Thứ sáu 16/01/2026 10:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Bài viết phân tích, đánh giá quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm và so sánh với quy định tại Điều 14 của Công ước Quốc tế về các quyền dân sự, chính trị cùng với Bình luận chung số 32 của Ủy ban Nhân quyền và kinh nghiệm lập pháp của Liên bang Nga nhằm hoàn thiện hơn quy định này.


1. Một số nội dung cơ bản của Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 với tên gọi “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” đã mở rộng phạm vi tranh tụng hơn, không chỉ thể hiện trong giai đoạn xét xử mà thời điểm xuất hiện tranh tụng bắt đầu từ giai đoạn khởi tố đến giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Ở mỗi giai đoạn khác nhau thì biểu hiện của tranh tụng cũng khác nhau, ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố thì tương đối mờ nhạt và tranh tụng được thể hiện đậm nét, rõ ràng nhất ở giai đoạn xét xử, đặc biệt là trong phần thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm. Do đó, đã có quan điểm đánh đồng giữa tranh tụng và tranh luận. Với việc quy định các bên “đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án” trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử là một quy định tiến bộ tạo ra cơ sở pháp lý định hướng cho các quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhằm đảm bảo cho các bên có điều kiện để tranh tụng hiệu quả.

Tại đoạn 2 của điều luật, một nội dung tiến bộ khác trong nguyên tắc được quy định đó là: “… kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án”. Nội dung này cũng đã từng được ghi nhận trong nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003[1]. Để thực hiện được điều này, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đặt ra yêu cầu Tòa án phải có trách nhiệm “tạo điều kiện”. Để tranh tụng có hiệu quả nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án thì một trong những điều kiện quan trọng nhất là các bên buộc tội và bên gỡ tội phải thật sự bình đẳng với nhau và Tòa án phải đứng ở vị trí trung gian, độc lập, khách quan, là trọng tài bảo đảm cho hai bên thực hiện chức năng của mình, Tòa án không có nghĩa vụ chứng minh tội phạm[2] mà chứng minh tội phạm là việc của bên buộc tội. Điều luật đã không thể hiện được những nội dung này. Mặt khác, việc liệt kê không theo hướng tách bạch và phân định rõ các chủ thể tham gia tố tụng tương ứng với bên buộc tội, bên gỡ tội dẫn đến quy định khác rườm rà, không rõ ràng. Ngoài ra, còn có những điểm không thể hiện được là nguyên tắc như: Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án phải chuyển cho Tòa án đầy đủ, hợp pháp; phiên tòa phải có đầy đủ người tham gia tố tụng trừ trường hợp vắng mặt vì lý do bất khả kháng, do trở ngại khách quan hoặc trường hợp khác mà luật quy định.

Nội dung của nguyên tắc tranh tụng tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 còn thể hiện: “Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và các tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa”. Điều này cũng cho thấy, hoạt động tranh tụng công khai tại phiên tòa là sự thể hiện tập trung nhất, cơ bản nhất của nguyên tắc tranh tụng. Bản chất của quá trình tranh tụng này là việc các bên qua quá trình tranh tụng đưa ra những trình bày, tranh luận để làm rõ các chứng cứ buộc tội và gỡ tội tại phiên tòa. Thông qua tranh tụng giữa các bên, Tòa án có thể hiểu rõ hơn các tình tiết của toàn bộ vụ án, tái hiện lại vụ án một cách trung thực, khách quan, trên cơ sở đó vận dụng chính xác của quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự để đưa ra một phán quyết đúng đắn nhất. Và “bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa”. Việc tranh tụng chỉ là hình thức nếu kết quả tranh tụng không được thể hiện trong bản án, quyết định của Tòa án. Đây là một trong những điểm mới, tiến bộ được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đã thể chế hóa chủ trương của Đảng “... lấy kết quả tranh tụng tại tòa làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp”[3]. Tuy nhiên, điều luật có nội dung rườm rà, không điển hình nội dung nguyên tắc tranh tụng, các vấn đề được liệt kê thực chất là những vấn đề cần phải chứng cứ minh trong vụ án hình sự được quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 mà các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong từng giai đoạn tố tụng tương ứng có nghĩa vụ phải chứng minh để giải quyết vụ án một cách đầy đủ nhất. Ngoài ra, những vấn đề như: Mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng lại không phải có trong tất cả các vụ án hình sự, trong khi đó yêu cầu của một nguyên tắc trong tố tụng hình sự phải là những tư tưởng chủ đạo và định hướng cho hoạt động tố tụng hình sự, tồn tại khách quan và chi phối toàn bộ quá trình tố tụng[4].

2. So sánh quy định Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 với quy định tại Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) và Bình luận chung số 32 của Ủy ban Nhân quyền (HRC)

So với các quy định tại Điều 14 của Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) và Bình luận chung số 32 của Ủy ban Nhân quyền (HRC) thì Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 còn chưa thể hiện được hết tinh thần của điều ước để đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự

Tại câu đầu tiên của khoản 1 Điều 14 ICCPR quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước Tòa án và cơ quan tư pháp”. Quy định này bảo đảm những điều kiện về quyền bình đẳng trước phiên tòa và Tòa án, đây là một yếu tố quan trọng để bảo vệ quyền con người và là một phương thức thủ tục để bảo vệ pháp quyền. Quyền bình đẳng trước Tòa án và cơ quan tư pháp có thể được hiểu như một biểu hiện cụ thể của nguyên tắc không phân biệt đối xử, “nhằm đảm bảo rằng các bên tham gia tố tụng được đối xử không có sự phân biệt đối xử nào” - (đoạn 8 Bình luận chung số 32). HRC còn đề cập đến khía cạnh bình đẳng về phương tiện: “Quyền bình đẳng trước Tòa án cũng nhằm đảm bảo sự bình đẳng về quyền lực. Điều này có nghĩa là các quyền tố tụng sẽ được dành cho tất cả các bên, trừ khi có sự phân biệt được quy định bởi pháp luật và có thể giải thích một cách hợp lý và khách quan và không dẫn đến sự bất lợi hoặc bất công cho bên tố tụng khác” - (đoạn 13 Bình luận chung số 32). Như vậy, yêu cầu của quy định này đảm bảo các bên tham gia tranh tụng đều được bình đẳng trước phiên tòa và Tòa án. Yêu cầu này đòi hỏi Tòa án không chỉ tôn trọng quyền của các bên trong tố tụng, không thể coi trọng quyền của người này hơn quyền của người kia mà phải có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện quyền đó. Sự bình đẳng ở đây không có nghĩa là sự bình đẳng về mặt địa vị pháp lý mà là sự thừa nhận quyền của các bên, không chỉ trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án, mà còn bình đẳng kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án[5]; quyền đối chất, yêu cầu đối chất những nhân chứng buộc tội mình và mời người làm chứng gỡ tội cho mình[6]. Những quy định này nhằm đảm bảo bình đẳng cho các bên tranh tụng trước Tòa án. Nếu không có bình đẳng thì việc tranh tụng chỉ là hình thức và tranh tụng sẽ không thể là cách tìm ra công lý[7]. Bình đẳng trước Tòa án “chính là cơ sở đảm bảo cho việc thực hiện tranh tụng - một nguyên tắc cơ bản đảm tính công bằng, dân chủ, khách quan trong hoạt động tư pháp mà biểu hiện cao độ, tập trung là tranh tụng trước Tòa án”[8]. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có những quy định tương tự như chưa thể hiện đầy đủ, rõ ràng những nội dung này.

Tại đoạn 2 khoản 1 Điều 14 ICCPR quy định: “Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật…”. Tại quy định này đã nêu ra ba thuộc tính của một cơ quan tư pháp mà chủ yếu là Tòa án đó là: “Có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật”. Trong đoạn 18 của Bình luận chung số 32 đã giải thích: “Tòa án phải là một cơ quan được thành lập theo pháp luật, độc lập với hành pháp và lập pháp hoặc trong trường hợp cụ thể có sự độc lập xét xử trong việc ra phán quyết”. Ngoài ra, Bình luận chung số 32 còn khẳng định việc phân quyền tư pháp là một yếu tố thiết yếu, tại đoạn 19: “... Trong trường hợp các chức năng và năng lực của các ngành tư pháp và hành pháp không có sự khác biệt rõ ràng hoặc trong trường hợp ngành hành pháp có thể chỉ đạo tư pháp là không phù hợp với khái niệm độc lập của Tòa án…”. Như vậy, để tranh tụng được diễn ra công bằng, bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội thì nhất thiết trong quá trình tố tụng phải có một cơ quan trọng tài thật sự vô tư, khách quan, không thiên vị, không đứng về bên buộc tội hay bên gỡ tội. Nguyên tắc tranh tụng đòi hỏi phải có sự rành mạch giữa các chức năng trong tố tụng hình sự. Do vậy, về mặt tổ chức phải đảm bảo sự độc lập của Tòa án, mọi yếu tố làm ảnh hưởng đến tính độc lập của Tòa án phải được loại bỏ. Về mặt chức năng quyền hạn và thủ tục tố tụng cần phải có những phân biệt thật rành mạch trong tố tụng, không thể để lẫn lộn giữa chức năng buộc tội với chức năng xét xử. Tại đoạn 10 của Các hướng dẫn về vai trò của Công tố viên năm 1990 cũng yêu cầu: “Văn phòng công tố viên phải hoàn toàn tách khỏi chức năng xét xử”. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về nguyên tắc “thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Tuy nhiên, về nội dung của nguyên tắc tranh tụng chưa ghi nhận việc phân định rành mạch giữa các chức năng tố tụng, đều này không đảm bảo tính khách quan, công bằng và việc tranh tụng không đảm bảo.

Về đòi hỏi khách quan, không thiên vị của Tòa án, trong đoạn 21 của Bình luận chung số 32 HRC đã giải thích: “... các thẩm phán không được để cho phán quyết của họ bị ảnh hưởng bởi sự thiên vị hay định kiến cá nhân, và cũng không được dựa trên các quan niệm có sẵn hay hành động vì lợi ích của một trong các bên tham gia tố tụng và làm tổn hại đến bên khác…”. Tại đoạn 28 Bình luận chung số 32 tiếp tục khẳng định: “Tất cả các xét xử vụ án hình sự hoặc dân sự phải được thực hiện theo nguyên tắc tranh tụng miệng và công khai tại phiên tòa. Phiên tòa công khai đảm bảo sự minh bạch của các thủ tục tố tụng và do đó có ý nghĩa quan trọng để bảo vệ lợi ích của các cá nhân và của toàn xã hội”. Những quy định này đòi hỏi phán quyết của Tòa án dựa trên kết quả tranh tụng giữa các bên tại phiên tòa, điều này đã được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ghi nhận.

Tham khảo kinh nghiệm quy định về nguyên tắc tranh tụng của các nước trên thế giới theo mô hình tố tụng xét hỏi nhưng có những quy định thể hiện rõ nguyên tắc tranh tụng, mà điển hình là Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2001 của Liên Bang Nga[9] đã thể hiện rõ ràng những nội dung mang tính nguyên tắc tranh tụng, đáp ứng yêu cầu theo những quy định của ICCPR như đã phân tích ở trên, trong đó, nội dung khái quát điển hình của nguyên tắc tranh tụng là: “Hoạt động tố tụng hình sự được tiến hành dựa trên cơ sở tranh tụng giữa các bên” cần được ghi nhận là một trong những nội dung của nguyên tắc tranh tụng. Vì hoạt động tố tụng hình sự có tính tranh tụng là hoạt động tố tụng được tiến hành giữa hai chức năng buộc tội và chức năng bào chữa cùng tồn tại, vận động và phủ định nhau và đến khi hai chức năng này xung đột đỉnh điểm thì cần phải có vai trò của một trọng tài điều khiển và đưa ra phán quyết về kết quả tranh đấu giữa hai chức năng đó. Hoạt động không có tính tranh tụng là hoạt động tố tụng mà chức năng buộc tội không có đối trọng hay có địa vị lấn át chức năng khác và trong điều kiện đó thì không thể có một trọng tài vô tư khách quan mà chỉ là chủ thể ghi nhận lại kết quả giải quyết của bên buộc tội[10].

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Từ những phân tích trên, theo quan điểm của tác giả, tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần thể hiện ngắn gọn, ghi nhận những nội dung cơ bản, điển hình của nguyên tắc tranh tụng có tính chi phối hoạt động tố tụng hình sự của một giai đoạn hoặc cả tiến trình tố tụng. Trên cơ sở đó, cần thể hiện khái quát đầy đủ các vấn đề: (i) Hoạt động tố tụng hình sự phải được tiến hành dựa trên cơ sở tranh tụng giữa các bên; (ii) Bên buộc tội và bên gỡ tội bình đẳng trước Tòa án; (iii) Xác định vị trí, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tố tụng, tách bạch rõ ràng theo chức năng trong tố tụng; các chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử độc lập với nhau; (iv) Tòa án không có nghĩa vụ chứng minh tội phạm, không thuộc về bên buộc tội hay bên gỡ tội; Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện để các bên thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình; (v) Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Cuối cùng, tên gọi của điều luật cần thể thể hiện tranh tụng bao hàm cả giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử.

Nguyễn Hoàng Thịnh

Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang

Tài liệu tham khảo:

[1]. Điều 19 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[2]. Trong nguyên tắc “Xác định sự thật của vụ án” so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có sự sửa đổi về mặt từ ngữ, không liệt kê các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án mà quy định “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng”, việc sửa đổi này cũng không loại trừ Tòa án phải có trách nhiệm chứng minh tội phạm.

[3]. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

[4]. Nguyễn Văn Hiển, Về nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, năm 2011 tr.43.

[5]. Tại đoạn 13 Bình luận chung số 32 giải thích: “Điều này có nghĩa là các quyền tố tụng sẽ được dành cho đến tất cả các bên, trừ khi có sự phân biệt được luật định và có thể giải thích một cách hợp lý, khách quan và không dẫn đến sự bất lợi hoặc bất công cho bên tố tụng khác. Chẳng hạn, sẽ không có sự bình đẳng về phương tiện nếu chỉ có những công tố viên có thể kháng cáo phán quyết của tòa trong khi bị đơn không thể…”.

[6]. Tại khoản 3 (e) Điều 14 của ICCPR quy định: “Được đối chất hoặc yêu cầu đối chất những nhân chứng buộc tội mình, và được mời người làm chứng gỡ tội cho mình tới phiên tòa và chất vấn họ tại tòa với những điều kiện tương tự như đối với những người làm chứng buộc tội mình”. HRC giải thích quy định này tại Đoạn 19 Bình luận chung số 32, nhấn mạnh thêm ý nghĩa của bảo đảm này như một biểu hiện của nguyên tắc bình đẳng về phương tiện giữa các bên tham gia tranh tụng. Đảm bảo này có ý nghĩa quan trọng để bị cáo và luật sự có thể bào chưa hiệu quả và đảm bảo bị cáo có quyền năng pháp lý yêu cầu sự có mặt, đối chứng và kiểm tra chéo với nhân chứng của bị cáo giống như với nhân chứng mà bên cơ quan công tố đưa ra. Tuy nhiên, HRC xác định rõ ràng quyền yêu cầu có sự tham gia của nhân chứng bị giới hạn, chỉ những nhân chứng liên quan đến việc bào chữa và một một số giai đoạn tố tụng nhất định mới được cơ quan tư pháp chấp nhận. Pháp luật quốc gia cần quy định rõ ràng về việc chấp nhận các loại chứng cứ, lời khai của các bên và phương thức Tòa án đánh giá các loại chứng cứ đó.

[7]. Nguyễn Văn Hiển, Về nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, năm 2011, tr.75.

[8]. Uông Chu Lưu (2014), Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, Đề tài cấp Nhà nước KK.04.06, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, tr.69.

[9]. “Điều 15: Tranh tụng giữa các bên.

1. Hoạt động tố tụng hình sự được tiến hành dựa trên cơ sở tranh tụng giữa các bên.

2. Các chức năng buộc tội, gỡ tội và giải quyết vụ án hình sự (phán quyết) là độc lập với nhau và không thể giao cho cùng một cơ quan hoặc một người có thẩm quyền thực hiện.

3. Tòa án không phải là cơ quan truy cứu trách nhiệm hình sự, không thuộc bên buộc tội hoặc bên gỡ tội. Tòa án tạo những điều kiện cần thiết để các bên thực hiện nghĩa vụ tố tụng của mình và thực hiện các quyền được giao cho họ.

4. Bên buộc tội và bên gỡ tội bình đẳng trước Tòa án”.

[10]. Nguyễn Thái Phúc, “Vấn đề tranh tụng và tăng cường tranh tụng trong tố tụng hình sự theo yêu cầu của cải cách tư pháp”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, năm 2008, số 8, tr.65.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: