Thứ năm 16/04/2026 22:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhận diện chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước

Tóm tắt: Bài viết đưa ra một số phân tích để thống nhất trong nhận thức, thực hiện việc nhận diện chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

Tóm tắt: Bài viết đưa ra một số phân tích để thống nhất trong nhận thức, thực hiện việc nhận diện chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

Abstract: The paper provides a number of analyses to unify the awareness and to identify subjects of corruption acts in enterprises and organizations in the non-state sector according to the Anti-Corruption Law of 2018.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước cũng có thể là chủ thể của hành vi tham nhũng[1]. Đây là lần đầu tiên Việt Nam mở rộng áp dụng chủ thể có hành vi tham nhũng ra ngoài khu vực nhà nước. Do đó, việc nhận diện chính xác chủ thể có hành vi tham nhũng thuộc khu vực ngoài nhà nước là rất cần thiết và quan trọng nhằm triển khai thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 có hiệu quả.

1. Khái quát chung về doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước

Tổ chức là phối hợp, liên kết hoạt động của nhiều người để thực hiện mục tiêu đề ra. Doanh nghiệp là tổ chức[2]. Ở đâu có tổ chức thì ở đó cần có sự quản lý. Một trong những chủ thể quản lý là con người (chủ thể còn lại là tổ chức của con người). Quyền hạn là yếu tố giúp cho con người quản lý hiệu quả nhưng cũng là một trong những công cụ để chủ thể dựa vào đó để có thể thực hiện hành vi tham nhũng. Bởi vì, tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi[3].

Nền kinh tế Việt Nam hiện nay là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó, có kinh tế tư nhân. Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển. Kinh tế tư nhân ở nước ta đã không ngừng phát triển, đóng góp ngày càng lớn hơn vào sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển tích cực đó cũng tiềm ẩn những dấu hiệu tiêu cực. Một trong những biểu hiện tiêu cực mới xuất hiện đó là tham nhũng. Tham nhũng đã phần nào gây hậu quả xấu về kinh tế - xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân. Điều này đặt ra yêu cầu, Nhà nước cần kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, trong đó có tham nhũng, bảo đảm không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và tạo gánh nặng tâm lý đối với người dân và doanh nghiệp.

Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 lần đầu tiên mở rộng quy định xử lý đối với một số tội phạm về tham nhũng trong mọi tổ chức (Mục 1 Chương XXIII). Một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật Việt Nam là tính thống nhất và đồng bộ. Do đó, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 cũng cần phải đáp ứng tiêu chí này để tránh sự mâu thuẫn của các ngành luật trong hệ thống pháp luật.

Từ ngày 18/9/2009, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng, việc mở rộng chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước, đó là thực hiện cam kết quốc tế của Việt Nam.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 không định nghĩa doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước, mà chỉ định nghĩa cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước. Do đó, để nhận diện doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước thì chúng ta phải dựa vào định nghĩa cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước: “Cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội”[4]. Theo đó, có thể hiểu, doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước là doanh nghiệp, tổ chức không thuộc trường hợp cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước. Trước hết, tác giả cho rằng, đây là quy định phù hợp và khả thi của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 về việc xác định doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước. Bởi vì, với việc chúng ta khuyến khích thành lập doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước, quyền tự do lập hội, được tham gia bất kỳ tổ chức nào (không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam) sẽ dẫn đến số lượng doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước là rất lớn. Chúng ta sẽ không thể nào liệt kê hết, đầy đủ được. Ngược lại, hệ thống chính trị của nước ta thường xuyên, liên tục được đổi mới, sắp xếp, tổ chức theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên dẫn đến số lượng tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước dần ít đi, việc nhận diện sẽ rất thuận lợi và khả thi.

Để nhận diện cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước được các nhà làm luật căn cứ vào các tiêu chí sau: Do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động; do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội. Như vậy, cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước do Nhà nước thành lập sẽ kéo theo việc Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, cấp kinh phí, cử người quản lý và hơn hết đó là được thực hiện chức năng nhà nước. Do đó, đây là tiêu chí rõ ràng, cụ thể để chúng ta nhận diện được doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước.

Hiện nay, chúng ta đang có chủ trương xã hội hóa lĩnh vực dịch vụ công, thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực dịch vụ này[5]. Có thể khẳng định, tất cả cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước hoạt động đều nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội nhưng không phải tất cả tổ chức hoạt động nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội thì đều thuộc khu vực nhà nước. Chẳng hạn, hoạt động của các tổ chức phi Chính phủ rất đa dạng trong các lĩnh vực dịch vụ, văn hóa, khoa học kỹ thuật, nhân đạo..., đó là các hoạt động phục vụ lợi ích công cộng vì sự phát triển lành mạnh, công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội[6]. Như vậy, nếu chúng ta sử dụng tiêu chí phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội để nhận diện đó là cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc khu vực nhà nước thì chắc chắn sẽ không thuyết phục trong thực tế.

Việt Nam đang trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, “đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”[7]. Đi đến tận cùng vấn đề nhận diện tổ chức được Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động thì thuộc khu vực nhà nước, e rằng không thuyết phục những chủ thể “khó tính” nhất. Bên cạnh đó, đối với doanh nghiệp nhà nước, Việt Nam đang có chủ trương tách chức năng sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước và chức năng quản lý nhà nước[8]. Từ phân tích trên, tác giả cho rằng, các cơ quan, đơn vị, tổ chức khu vực nhà nước phải đáp ứng tiêu chí có sử dụng quyền lực nhà nước hoặc có tham gia quản lý nhà nước hoặc có tài sản, vốn của Nhà nước. Ngược lại, doanh nghiệp, tổ chức không được sử dụng quyền lực nhà nước, không có sự tham gia quản lý nhà nước hoặc Nhà nước không có tài sản, vốn trong đó thì thuộc khu vực ngoài Nhà nước.

2. Nhận diện chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước

Chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước bao gồm: Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức; những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó[9]. Trong đó, người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp gồm: “Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty”[10]. Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong tổ chức là người được bổ nhiệm hoặc ký hợp đồng lao động để đảm nhận một chức danh quản lý nào đó. Bên cạnh đó, đối với những vị trí công việc mà không phải các chức danh, chức vụ quản lý nhưng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được ủy quyền, được giao hay vì thực hiện đúng nhiệm vụ của bản thân mà lợi dụng quyền hạn để vụ lợi thì có thể trở thành chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng. Như vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định người giữ chức danh, chức vụ quản lý và người không giữ bất kỳ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước đều có thể trở thành chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng. Họ đều là những người có hành vi lợi dụng quyền hạn của mình vì vụ lợi để tham nhũng. Từ đó, tác giả mạnh dạn đề xuất, trong tương lai, chúng ta có thể định nghĩa tham nhũng theo như định nghĩa của Ngân hàng Thế giới đưa ra: “Tham nhũng là việc lợi dụng quyền hạn vì vụ lợi”. Đó sẽ là định nghĩa mang tính toàn diện, sâu sắc. Đồng thời, cũng khắc phục quan niệm truyền thống trong người dân của chúng ta là người có hành vi tham nhũng chỉ là những người có chức danh, chức vụ quản lý. Từ đó, góp phần nâng cao nhận thức phòng, chống tham nhũng trong xã hội.

Nguyễn Hùng Vừa

Phó Giám đốc Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tỉnh Đắk Lắk

Dương Văn Quý

Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tỉnh Đắk Lắk



[1]. Khoản 2 Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

[2]. Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[3]. Khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

[4]. Khoản 9 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, 2016, tr.107.

[6]. Lê Thị Phượng, Phát huy vai trò của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nước ta, Tạp chí Cộng sản điện tử, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx? distribution=51809&print=true, truy cập ngày 15/6/2019.

[7]. Điều 53 Hiến pháp năm 2013.

[8]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, 2016, tr.106.

[9]. Khoản 2 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

[10]. Khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.

Theo dõi chúng tôi trên: