Thứ ba 13/10/2026 11:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Nghị định số 111/2010/NĐ-CP ngày 23/11/2010 của Chính phủ

Bài viết nghiên cứu nội dung Nghị định số 111/2010/NĐ-CP ngày 23/11/2010 của Chính phủ, từ đó, tác giả đưa ra đề xuất sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Nghị định này góp phần hoàn thiện thể chế về lý lịch tư pháp.

Ngày 23/11/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 111/2010/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Lý lịch tư pháp (Nghị định số 111/2010/NĐ-CP) tạo cơ sở pháp lý nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác triển khai xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, làm cơ sở cho việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp được thuận lợi; đưa công tác quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp ngày càng hiệu quả ở cả trung ương và địa phương. Tuy nhiên, qua hơn 13 năm thi hành, Nghị định số 111/2010/NĐ-CP đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần sửa đổi, bổ sung để góp phần hoàn thiện thể chế về lý lịch tư pháp.

1. Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Nghị định số 111/2010/NĐ-CP

Chủ trương, chính sách về chuyển đổi số quốc gia trong giai đoạn hiện nay đã được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, thể chế hóa vào tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, các Nghị quyết của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030. Một trong những chủ trương, chính sách của Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là “… Hoàn thiện pháp luật, chính sách về dữ liệu, quản trị dữ liệu, tạo thuận lợi cho việc tạo dựng, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu bảo đảm an toàn, an ninh mạng trong nước...”. Ngày 07/3/2019, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 17/NQ-CP về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thúc đẩy việc xây dựng Chính phủ điện tử, trong đó nhiệm vụ cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến được Chính phủ đặc biệt quan tâm. Để nâng cao hiệu quả trong giải quyết thủ tục hành chính, Chính phủ ban hành Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 107/2021/NĐ-CP ngày 06/12/2021 của Chính phủ); Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 về thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, trong đó có hoạt động cấp Phiếu lý lịch tư pháp, theo đó, bên cạnh việc trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính bản giấy, cơ quan giải quyết thủ tục hành chính có thể trả kết quả thủ tục hành chính bản điện tử.

Một số văn bản ban hành như: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Phí và lệ phí… có quy định mới có liên quan đến công tác lý lịch tư pháp đòi hỏi phải hoàn thiện để nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

Ngày 09/7/2023, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 23/CT-TTg về việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp (Chỉ thị số 23/CT-TTg). Trong đó, Chỉ thị số 23/CT-TTg đã đặt ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp phải thực hiện trong giai đoạn hiện nay nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác lý lịch tư pháp.

Sau hơn 13 năm thi hành, một số quy định của Nghị định số 111/2010/NĐ-CP chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn và pháp luật ban hành gần đây. Cụ thể như:

Một là, quy định của Nghị định số 111/2010/NĐ-CP chưa đáp ứng được yêu cầu về tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, thực hiện chuyển đổi số, xây dựng Chính phủ điện tử, cụ thể:

- Nghị định số 111/2010/NĐ-CP đã quy định về việc cung cấp thông tin giữa Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp và cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu khác. Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh hiện nay thì cần phải có quy định về việc Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp phải kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trong dự thảo Nghị định để bảo đảm phù hợp với quy định của Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của các cơ quan nhà nước, Quyết định số 1911/QĐ-TTg ngày 15/11/2021 về việc thực hiện kết nối, chia sẻ giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và phục vụ cho việc triển khai Đề án phát triển ứng dụng cơ sở dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia trong giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06).

- Nghị định số 111/2010/NĐ-BTP quy định về dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử đó là: “Dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử bao gồm thông tin lý lịch tư pháp có trong hồ sơ lý lịch tư pháp bằng giấy đã được chuyển sang dạng dữ liệu điện tử”. Tuy nhiên, hiện nay, quy định này không còn phù hợp với bối cảnh ứng dụng công nghệ thông tin mạnh mẽ, dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử có thể được tạo lập, hình thành từ thông tin dưới dạng điện tử do các cơ quan có liên quan cung cấp hoặc do được chia sẻ, kết nối với cơ sở dữ liệu khác cơ liên quan.

- Chỉ thị số 23/CT-TTg đặt ra nhiệm vụ phải đẩy mạnh số hóa, hoàn thiện Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, tuy nhiên, hiện nay, chưa có quy định về việc số hóa Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Do đó, cần thiết sửa đổi, bổ sung Nghị định số 111/NĐ-CP để thực hiện nhiệm vụ này.

Hai là, chưa có quy định cụ thể về việc tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính về cấp Phiếu lý lịch tư pháp trên môi trường điện tử.

Hiện nay, chỉ thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp dưới dạng văn bản giấy mà chưa có quy định về Phiếu lý lịch tư pháp điện tử. Vì vậy, để phù hợp với các quy định mới có liên quan đồng thực hiện chủ trương về việc xây dựng Chính phủ điện tử, đẩy mạnh giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường mạng, bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành về triển khai dịch vụ công trực tuyến cần có quy định về Phiếu lý lịch tư pháp điện tử, quy trình, thủ tục thực hiện thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp trên môi trường điện tử để nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, cơ quan, tổ chức khi yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp và sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp.

Ba là, tăng cường việc sử dụng, khai thác Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp để phục vụ công tác cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo quy định.

Hiện nay, Nghị định số 111/2010/NĐ-CP chưa có quy định về việc phân quyền cho Sở Tư pháp sử dụng, khai thác Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia phục vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp nhằm tăng tính chủ động, chịu trách nhiệm, giảm thời gian, chi phí thực hiện thủ tục hành chính theo nhiệm vụ được giao tại Chỉ thị số 23/CT-TTg.

Bốn là, quy định về việc phối hợp xác minh thông tin về điều kiện đương nhiên xóa án tích chưa phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 17 Nghị định số 111/2010/NĐ-CP quy định về việc xác minh thông tin về điều kiện đương nhiên được xóa án tích trên cơ sở quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, Điều 17 Nghị định số 111/2010/NĐ-CP không còn phù hợp do Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã có những quy định mới về điều kiện đương nhiên được xóa án tích.

Năm là, thực tiễn công tác tra cứu, xác minh thông tin lý lịch tư pháp về án tích có trước ngày 01/7/2010 tại cơ quan có liên quan còn khó khăn, vướng mắc.

Trên thực tế, nhiều trường hợp thông tin không đầy đủ; thông tin bị mất, thất lạc, nhiều cơ quan không còn lưu giữ được thông tin nên không trả lời đề nghị tra cứu xác minh của Sở Tư pháp hoặc trả lời không có thông tin. Sở Tư pháp đã thực hiện nhiều phương thức xác minh khác nhau (công văn, xác minh trực tiếp, điện thoại, fax...), dù đã quá thời hạn nhưng vẫn không có thông tin. Nguyên nhân chủ yếu là các thông tin này đã quá lâu, chủ yếu những thông tin những năm 1970 đến những năm 1990, đồng thời là việc sáp nhập địa giới hành chính, chuyển trụ sở nên ảnh hưởng công tác lưu trữ của một số cơ quan. Thực tế này dẫn đến khó khăn, lúng túng cho Sở Tư pháp, gây ra tình trạng chậm thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp, có trường hợp kéo dài hằng tháng, gây bức xúc cho người dân.

Đặt trong bối cảnh cấp thiết phải đổi mới, phải tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin một cách mạnh mẽ vào hoạt động của Chính phủ nói chung và và công tác quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp nói riêng nói riêng thì việc hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực lý lịch tư pháp, trong đó có nhiệm vụ về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 111/2010/NĐ-CP để đáp ứng chủ trương, chính sách mới của Nhà nước và Chính phủ là thực sự cần thiết.

2. Một số yêu cầu đặt ra và đề xuất nội dung sửa đổi, bổ sung Nghị định số 111/2010/NĐ-CP nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành

2.1. Một số yêu cầu đặt ra khi sửa đổi, bổ sung Nghị định số 111/2010/NĐ-CP

- Bảo đảm đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bảo đảm quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong Luật Lý lịch tư pháp và một số biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành Luật Lý lịch tư pháp.

- Bảo đảm thực hiện chủ trương cải cách hành chính, cải cách tư pháp và phù hợp với tình hình thi hành Luật Lý lịch tư pháp hiện nay.

- Quy định khoa học, hợp lý về cơ chế phối hợp cung cấp thông tin để xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp và tạo thuận lợi nhất cho cá nhân, cơ quan, tổ chức nhưng không làm thay đổi phạm vi, đối tượng của Nghị định số 111/2010/NĐ-CP hiện nay.

- Bảo đảm khắc phục những bất cập, khó khăn trong thực tiễn thi hành hiện nay và bảo đảm phù hợp với các quy định mới có liên quan.

2.2. Đề xuất một số nội dung sửa đổi, bổ sung Nghị định số 111/2010/NĐ-CP

- Sửa đổi, bổ sung quy định về kết nối, chia sẻ thông tin giữa Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cơ sở dữ liệu khác của các bộ, ngành, địa phương tại Điều 5 Nghị định số 111/2010/NĐ-CP như sau: “Điều 5. Kết nối, chia sẻ thông tin giữa Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cơ sở dữ liệu khác của các bộ, ngành, địa phương

Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp được kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và các cơ sở dữ liệu khác của bộ, ngành, địa phương có liên quan theo quy định của pháp luật về lý lịch tư pháp và pháp luật về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của các cơ quan nhà nước trên. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu được thực hiện trên cơ sở thống nhất giữa Bộ Tư pháp và cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu về phạm vi, hình thức, cấu trúc dữ liệu kết nối, trách nhiệm của các cơ quan nhằm bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và bảo vệ bí mật cá nhân”.

- Bổ sung quy định về trình tự, thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp trên môi trường điện tử thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh, qua ứng dụng VneID hoặc ứng dụng cung cấp dịch vụ hành chính công khác. Quy định về giá trị của Phiếu lý lịch tư pháp điện tử và phương thức cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Bên cạnh đó, nhằm hạn chế tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp; bảo đảm giữ bí mật thông tin lý lịch tư pháp theo quy định: Đề xuất bổ sung quy định về việc cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thực hiện yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp của cá nhân theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Luật Lý lịch tư pháp trên Cổng dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh không yêu cầu cá nhân nộp hoặc xuất trình Phiếu lý lịch tư pháp để phục vụ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.

- Sửa đổi tên và khoản 1 Điều 17 quy định về việc phối hợp xác minh về hành vi phạm tội mới: Để bảo đảm phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về điều kiện đương nhiên được xóa án tích, đề xuất sửa đổi tên Điều 17 thành “Phối hợp xác minh về hành vi phạm tội mới”, đồng thời, sửa đổi khoản 1 Điều 17 của Nghị định số 111/1010/NĐ-CP.

- Sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm đẩy mạnh số hóa, hoàn thiện Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp và giải quyết thủ tục hành chính cho người dân như:

+ Sửa đổi khoản 3 Điều 19 quy định về dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử như sau: “3. Dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử là dữ liệu được kết nối, chia sẻ giữa Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cơ sở dữ liệu khác có liên quan hoặc được tạo lập trên cơ sở cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp của cá nhân theo quy định của pháp luật về lý lịch tư pháp, bằng thiết bị số, trong môi trường mạng, thông qua các Phần mềm chuyên ngành về lý lịch tư pháp”.

+ Bổ sung khoản 5 Điều 19 quy định về số hóa dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử như sau:

“5. Số hóa dữ liệu lý lịch tư pháp là quá trình chuyển đổi thông tin đang được thể hiện trong hồ sơ lý lịch tư pháp bằng giấy sang dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử.

Số hoá dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử được thực hiện trên cơ sở các Phần mềm chuyên ngành về lý lịch tư pháp do Bộ Tư pháp xây dựng, thiết kế, cung cấp cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp để thực hiện cập nhật, xử lý, quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử”.

+ Sửa đổi khoản 2 Điều 22 nhằm quy định về việc phân quyền khai thác Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp như sau:

“2. Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia thực hiện khai thác, tra cứu thông tin tại Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Trung tâm và Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Sở Tư pháp để phục vụ thống kê, báo cáo, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong phạm vi cả nước và cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo thẩm quyền.

Sở Tư pháp thực hiện khai thác, tra cứu thông tin tại Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại địa phương và Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia phục vụ thống kê, báo cáo về việc quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại địa phương và cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo thẩm quyền”.

- Để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp trong trường hợp đã quá thời hạn tra cứu, xác minh nhưng các cơ quan có thẩm quyền không có văn bản trả lời hoặc có văn bản trả lời về việc không có thông tin về tình trạng án tích của người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, đề xuất bổ sung quy định cho phép Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp và xác nhận là không có án tích cho người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp nếu các kết quả tra cứu, xác minh thông tin khác cho thấy không có thông tin về cá nhân bị kết án bởi bản án có hiệu lực pháp luật. Quy định nêu trên phù hợp với nguyên tắc suy đoán vô tội quy định tại khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”, bảo đảm có lợi cho người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

- Sửa đổi khoản 1, khoản 2 Điều 25 quy định về “Tra cứu thông tin lý lịch tư pháp về án tích tại cơ quan Công an” để khắc phục tình trạng chậm trả kết quả tra cứu thông tin, hạn chế tối đa việc trễ hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp, thực hiện chủ trương về cải cách thủ tục hành chính, đề xuất sửa đổi quy định này theo hướng: Việc gửi hồ sơ và trả kết quả tra cứu được thực hiện trên môi trường điện tử, rút ngắn thời hạn tra cứu, xác minh thông tin, đồng thời quy định thời hạn theo “ngày” (thay cho “ngày làm việc”) để bảo đảm thống nhất với quy định về thời hạn của Luật Lý lịch tư pháp (Điều 48)./.

Nguyễn Đặng Mai Linh

Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Bộ Tư pháp

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 405), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng hồ sơ dự án Luật Luật sư (sửa đổi), hướng tới hoàn thiện thể chế pháp lý về luật sư và hành nghề luật sư bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong quá trình hoàn thiện Luật, một trong những yêu cầu được đặt ra là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên cơ sở kết hợp giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm tự quản nghề nghiệp của luật sư. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mô hình quản lý nhà nước và tự quản về luật sư cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Về vấn đề này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ, Luật sư Đào Ngọc Chuyền, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam về mô hình quản lý và tự quản về luật sư.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng giúp người dân nói chung và các đối tượng đặc thù nói riêng biết, hiểu và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Nghiên cứu phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật), tập trung vào các quy định về đối tượng đặc thù, chính sách hỗ trợ, trách nhiệm của các chủ thể, chuyển đổi số, nguồn lực, cơ chế đánh giá và đội ngũ thực hiện. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh pháp luật. Kết quả cho thấy, dự thảo Luật có nhiều điểm mới như cụ thể hóa nhóm đối tượng đặc thù, phân định trách nhiệm của các chủ thể, bổ sung quy định về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, đồng thời, chú trọng bảo đảm nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số nội dung dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện, gồm tiêu chí xác định đối tượng, chính sách hỗ trợ, chuẩn tiếp cận tối thiểu, cơ chế phối hợp, khả năng tiếp cận trong môi trường số, căn cứ phân bổ nguồn lực, tiêu chí đánh giá và yêu cầu về năng lực của đội ngũ thực hiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện dự thảo Luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm triển khai thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của Đảng về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, thực hiện mô hình quyền địa phương hai cấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, nhiều quy định của Luật bộc lộ những hạn chế, bất cập cả về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc xây dựng dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) (dự thảo Luật), qua đó, khẳng định sự cần thiết phải sửa đổi toàn diện Luật nhằm hoàn thiện thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường gắn kết giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số, huy động nguồn lực xã hội và bảo đảm nâng cao hiệu quả quyền tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được Bộ Tư pháp nghiên cứu xây dựng với nhiều nội dung đổi mới quan trọng. Bên cạnh việc sửa đổi các quy định về nguyên tắc quản lý luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước…, dự thảo Luật còn quy định cam kết về tôn trọng tính bảo mật, bảo đảm quyền hành nghề của luật sư. Đây là những nội dung có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng môi trường hành nghề minh bạch, chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý và phát huy vai trò của luật sư trong bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…

Theo dõi chúng tôi trên: