Thứ hai 01/06/2026 03:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhận diện các chủ thể bị khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng

Tóm tắt: Từ các quy định của pháp luật dân sự về chủ thể bị khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, bài viết phân tích sâu hơn các quy định có liên quan tới chủ thể bị khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng.

Tóm tắt: Từ các quy định của pháp luật dân sự về chủ thể bị khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, bài viết phân tích sâu hơn các quy định có liên quan tới chủ thể bị khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng.

Abstract: Based on provisions of civil law on subjects sued for damage compensation, the paper deeply analyzes provisions relating to sued subjects for damage compensation in notary activities.

1. Chủ thể bị khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự

Chủ thể bị khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại theo pháp luật dân sự Việt Nam có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc Nhà nước. Một đặc điểm chung là khi các chủ thể này hoặc người của các chủ thể này được giao thực thi nhiệm vụ gây thiệt hại hoặc vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng, ngoài hợp đồng, về trách nhiệm dân sự họ phải chịu bồi thường thiệt hại. Dưới giác độ tố tụng dân sự, họ tham gia vụ án với tư cách là bị đơn - “là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm” hoặc có thể là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự “người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”[1].

1.1. Cá nhân bị khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Cá nhân là từ chỉ “con người cụ thể từ khi sinh ra cho đến khi chết đi và tồn tại trong một tập thể hoặc trong một cộng đồng xã hội”[2]. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau. “Năng lực pháp luật dân sự của các nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết”[3]. Các nhà làm luật chia năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại dựa trên việc cá nhân đó có năng lực hành vi dân sự đầy đủ hay không hay mất năng lực hành vi dân sự. Về nguyên tắc, người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp người đó gây thiệt hại trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. Đối với “người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường”[4].

Về mặt tố tụng dân sự, khi các cá nhân tùy từng độ tuổi hay các trường hợp nêu trên bị chủ thể khác khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại thì có thể cá nhân đó hay người đại diện, người giám hộ của cá nhân đó sẽ tham gia tố tụng tại Tòa án.

1.2. Pháp nhân bị khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Pháp luật dân sự không định nghĩa pháp nhân là gì nhưng quy định một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện: Được thành lập theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, luật khác có liên quan; có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật Dân sự năm 2015; có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập[5]. Nghĩa là, không phải mọi tổ chức đều được công nhận là pháp nhân, mà một tổ chức muốn được công nhận là pháp nhân thì phải đáp ứng đủ các điều kiện mà pháp luật quy định.

Bộ luật Dân sự năm 2015 chia pháp nhân thành hai loại: Pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại. Theo đó, pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên; pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên. Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác[6].

Về trách nhiệm dân sự, pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân. Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự về nghĩa vụ do sáng lập viên hoặc đại diện của sáng lập viên xác lập, thực hiện để thành lập, đăng ký pháp nhân, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình; không chịu trách nhiệm thay cho người của pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do người của pháp nhân xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác. Người của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện, trừ trường hợp luật có quy định khác[7]. Trong quá trình hoạt động, nếu pháp nhân gây thiệt hại cho chủ thể khác thì họ sẽ bị khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại.

1.3. Nhà nước bị khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Nhà nước cũng được coi là chủ thể của pháp luật dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015[8]. Về việc đại diện cho Nhà nước tham gia các quan hệ dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước. Việc đại diện thông qua cá nhân, pháp nhân khác chỉ được thực hiện trong các trường hợp và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định[9]. Về trách nhiệm dân sự[10], Nhà nước chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của mình bằng tài sản mà mình là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.

Như vậy, khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự, nếu Nhà nước gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm dân sự bình đẳng như các chủ thể khác; quy định này là cần thiết vì trên thực tiễn trước đây đã phát sinh việc tham gia các giao dịch dân sự của Nhà nước và hạn chế tình trạng các chủ thể lạm quyền gây thất thoát cho tài sản của nhà nước.

2. Chủ thể bị khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng

Trong hoạt động công chứng, khi xảy ra thiệt hại, yếu tố quan tâm hàng đầu của chủ thể bị thiệt hại là kiện ai để yêu cầu bồi thường? Kiện ai là xác định chủ thể bị kiện hay nói cách khác xác định chủ thể sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho mình. Đứng trên giác độ người yêu cầu công chứng (là các tổ chức, cá nhân có yêu cầu công chứng hoặc có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tới hoạt động công chứng) khi họ bị thiệt hại, họ sẽ phải khiếu nại hay khởi kiện tổ chức hành nghề công chứng (gồm phòng công chứng, văn phòng công chứng) hay khởi kiện cá nhân công chứng viên, nhân viên… gây thiệt hại cho họ?

2.1. Trách nhiệm bồi thường thuộc về tổ chức hành nghề công chứng hay cá nhân công chứng viên, nhân viên hay cả hai bên?

Tổ chức, cá nhân yêu cầu công chứng hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tới hoạt động công chứng khi bị thiệt hại thì họ sẽ khởi kiện tổ chức hành nghề công chứng hay cá nhân công chứng viên, nhân viên hay cả hai đối tượng này để đòi bồi thường thiệt hại? Nói cách khác, đây là trách nhiệm của cá nhân hay trách nhiệm của pháp nhân, trách nhiệm liên đới hay riêng rẽ?

Về mặt lý luận, trách nhiệm dân sự của pháp nhân có thể phát sinh từ quan hệ hợp đồng mà pháp nhân tham gia hoặc trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong bất cứ trường hợp nào, pháp nhân chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự về những hành vi được coi là hành vi của pháp nhân: Hành vi của pháp nhân được hiểu là hành vi của người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền nhân danh pháp nhân và hành vi của các thành viên pháp nhân trong phạm vi nhiệm vụ được pháp nhân giao. Trong trường hợp người đại diện của pháp nhân thực hiện với tư cách cá nhân, sẽ không làm phát sinh trách nhiệm dân sự cho pháp nhân. Trách nhiệm dân sự của pháp nhân phát sinh trong trường hợp người của pháp nhân gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao, thông qua nội dung ủy quyền bằng văn bản hoặc bản hợp đồng lao động với pháp nhân. Người của pháp nhân được hiểu là bất cứ thành viên nào của pháp nhân, được pháp nhân tuyển dụng vào làm việc theo các quan hệ hợp đồng dài hạn, ngắn hạn, đang trong thời gian thử việc… Pháp nhân phải bồi thường cho người bị thiệt hại liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ mà pháp nhân giao cho thành viên đó thực hiện. Trong trường hợp này, hành vi của họ được hiểu là hành vi của pháp nhân. Chính vì vậy, trách nhiệm trước hết thuộc về pháp nhân. Sau khi pháp nhân bồi thường thiệt hại, nếu thành viên của pháp nhân có lỗi gây thiệt hại cho chủ thể khác, thì pháp nhân có quyền yêu cầu thành viên này phải hoàn trả “một khoản tiền bồi thường do lỗi của mình gây ra theo quy định của pháp luật”. Do đó, việc xác định mức độ lỗi của thành viên khi gây thiệt hại là rất quan trọng và là cơ sở để xác định số tiền hoàn trả của thành viên đối với pháp nhân.

Trong bất kỳ trường hợp nào, nếu không có sự thống nhất về bồi thường, bù đắp thiệt hại, thì đều dẫn tới tranh chấp. Loại trừ trường hợp bất khả kháng hay hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, đa phần các tranh chấp dạng này xoay quanh vấn đề cốt lõi là việc bóc tách trách nhiệm giữa cá nhân người lao động và doanh nghiệp, người sử dụng lao động. Dưới góc độ pháp lý, về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trách nhiệm pháp lý đặt ra cho cá nhân người lao động và người sử dụng lao động được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 là “Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra” và “Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra”. Theo nguyên tắc pháp lý, chỉ cần xác định được người lao động gây thiệt hại trong quá trình thực hiện công việc, nhiệm vụ được giao, thì người sử dụng lao động có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Sở dĩ, các nhà làm luật quy định như vậy cũng phần nào xuất phát từ lập luận: Người lao động có thể thay đổi nơi làm việc liên tục, nhưng pháp nhân là tổ chức có tính ổn định lâu dài hơn, để khi người bị thiệt hại sẽ tóm được “kẻ có tóc” trước. Tuy nhiên, ở vị trí của người sử dụng lao động, không ít trường hợp, họ có xu hướng “đẩy” phần trách nhiệm sang cho cá nhân người lao động. Vì họ biết, nếu cứ “đứng mũi chịu sào” trước bên thiệt hại, để rồi sau đó đi “đòi” người lao động thì chẳng khác nào “thả gà ra đuổi”, cho dù mình có căn cứ để đòi. Thế nên, nhiều trường hợp, doanh nghiệp sẽ tìm mọi cách chứng minh quan hệ giữa cá nhân và bên thiệt hại là quan hệ độc lập, không liên quan đến công ty. Cho dù cá nhân người lao động khi có hành vi vi phạm vẫn trong quá trình thực hiện công việc được giao, hoặc thậm chí vẫn dưới tư cách công ty.

Xuất phát từ cơ sở lý luận pháp luật dân sự nêu trên, trong hoạt động công chứng, bên bị thiệt hại có thể sẽ kiện tổ chức hành nghề công chứng hay kiện công chứng viên, nhân viên, hay người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức hành nghề công chứng? Điều 38 Luật Công chứng năm 2014 quy định về bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng: “Tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác do lỗi mà công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức mình gây ra trong quá trình công chứng. Công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên gây thiệt hại phải hoàn trả lại một khoản tiền cho tổ chức hành nghề công chứng đã chi trả khoản tiền bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật; trường hợp không hoàn trả thì tổ chức hành nghề công chứng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”. ở quy định này, theo nguyên lý, pháp nhân là chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra. Sau đó, pháp nhân có quyền yêu cầu cá nhân gây thiệt hại phải bồi hoàn khoản tiền mà pháp nhân đã bồi thường thay cho mình để bảo đảm cho thiệt hại luôn được bồi thường theo nguyên tắc “toàn bộ” và “kịp thời” của pháp luật dân sự.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, chủ thể trực tiếp tiến hành các hoạt động công chứng (mà trước hết và chủ yếu là công chứng viên) mới phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Quan điểm này lập luận rằng, công chứng viên với tư cách đạo đức hành nghề, được Nhà nước trao quyền thực hiện “dịch vụ công” phải có nghĩa vụ cẩn trọng, cần thiết, tối cao của nghề nghiệp trong hoạt động hành nghề. Công chứng viên cung cấp dịch vụ pháp lý phải đảm bảo độ tin cậy cao, phải đảm bảo thanh danh nghề nghiệp cho nên nếu gây thiệt hại thì phải trực tiếp chịu “trách nhiệm bồi thường thiệt hại”. Vì lẽ đó, Điều 71 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Công chứng viên vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”. Hoặc theo khoản 3 Điều 2 Thông tư số 11/2012/TT-BTP ngày 30/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng quy định nguyên tắc hành nghề của công chứng viên: “Chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng, bồi thường thiệt hại do lỗi của mình trong trường hợp việc công chứng dẫn đến thiệt hại cho người yêu cầu công chứng”[11]. Nói cách khác, khi hành nghề công chứng viên phải chịu trách nhiệm cá nhân về việc mình đã công chứng. Trách nhiệm cá nhân này bao gồm: Trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự (bồi thường thiệt hại).

Khoản 1 Điều 38 Luật Công chứng năm 2014 cũng quy định: “Tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác do lỗi mà công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức mình gây ra trong quá trình công chứng”. Từ nội dung điều luật có thể thấy rằng, chủ thể được hưởng quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại không chỉ là “người yêu cầu công chứng” mà còn được mở rộng thêm sang “cá nhân, tổ chức khác” bị thiệt hại liên quan tới hoạt động công chứng. Ngoài ra, chủ thể có hành vi có lỗi gây thiệt hại không chỉ dừng ở công chứng viên mà còn mở rộng thêm nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức hành nghề công chứng.

Như vậy, có thể thấy, pháp luật công chứng quy định cả công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng cùng có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, Luật Công chứng cần phải đưa ra các tiêu chí để phân định rõ ràng trường hợp nào thuộc trách nhiệm bồi thường của công chứng viên, trường hợp nào thuộc trách nhiệm bồi thường của tổ chức hành nghề công chứng. Quy định không rõ ràng như hiện nay đã làm ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của người bị thiệt hại, gây khó khăn trong việc áp dụng pháp luật của cơ quan tố tụng.

Tham khảo pháp luật của các nước trên thế giới cho thấy, họ có quy định khá khác nhau về vấn đề này. Điều 43 Luật Công chứng của Trung Quốc năm 2006 quy định: “Đơn vị công chứng và các công chứng viên do lỗi sai gây ra tổn thất cho đương sự và các bên liên quan sự vụ công chứng sẽ do đơn vị công chứng chịu trách nhiệm bồi thường tương ứng. Sau khi đơn vị công chứng bồi thường có thể truy đòi bồi thường của công chứng viên đã cố ý hoặc có lỗi lớn”[12]. Điều 19 Luật Công chứng Cộng hòa Liên bang Đức quy định: “Nếu một công chứng viên do cố ý hoặc vô ý vi phạm nghiệp vụ nghề nghiệp với một người mà anh ta có trách nhiệm, thì anh ta cần phải tiến hành bồi thường tổn hại do mình gây ra. Nếu công chứng viên do vô ý vi phạm nghiệp vụ nghề nghiệp, thì anh ta chỉ bị yêu cầu bồi thường trong tình huống người bị hại không thể có được bồi thường từ con đường khác”[13]. Tại Cộng hòa Pháp, không có điều khoản luật pháp chuyên môn nào chuyên quy định về trách nhiệm dân sự của công chứng viên, Tòa án sẽ căn cứ theo nguyên tắc quy định trong Điều 1382 Bộ luật Dân sự: “Một người do lỗi của mình đã gây ra thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường”[14]. Như vậy, pháp luật công chứng trên thế giới có những nơi quy định trách nhiệm bồi thường thuộc về cá nhân công chứng viên hoặc thuộc về cả công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng.

2.2. Tổ chức hành nghề công chứng kiện chủ thể có hành vi cản trở hoạt động công chứng, giả mạo hồ sơ công chứng để trục lợi, gây thiệt hại cho tổ chức hành nghề công chứng

Trong hoạt động công chứng, tình trạng các chủ thể khác giả mạo hồ sơ công chứng, sửa chữa hồ sơ để qua mặt công chứng viên không phải là trường hợp ít gặp, bên cạnh đó là tình trạng các chủ thể cản trở công chứng viên thực thi chức nghiệp như không cung cấp thông tin… gây thiệt hại cho các tổ chức hành nghề công chứng thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường như thế nào?

Luật Công chứng năm 2014 quy định về một số chủ thể khác liên quan tới hoạt động công chứng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại như: “Người yêu cầu công chứng có hành vi cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, sử dụng giấy tờ, văn bản giả mạo, sửa chữa, tẩy xóa giấy tờ, văn bản trái pháp luật hoặc có hành vi gian dối khác khi yêu cầu công chứng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” (Điều 75). Người yêu cầu công chứng được định nghĩa là “cá nhân, tổ chức Việt Nam hoặc cá nhân, tổ chức nước ngoài có yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch theo quy định của Luật này” (khoản 3 Điều 2). Quy định này nhằm ngăn cản hành vi vì vụ lợi để qua mặt công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác.

Luật Công chứng năm 2014 còn quy định xử lý vi phạm đối với người có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng: “Người có chức vụ, quyền hạn mà có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng hoặc cản trở công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng thực hiện quyền, nghĩa vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” (Điều 73). Công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng khi thực thi chức nghiệp của mình trên thực tiễn có sự liên quan tới các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền rất nhiều, ví dụ như việc xác minh tình trạng hôn nhân của đương sự tại ủy ban nhân dân cấp xã, xác minh tình trạng đất đai tại Văn phòng đăng ký đất đai, phòng tài nguyên và môi trường... Thực tiễn cho thấy, quy định là vậy nhưng triển khai thực hiện còn nhiều vướng mắc do các chủ thể nêu trên lập luận rằng chưa có trong quy trình giải quyết thủ tục hành chính và/hoặc chưa có quy chế phối hợp, quy trình quy định trách nhiệm. Do đó, việc chứng minh hành vi xâm phạm quyền lợi ích của công chứng viên hay cản trở công chứng viên thực thi chức nghiệp dường như bất khả thi, cần có hướng dẫn cụ thể. Điều này, phần nào cũng ảnh hưởng lớn tới thời hạn công chứng, quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu công chứng cần được sửa đổi.

3. Một vài kiến nghị thay lời kết

Từ sự trình bày, phân tích một số quy định có liên quan tới chủ thể bị khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng nêu trên, có thể đưa ra một số kiến nghị như sau:

(i) Sửa đổi, bổ sung Luật Công chứng theo hướng xây dựng một mục riêng về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường và bồi hoàn trong hoạt động công chứng, trong đó quy định bên bị thiệt hại có quyền lựa chọn khởi kiện tổ chức hành nghề công chứng hoặc công chứng viên, nhân viên, người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức hành nghề công chứng để yêu cầu bồi thường thiệt hại. Quy định như vậy sẽ rõ ràng, bảo đảm được quyền lựa chọn khởi kiện của bên bị thiệt hại sao cho thuận lợi nhất và bảo đảm được nguyên tắc thiệt hại phải được bồi thường “toàn bộ và kịp thời” của pháp luật dân sự.

(ii) Quy định rõ ràng hơn chủ thể có hành vi cản trở hoạt động công chứng, giả mạo hồ sơ công chứng để trục lợi, gây thiệt hại phải bồi thường cho tổ chức hành nghề công chứng.

(iii) Quy định trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại giữa các chủ thể gây thiệt hại trong hoạt động công chứng và vấn đề bồi hoàn thiệt hại theo nguyên lý của pháp luật dân sự.

Hoàng Văn Hữu

Văn phòng Công chứng Gia Khánh, Hà Nội







[1]. Khoản 3, khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Từ điển Luật học do Nxb Từ điển Bách khoa - Nxb. Tư pháp ấn hành năm 2006.

[3]. Khoản 3 Điều 16 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4]. Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5]. Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[6]. Điều 75, Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7]. Điều 87 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[8]. Điều 97 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[9]. Điều 98 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[10]. Điều 99 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[11]. Khoản 3, Điều 2, Thông tư số 11/2012/TT-BTP ngày 30/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành quy tắc đạo đức hành nghề công chứng quy định nguyên tắc hành nghề của công chứng viên.

[12]. Điều 43 Luật Công chứng Trung Quốc năm 2006.

[13]. Điều 19 của Luật Công chứng Cộng hòa Liên bang Đức.

[14]. Điều 1382 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: