiếu lý lịch tư pháp trên môi trường điện tử.

Hiện nay, chỉ thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp dưới dạng văn bản giấy mà chưa có quy định về Phiếu lý lịch tư pháp điện tử. Vì vậy, để phù hợp với các quy định mới có liên quan đồng thực hiện chủ trương về việc xây dựng Chính phủ điện tử, đẩy mạnh giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường mạng, bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành về triển khai dịch vụ công trực tuyến cần có quy định về Phiếu lý lịch tư pháp điện tử, quy trình, thủ tục thực hiện thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp trên môi trường điện tử để nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, cơ quan, tổ chức khi yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp và sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp.

Ba là, tăng cường việc sử dụng, khai thác Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp để phục vụ công tác cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo quy định.

Hiện nay, Nghị định số 111/2010/NĐ-CP chưa có quy định về việc phân quyền cho Sở Tư pháp sử dụng, khai thác Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia phục vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp nhằm tăng tính chủ động, chịu trách nhiệm, giảm thời gian, chi phí thực hiện thủ tục hành chính theo nhiệm vụ được giao tại Chỉ thị số 23/CT-TTg.

Bốn là, quy định về việc phối hợp xác minh thông tin về điều kiện đương nhiên xóa án tích chưa phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 17 Nghị định số 111/2010/NĐ-CP quy định về việc xác minh thông tin về điều kiện đương nhiên được xóa án tích trên cơ sở quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, Điều 17 Nghị định số 111/2010/NĐ-CP không còn phù hợp do Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã có những quy định mới về điều kiện đương nhiên được xóa án tích.

Năm là, thực tiễn công tác tra cứu, xác minh thông tin lý lịch tư pháp về án tích có trước ngày 01/7/2010 tại cơ quan có liên quan còn khó khăn, vướng mắc.

Trên thực tế, nhiều trường hợp thông tin không đầy đủ; thông tin bị mất, thất lạc, nhiều cơ quan không còn lưu giữ được thông tin nên không trả lời đề nghị tra cứu xác minh của Sở Tư pháp hoặc trả lời không có thông tin. Sở Tư pháp đã thực hiện nhiều phương thức xác minh khác nhau (công văn, xác minh trực tiếp, điện thoại, fax...), dù đã quá thời hạn nhưng vẫn không có thông tin. Nguyên nhân chủ yếu là các thông tin này đã quá lâu, chủ yếu những thông tin những năm 1970 đến những năm 1990, đồng thời là việc sáp nhập địa giới hành chính, chuyển trụ sở nên ảnh hưởng công tác lưu trữ của một số cơ quan. Thực tế này dẫn đến khó khăn, lúng túng cho Sở Tư pháp, gây ra tình trạng chậm thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp, có trường hợp kéo dài hằng tháng, gây bức xúc cho người dân.

Đặt trong bối cảnh cấp thiết phải đổi mới, phải tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin một cách mạnh mẽ vào hoạt động của Chính phủ nói chung và và công tác quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp nói riêng nói riêng thì việc hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực lý lịch tư pháp, trong đó có nhiệm vụ về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 111/2010/NĐ-CP để đáp ứng chủ trương, chính sách mới của Nhà nước và Chính phủ là thực sự cần thiết.

2. Một số yêu cầu đặt ra và đề xuất nội dung sửa đổi, bổ sung Nghị định số 111/2010/NĐ-CP nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành

2.1. Một số yêu cầu đặt ra khi sửa đổi, bổ sung Nghị định số 111/2010/NĐ-CP

- Bảo đảm đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bảo đảm quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong Luật Lý lịch tư pháp và một số biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành Luật Lý lịch tư pháp.

- Bảo đảm thực hiện chủ trương cải cách hành chính, cải cách tư pháp và phù hợp với tình hình thi hành Luật Lý lịch tư pháp hiện nay.

- Quy định khoa học, hợp lý về cơ chế phối hợp cung cấp thông tin để xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp và tạo thuận lợi nhất cho cá nhân, cơ quan, tổ chức nhưng không làm thay đổi phạm vi, đối tượng của Nghị định số 111/2010/NĐ-CP hiện nay.

- Bảo đảm khắc phục những bất cập, khó khăn trong thực tiễn thi hành hiện nay và bảo đảm phù hợp với các quy định mới có liên quan.

2.2. Đề xuất một số nội dung sửa đổi, bổ sung Nghị định số 111/2010/NĐ-CP

- Sửa đổi, bổ sung quy định về kết nối, chia sẻ thông tin giữa Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cơ sở dữ liệu khác của các bộ, ngành, địa phương tại Điều 5 Nghị định số 111/2010/NĐ-CP như sau: “Điều 5. Kết nối, chia sẻ thông tin giữa Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cơ sở dữ liệu khác của các bộ, ngành, địa phương

Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp được kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và các cơ sở dữ liệu khác của bộ, ngành, địa phương có liên quan theo quy định của pháp luật về lý lịch tư pháp và pháp luật về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của các cơ quan nhà nước trên. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu được thực hiện trên cơ sở thống nhất giữa Bộ Tư pháp và cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu về phạm vi, hình thức, cấu trúc dữ liệu kết nối, trách nhiệm của các cơ quan nhằm bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và bảo vệ bí mật cá nhân”.

- Bổ sung quy định về trình tự, thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp trên môi trường điện tử thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh, qua ứng dụng VneID hoặc ứng dụng cung cấp dịch vụ hành chính công khác. Quy định về giá trị của Phiếu lý lịch tư pháp điện tử và phương thức cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Bên cạnh đó, nhằm hạn chế tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp; bảo đảm giữ bí mật thông tin lý lịch tư pháp theo quy định: Đề xuất bổ sung quy định về việc cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thực hiện yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp của cá nhân theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Luật Lý lịch tư pháp trên Cổng dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh không yêu cầu cá nhân nộp hoặc xuất trình Phiếu lý lịch tư pháp để phục vụ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.

- Sửa đổi tên và khoản 1 Điều 17 quy định về việc phối hợp xác minh về hành vi phạm tội mới: Để bảo đảm phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về điều kiện đương nhiên được xóa án tích, đề xuất sửa đổi tên Điều 17 thành “Phối hợp xác minh về hành vi phạm tội mới”, đồng thời, sửa đổi khoản 1 Điều 17 của Nghị định số 111/1010/NĐ-CP.

- Sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm đẩy mạnh số hóa, hoàn thiện Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp và giải quyết thủ tục hành chính cho người dân như:

+ Sửa đổi khoản 3 Điều 19 quy định về dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử như sau: “3. Dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử là dữ liệu được kết nối, chia sẻ giữa Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cơ sở dữ liệu khác có liên quan hoặc được tạo lập trên cơ sở cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp của cá nhân theo quy định của pháp luật về lý lịch tư pháp, bằng thiết bị số, trong môi trường mạng, thông qua các Phần mềm chuyên ngành về lý lịch tư pháp”.

+ Bổ sung khoản 5 Điều 19 quy định về số hóa dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử như sau:

“5. Số hóa dữ liệu lý lịch tư pháp là quá trình chuyển đổi thông tin đang được thể hiện trong hồ sơ lý lịch tư pháp bằng giấy sang dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử.

Số hoá dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử được thực hiện trên cơ sở các Phần mềm chuyên ngành về lý lịch tư pháp do Bộ Tư pháp xây dựng, thiết kế, cung cấp cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp để thực hiện cập nhật, xử lý, quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử”.

+ Sửa đổi khoản 2 Điều 22 nhằm quy định về việc phân quyền khai thác Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp như sau:

“2. Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia thực hiện khai thác, tra cứu thông tin tại Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Trung tâm và Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Sở Tư pháp để phục vụ thống kê, báo cáo, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong phạm vi cả nước và cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo thẩm quyền.

Sở Tư pháp thực hiện khai thác, tra cứu thông tin tại Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại địa phương và Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia phục vụ thống kê, báo cáo về việc quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại địa phương và cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo thẩm quyền”.

- Để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp trong trường hợp đã quá thời hạn tra cứu, xác minh nhưng các cơ quan có thẩm quyền không có văn bản trả lời hoặc có văn bản trả lời về việc không có thông tin về tình trạng án tích của người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, đề xuất bổ sung quy định cho phép Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp và xác nhận là không có án tích cho người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp nếu các kết quả tra cứu, xác minh thông tin khác cho thấy không có thông tin về cá nhân bị kết án bởi bản án có hiệu lực pháp luật. Quy định nêu trên phù hợp với nguyên tắc suy đoán vô tội quy định tại khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”, bảo đảm có lợi cho người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

- Sửa đổi khoản 1, khoản 2 Điều 25 quy định về “Tra cứu thông tin lý lịch tư pháp về án tích tại cơ quan Công an” để khắc phục tình trạng chậm trả kết quả tra cứu thông tin, hạn chế tối đa việc trễ hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp, thực hiện chủ trương về cải cách thủ tục hành chính, đề xuất sửa đổi quy định này theo hướng: Việc gửi hồ sơ và trả kết quả tra cứu được thực hiện trên môi trường điện tử, rút ngắn thời hạn tra cứu, xác minh thông tin, đồng thời quy định thời hạn theo “ngày” (thay cho “ngày làm việc”) để bảo đảm thống nhất với quy định về thời hạn của Luật Lý lịch tư pháp (Điều 48)./.

Nguyễn Đặng Mai Linh

Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Bộ Tư pháp

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 405), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, việc phát triển kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện, phù hợp với định hướng tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Sau gần 10 năm thi hành Luật Đấu giá tài sản năm 2016, sửa đổi, bổ sung năm 2024 (Luật Đấu giá tài sản năm 2016) cho thấy một số quy định về đấu giá tài sản tự nguyện không phù hợp với thực tế, vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân là cấp thiết. Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện ở Việt Nam, tham khảo pháp luật một số quốc gia về đấu giá tự nguyện, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Tóm tắt: Hoạt động đấu giá tài sản ngày càng được mở rộng về quy mô, giá trị và phương thức tổ chức, đặt ra yêu cầu kiểm soát năng lực thực sự của người tham gia đấu giá. Luật Đấu giá tài sản năm 2016 chưa thiết lập cơ chế thống nhất để xác minh năng lực tài chính, nguồn vốn, khả năng thực hiện nghĩa vụ và lịch sử tuân thủ của người tham gia đấu giá. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và tìm hiểu thực tiễn, nghiên cứu luận giải sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản xuất phát từ quan điểm, chủ trương của Đảng và hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật hiện hành. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản nhằm bảo đảm tính minh bạch, cạnh tranh, thực chất và hiệu quả của hoạt động đấu giá.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trách nhiệm pháp lý của đấu giá viên có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm tính hợp pháp, công khai, minh bạch và khách quan trong hoạt động đấu giá tài sản. Sự phát triển của thị trường dịch vụ đấu giá và phương thức đấu giá trực tuyến đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đấu giá viên. Trên cơ sở phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và các quy định của dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)** (dự thảo Luật), nghiên cứu làm rõ những nội dung được kế thừa, sửa đổi, bổ sung và ý nghĩa pháp lý của các quy định về trách nhiệm nghề nghiệp, xử lý tình huống tại phiên đấu giá, đấu giá trực tuyến, bồi thường thiệt hại và giải quyết hậu quả hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo đảm tổ chức thi hành hiệu quả, góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch và trách nhiệm của đấu giá viên trong hoạt động đấu giá tài sản.
Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo, tập sự và tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư để cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Việc hoàn thiện mô hình đào tạo nghề luật sư không chỉ là vấn đề đổi mới chương trình hay phương pháp giảng dạy, mà còn liên quan trực tiếp đến cơ chế quản lý, phân định trách nhiệm và bảo đảm chất lượng đội ngũ luật sư. Về vấn đề này, phóng viên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với Nhà giáo ưu tú, PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp về mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới và vấn đề hoàn thiện dự thảo Luật.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đề xuất cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong giải quyết một số công việc; đồng thời bước đầu lồng ghép các yếu tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hành nghề luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư. Những định hướng này nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề luật sư.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng quy định các nội dung liên quan đến luật sư, tổ chức và hoạt động hành nghề của luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư... Theo TS. Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp (đơn vị có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, trong đó có luật sư), những thay đổi về vấn đề này cần được xem xét không chỉ ở yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư mà còn ở việc phân định rõ quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ pháp lý trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Tóm tắt: Tiêu chuẩn luật sư đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạt động nghề luật sư. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện tiêu chuẩn luật sư: (i) Luật hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng gắn với chế định bồi dưỡng nhận thức chính trị hằng năm; (ii) mở rộng tiêu chuẩn chuyên môn cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (không có bằng cử nhân luật) được tham gia hành nghề luật sư nhưng gắn với cơ chế kiểm soát chất lượng. Trên cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh nghiệm quốc tế (mô hình Juris Doctor) và thực tiễn 20 năm thi hành Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), nghiên cứu cho thấy, những sửa đổi này có căn cứ khoa học, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Việc kết hợp giữa siết chặt kỷ cương quản lý nhà nước với tiếp cận năng lực liên ngành, thực chất, vừa tạo "màng lọc" phòng ngừa suy thoái đạo đức hành nghề, vừa tạo đột phá thể chế thu hút nhân tài chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của đội ngũ luật sư Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển mới.
Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Tóm tắt: Nghề luật sư có tính truyền thống, lâu đời tại nhiều quốc gia. Mô hình truyền thống của tổ chức hành nghề luật sư mang tính đối nhân giữa các luật sư, như văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh. Cùng với sự phát triển của thị trường và yêu cầu đa dạng hóa dịch vụ pháp lý, mô hình tổ chức đối nhân đã từng bước chuyển hóa thành mô hình đối vốn, như công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Mô hình tổ chức hành nghề mang tính đối vốn kể từ Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hành nghề luật sư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức này. Hiện, thị trường dịch vụ pháp lý trên thế giới chịu tác động đáng kể từ yêu cầu của thị trường và sự phát triển của công nghệ. Trước bối cảnh đó, một số quốc gia đã cho phép thành viên góp vốn không phải luật sư có thể tham gia vào hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó, bổ sung nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị, tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật về luật sư để bổ sung quy định về thành viên góp vốn tại tổ chức hành nghề luật sư, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức này trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Đổi mới quy trình trở thành luật sư là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn mới, nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; xây dựng đội ngũ luật sư Việt Nam trong sạch, vững mạnh và đạt chuẩn quốc tế. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để luận giải về sự cần thiết phải đổi mới quy trình trở thành luật sư; đồng thời, đưa ra một số giải pháp và đánh giá hiệu quả các giải pháp đổi mới quy trình trở thành luật sư, chế định luật sư tập sự và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Tổ chức xã hội - nghề nghiệp là một trong những chủ thể đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, hoạt động luật sư ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở phân tích lý luận về sự chuyển dịch tư duy từ “vai trò tự quản” sang “trách nhiệm tự quản” và đánh giá thực trạng công tác tự quản trên thực tế trong Báo cáo số 422/BC-BTP, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế về trách nhiệm tự quản và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật). Các giải pháp tập trung vào việc tái cấu trúc các nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức tự quản; xây dựng cơ chế giải quyết quan hệ nội bộ gắn với quyền khởi kiện tại Tòa án; bảo đảm nguồn lực hỗ trợ từ Nhà nước và mở rộng tính đại diện của tổ chức tự quản. Đặc biệt, đổi mới tổ chức thực hiện nhằm hạn chế tình trạng “hành chính hóa”, nâng cao năng lực tự quản và hiệu quả thực hiện trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong tình hình mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Pháp luật về luật sư có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật về bổ trợ tư pháp, góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đồng thời, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Sau gần 20 năm thi hành, Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển của đội ngũ luật sư, nghề luật sư và hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới, gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của thị trường dịch vụ pháp lý, một số quy định hiện hành bộc lộ hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở phân tích, đánh giá cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư; nhận diện những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thi hành, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiện đại và khả thi; bảo đảm hài hòa giữa quyền hành nghề, trách nhiệm nghề nghiệp và yêu cầu quản lý nhà nước, đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý, phù hợp với hội nhập và thông lệ quốc tế của hoạt động luật sư Việt Nam.
Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng hồ sơ dự án Luật Luật sư (sửa đổi), hướng tới hoàn thiện thể chế pháp lý về luật sư và hành nghề luật sư bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong quá trình hoàn thiện Luật, một trong những yêu cầu được đặt ra là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên cơ sở kết hợp giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm tự quản nghề nghiệp của luật sư. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mô hình quản lý nhà nước và tự quản về luật sư cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Về vấn đề này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ, Luật sư Đào Ngọc Chuyền, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam về mô hình quản lý và tự quản về luật sư.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.

Theo dõi chúng tôi trên: