Thứ năm 16/07/2026 12:23
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Bài viết phân tích, đánh giá quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm và so sánh với quy định tại Điều 14 của Công ước Quốc tế về các quyền dân sự, chính trị cùng với Bình luận chung số 32 của Ủy ban Nhân quyền và kinh nghiệm lập pháp của Liên bang Nga nhằm hoàn thiện hơn quy định này.


1. Một số nội dung cơ bản của Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 với tên gọi “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” đã mở rộng phạm vi tranh tụng hơn, không chỉ thể hiện trong giai đoạn xét xử mà thời điểm xuất hiện tranh tụng bắt đầu từ giai đoạn khởi tố đến giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Ở mỗi giai đoạn khác nhau thì biểu hiện của tranh tụng cũng khác nhau, ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố thì tương đối mờ nhạt và tranh tụng được thể hiện đậm nét, rõ ràng nhất ở giai đoạn xét xử, đặc biệt là trong phần thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm. Do đó, đã có quan điểm đánh đồng giữa tranh tụng và tranh luận. Với việc quy định các bên “đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án” trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử là một quy định tiến bộ tạo ra cơ sở pháp lý định hướng cho các quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhằm đảm bảo cho các bên có điều kiện để tranh tụng hiệu quả.

Tại đoạn 2 của điều luật, một nội dung tiến bộ khác trong nguyên tắc được quy định đó là: “… kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án”. Nội dung này cũng đã từng được ghi nhận trong nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003[1]. Để thực hiện được điều này, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đặt ra yêu cầu Tòa án phải có trách nhiệm “tạo điều kiện”. Để tranh tụng có hiệu quả nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án thì một trong những điều kiện quan trọng nhất là các bên buộc tội và bên gỡ tội phải thật sự bình đẳng với nhau và Tòa án phải đứng ở vị trí trung gian, độc lập, khách quan, là trọng tài bảo đảm cho hai bên thực hiện chức năng của mình, Tòa án không có nghĩa vụ chứng minh tội phạm[2] mà chứng minh tội phạm là việc của bên buộc tội. Điều luật đã không thể hiện được những nội dung này. Mặt khác, việc liệt kê không theo hướng tách bạch và phân định rõ các chủ thể tham gia tố tụng tương ứng với bên buộc tội, bên gỡ tội dẫn đến quy định khác rườm rà, không rõ ràng. Ngoài ra, còn có những điểm không thể hiện được là nguyên tắc như: Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án phải chuyển cho Tòa án đầy đủ, hợp pháp; phiên tòa phải có đầy đủ người tham gia tố tụng trừ trường hợp vắng mặt vì lý do bất khả kháng, do trở ngại khách quan hoặc trường hợp khác mà luật quy định.

Nội dung của nguyên tắc tranh tụng tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 còn thể hiện: “Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và các tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa”. Điều này cũng cho thấy, hoạt động tranh tụng công khai tại phiên tòa là sự thể hiện tập trung nhất, cơ bản nhất của nguyên tắc tranh tụng. Bản chất của quá trình tranh tụng này là việc các bên qua quá trình tranh tụng đưa ra những trình bày, tranh luận để làm rõ các chứng cứ buộc tội và gỡ tội tại phiên tòa. Thông qua tranh tụng giữa các bên, Tòa án có thể hiểu rõ hơn các tình tiết của toàn bộ vụ án, tái hiện lại vụ án một cách trung thực, khách quan, trên cơ sở đó vận dụng chính xác của quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự để đưa ra một phán quyết đúng đắn nhất. Và “bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa”. Việc tranh tụng chỉ là hình thức nếu kết quả tranh tụng không được thể hiện trong bản án, quyết định của Tòa án. Đây là một trong những điểm mới, tiến bộ được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đã thể chế hóa chủ trương của Đảng “... lấy kết quả tranh tụng tại tòa làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp”[3]. Tuy nhiên, điều luật có nội dung rườm rà, không điển hình nội dung nguyên tắc tranh tụng, các vấn đề được liệt kê thực chất là những vấn đề cần phải chứng cứ minh trong vụ án hình sự được quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 mà các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong từng giai đoạn tố tụng tương ứng có nghĩa vụ phải chứng minh để giải quyết vụ án một cách đầy đủ nhất. Ngoài ra, những vấn đề như: Mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng lại không phải có trong tất cả các vụ án hình sự, trong khi đó yêu cầu của một nguyên tắc trong tố tụng hình sự phải là những tư tưởng chủ đạo và định hướng cho hoạt động tố tụng hình sự, tồn tại khách quan và chi phối toàn bộ quá trình tố tụng[4].

2. So sánh quy định Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 với quy định tại Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) và Bình luận chung số 32 của Ủy ban Nhân quyền (HRC)

So với các quy định tại Điều 14 của Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) và Bình luận chung số 32 của Ủy ban Nhân quyền (HRC) thì Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 còn chưa thể hiện được hết tinh thần của điều ước để đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự

Tại câu đầu tiên của khoản 1 Điều 14 ICCPR quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước Tòa án và cơ quan tư pháp”. Quy định này bảo đảm những điều kiện về quyền bình đẳng trước phiên tòa và Tòa án, đây là một yếu tố quan trọng để bảo vệ quyền con người và là một phương thức thủ tục để bảo vệ pháp quyền. Quyền bình đẳng trước Tòa án và cơ quan tư pháp có thể được hiểu như một biểu hiện cụ thể của nguyên tắc không phân biệt đối xử, “nhằm đảm bảo rằng các bên tham gia tố tụng được đối xử không có sự phân biệt đối xử nào” - (đoạn 8 Bình luận chung số 32). HRC còn đề cập đến khía cạnh bình đẳng về phương tiện: “Quyền bình đẳng trước Tòa án cũng nhằm đảm bảo sự bình đẳng về quyền lực. Điều này có nghĩa là các quyền tố tụng sẽ được dành cho tất cả các bên, trừ khi có sự phân biệt được quy định bởi pháp luật và có thể giải thích một cách hợp lý và khách quan và không dẫn đến sự bất lợi hoặc bất công cho bên tố tụng khác” - (đoạn 13 Bình luận chung số 32). Như vậy, yêu cầu của quy định này đảm bảo các bên tham gia tranh tụng đều được bình đẳng trước phiên tòa và Tòa án. Yêu cầu này đòi hỏi Tòa án không chỉ tôn trọng quyền của các bên trong tố tụng, không thể coi trọng quyền của người này hơn quyền của người kia mà phải có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện quyền đó. Sự bình đẳng ở đây không có nghĩa là sự bình đẳng về mặt địa vị pháp lý mà là sự thừa nhận quyền của các bên, không chỉ trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án, mà còn bình đẳng kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án[5]; quyền đối chất, yêu cầu đối chất những nhân chứng buộc tội mình và mời người làm chứng gỡ tội cho mình[6]. Những quy định này nhằm đảm bảo bình đẳng cho các bên tranh tụng trước Tòa án. Nếu không có bình đẳng thì việc tranh tụng chỉ là hình thức và tranh tụng sẽ không thể là cách tìm ra công lý[7]. Bình đẳng trước Tòa án “chính là cơ sở đảm bảo cho việc thực hiện tranh tụng - một nguyên tắc cơ bản đảm tính công bằng, dân chủ, khách quan trong hoạt động tư pháp mà biểu hiện cao độ, tập trung là tranh tụng trước Tòa án”[8]. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có những quy định tương tự như chưa thể hiện đầy đủ, rõ ràng những nội dung này.

Tại đoạn 2 khoản 1 Điều 14 ICCPR quy định: “Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật…”. Tại quy định này đã nêu ra ba thuộc tính của một cơ quan tư pháp mà chủ yếu là Tòa án đó là: “Có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật”. Trong đoạn 18 của Bình luận chung số 32 đã giải thích: “Tòa án phải là một cơ quan được thành lập theo pháp luật, độc lập với hành pháp và lập pháp hoặc trong trường hợp cụ thể có sự độc lập xét xử trong việc ra phán quyết”. Ngoài ra, Bình luận chung số 32 còn khẳng định việc phân quyền tư pháp là một yếu tố thiết yếu, tại đoạn 19: “... Trong trường hợp các chức năng và năng lực của các ngành tư pháp và hành pháp không có sự khác biệt rõ ràng hoặc trong trường hợp ngành hành pháp có thể chỉ đạo tư pháp là không phù hợp với khái niệm độc lập của Tòa án…”. Như vậy, để tranh tụng được diễn ra công bằng, bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội thì nhất thiết trong quá trình tố tụng phải có một cơ quan trọng tài thật sự vô tư, khách quan, không thiên vị, không đứng về bên buộc tội hay bên gỡ tội. Nguyên tắc tranh tụng đòi hỏi phải có sự rành mạch giữa các chức năng trong tố tụng hình sự. Do vậy, về mặt tổ chức phải đảm bảo sự độc lập của Tòa án, mọi yếu tố làm ảnh hưởng đến tính độc lập của Tòa án phải được loại bỏ. Về mặt chức năng quyền hạn và thủ tục tố tụng cần phải có những phân biệt thật rành mạch trong tố tụng, không thể để lẫn lộn giữa chức năng buộc tội với chức năng xét xử. Tại đoạn 10 của Các hướng dẫn về vai trò của Công tố viên năm 1990 cũng yêu cầu: “Văn phòng công tố viên phải hoàn toàn tách khỏi chức năng xét xử”. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về nguyên tắc “thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Tuy nhiên, về nội dung của nguyên tắc tranh tụng chưa ghi nhận việc phân định rành mạch giữa các chức năng tố tụng, đều này không đảm bảo tính khách quan, công bằng và việc tranh tụng không đảm bảo.

Về đòi hỏi khách quan, không thiên vị của Tòa án, trong đoạn 21 của Bình luận chung số 32 HRC đã giải thích: “... các thẩm phán không được để cho phán quyết của họ bị ảnh hưởng bởi sự thiên vị hay định kiến cá nhân, và cũng không được dựa trên các quan niệm có sẵn hay hành động vì lợi ích của một trong các bên tham gia tố tụng và làm tổn hại đến bên khác…”. Tại đoạn 28 Bình luận chung số 32 tiếp tục khẳng định: “Tất cả các xét xử vụ án hình sự hoặc dân sự phải được thực hiện theo nguyên tắc tranh tụng miệng và công khai tại phiên tòa. Phiên tòa công khai đảm bảo sự minh bạch của các thủ tục tố tụng và do đó có ý nghĩa quan trọng để bảo vệ lợi ích của các cá nhân và của toàn xã hội”. Những quy định này đòi hỏi phán quyết của Tòa án dựa trên kết quả tranh tụng giữa các bên tại phiên tòa, điều này đã được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ghi nhận.

Tham khảo kinh nghiệm quy định về nguyên tắc tranh tụng của các nước trên thế giới theo mô hình tố tụng xét hỏi nhưng có những quy định thể hiện rõ nguyên tắc tranh tụng, mà điển hình là Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2001 của Liên Bang Nga[9] đã thể hiện rõ ràng những nội dung mang tính nguyên tắc tranh tụng, đáp ứng yêu cầu theo những quy định của ICCPR như đã phân tích ở trên, trong đó, nội dung khái quát điển hình của nguyên tắc tranh tụng là: “Hoạt động tố tụng hình sự được tiến hành dựa trên cơ sở tranh tụng giữa các bên” cần được ghi nhận là một trong những nội dung của nguyên tắc tranh tụng. Vì hoạt động tố tụng hình sự có tính tranh tụng là hoạt động tố tụng được tiến hành giữa hai chức năng buộc tội và chức năng bào chữa cùng tồn tại, vận động và phủ định nhau và đến khi hai chức năng này xung đột đỉnh điểm thì cần phải có vai trò của một trọng tài điều khiển và đưa ra phán quyết về kết quả tranh đấu giữa hai chức năng đó. Hoạt động không có tính tranh tụng là hoạt động tố tụng mà chức năng buộc tội không có đối trọng hay có địa vị lấn át chức năng khác và trong điều kiện đó thì không thể có một trọng tài vô tư khách quan mà chỉ là chủ thể ghi nhận lại kết quả giải quyết của bên buộc tội[10].

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Từ những phân tích trên, theo quan điểm của tác giả, tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần thể hiện ngắn gọn, ghi nhận những nội dung cơ bản, điển hình của nguyên tắc tranh tụng có tính chi phối hoạt động tố tụng hình sự của một giai đoạn hoặc cả tiến trình tố tụng. Trên cơ sở đó, cần thể hiện khái quát đầy đủ các vấn đề: (i) Hoạt động tố tụng hình sự phải được tiến hành dựa trên cơ sở tranh tụng giữa các bên; (ii) Bên buộc tội và bên gỡ tội bình đẳng trước Tòa án; (iii) Xác định vị trí, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tố tụng, tách bạch rõ ràng theo chức năng trong tố tụng; các chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử độc lập với nhau; (iv) Tòa án không có nghĩa vụ chứng minh tội phạm, không thuộc về bên buộc tội hay bên gỡ tội; Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện để các bên thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình; (v) Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Cuối cùng, tên gọi của điều luật cần thể thể hiện tranh tụng bao hàm cả giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử.

Nguyễn Hoàng Thịnh

Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang

Tài liệu tham khảo:

[1]. Điều 19 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[2]. Trong nguyên tắc “Xác định sự thật của vụ án” so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có sự sửa đổi về mặt từ ngữ, không liệt kê các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án mà quy định “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng”, việc sửa đổi này cũng không loại trừ Tòa án phải có trách nhiệm chứng minh tội phạm.

[3]. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

[4]. Nguyễn Văn Hiển, Về nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, năm 2011 tr.43.

[5]. Tại đoạn 13 Bình luận chung số 32 giải thích: “Điều này có nghĩa là các quyền tố tụng sẽ được dành cho đến tất cả các bên, trừ khi có sự phân biệt được luật định và có thể giải thích một cách hợp lý, khách quan và không dẫn đến sự bất lợi hoặc bất công cho bên tố tụng khác. Chẳng hạn, sẽ không có sự bình đẳng về phương tiện nếu chỉ có những công tố viên có thể kháng cáo phán quyết của tòa trong khi bị đơn không thể…”.

[6]. Tại khoản 3 (e) Điều 14 của ICCPR quy định: “Được đối chất hoặc yêu cầu đối chất những nhân chứng buộc tội mình, và được mời người làm chứng gỡ tội cho mình tới phiên tòa và chất vấn họ tại tòa với những điều kiện tương tự như đối với những người làm chứng buộc tội mình”. HRC giải thích quy định này tại Đoạn 19 Bình luận chung số 32, nhấn mạnh thêm ý nghĩa của bảo đảm này như một biểu hiện của nguyên tắc bình đẳng về phương tiện giữa các bên tham gia tranh tụng. Đảm bảo này có ý nghĩa quan trọng để bị cáo và luật sự có thể bào chưa hiệu quả và đảm bảo bị cáo có quyền năng pháp lý yêu cầu sự có mặt, đối chứng và kiểm tra chéo với nhân chứng của bị cáo giống như với nhân chứng mà bên cơ quan công tố đưa ra. Tuy nhiên, HRC xác định rõ ràng quyền yêu cầu có sự tham gia của nhân chứng bị giới hạn, chỉ những nhân chứng liên quan đến việc bào chữa và một một số giai đoạn tố tụng nhất định mới được cơ quan tư pháp chấp nhận. Pháp luật quốc gia cần quy định rõ ràng về việc chấp nhận các loại chứng cứ, lời khai của các bên và phương thức Tòa án đánh giá các loại chứng cứ đó.

[7]. Nguyễn Văn Hiển, Về nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, năm 2011, tr.75.

[8]. Uông Chu Lưu (2014), Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, Đề tài cấp Nhà nước KK.04.06, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, tr.69.

[9]. “Điều 15: Tranh tụng giữa các bên.

1. Hoạt động tố tụng hình sự được tiến hành dựa trên cơ sở tranh tụng giữa các bên.

2. Các chức năng buộc tội, gỡ tội và giải quyết vụ án hình sự (phán quyết) là độc lập với nhau và không thể giao cho cùng một cơ quan hoặc một người có thẩm quyền thực hiện.

3. Tòa án không phải là cơ quan truy cứu trách nhiệm hình sự, không thuộc bên buộc tội hoặc bên gỡ tội. Tòa án tạo những điều kiện cần thiết để các bên thực hiện nghĩa vụ tố tụng của mình và thực hiện các quyền được giao cho họ.

4. Bên buộc tội và bên gỡ tội bình đẳng trước Tòa án”.

[10]. Nguyễn Thái Phúc, “Vấn đề tranh tụng và tăng cường tranh tụng trong tố tụng hình sự theo yêu cầu của cải cách tư pháp”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, năm 2008, số 8, tr.65.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.

Theo dõi chúng tôi trên: