Chủ nhật 15/03/2026 09:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhận diện chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước

Tóm tắt: Bài viết đưa ra một số phân tích để thống nhất trong nhận thức, thực hiện việc nhận diện chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

Tóm tắt: Bài viết đưa ra một số phân tích để thống nhất trong nhận thức, thực hiện việc nhận diện chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

Abstract: The paper provides a number of analyses to unify the awareness and to identify subjects of corruption acts in enterprises and organizations in the non-state sector according to the Anti-Corruption Law of 2018.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước cũng có thể là chủ thể của hành vi tham nhũng[1]. Đây là lần đầu tiên Việt Nam mở rộng áp dụng chủ thể có hành vi tham nhũng ra ngoài khu vực nhà nước. Do đó, việc nhận diện chính xác chủ thể có hành vi tham nhũng thuộc khu vực ngoài nhà nước là rất cần thiết và quan trọng nhằm triển khai thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 có hiệu quả.

1. Khái quát chung về doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước

Tổ chức là phối hợp, liên kết hoạt động của nhiều người để thực hiện mục tiêu đề ra. Doanh nghiệp là tổ chức[2]. Ở đâu có tổ chức thì ở đó cần có sự quản lý. Một trong những chủ thể quản lý là con người (chủ thể còn lại là tổ chức của con người). Quyền hạn là yếu tố giúp cho con người quản lý hiệu quả nhưng cũng là một trong những công cụ để chủ thể dựa vào đó để có thể thực hiện hành vi tham nhũng. Bởi vì, tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi[3].

Nền kinh tế Việt Nam hiện nay là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó, có kinh tế tư nhân. Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển. Kinh tế tư nhân ở nước ta đã không ngừng phát triển, đóng góp ngày càng lớn hơn vào sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển tích cực đó cũng tiềm ẩn những dấu hiệu tiêu cực. Một trong những biểu hiện tiêu cực mới xuất hiện đó là tham nhũng. Tham nhũng đã phần nào gây hậu quả xấu về kinh tế - xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân. Điều này đặt ra yêu cầu, Nhà nước cần kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, trong đó có tham nhũng, bảo đảm không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và tạo gánh nặng tâm lý đối với người dân và doanh nghiệp.

Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 lần đầu tiên mở rộng quy định xử lý đối với một số tội phạm về tham nhũng trong mọi tổ chức (Mục 1 Chương XXIII). Một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật Việt Nam là tính thống nhất và đồng bộ. Do đó, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 cũng cần phải đáp ứng tiêu chí này để tránh sự mâu thuẫn của các ngành luật trong hệ thống pháp luật.

Từ ngày 18/9/2009, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng, việc mở rộng chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước, đó là thực hiện cam kết quốc tế của Việt Nam.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 không định nghĩa doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước, mà chỉ định nghĩa cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước. Do đó, để nhận diện doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước thì chúng ta phải dựa vào định nghĩa cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước: “Cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội”[4]. Theo đó, có thể hiểu, doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước là doanh nghiệp, tổ chức không thuộc trường hợp cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước. Trước hết, tác giả cho rằng, đây là quy định phù hợp và khả thi của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 về việc xác định doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước. Bởi vì, với việc chúng ta khuyến khích thành lập doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước, quyền tự do lập hội, được tham gia bất kỳ tổ chức nào (không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam) sẽ dẫn đến số lượng doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước là rất lớn. Chúng ta sẽ không thể nào liệt kê hết, đầy đủ được. Ngược lại, hệ thống chính trị của nước ta thường xuyên, liên tục được đổi mới, sắp xếp, tổ chức theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên dẫn đến số lượng tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước dần ít đi, việc nhận diện sẽ rất thuận lợi và khả thi.

Để nhận diện cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước được các nhà làm luật căn cứ vào các tiêu chí sau: Do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động; do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội. Như vậy, cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước do Nhà nước thành lập sẽ kéo theo việc Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, cấp kinh phí, cử người quản lý và hơn hết đó là được thực hiện chức năng nhà nước. Do đó, đây là tiêu chí rõ ràng, cụ thể để chúng ta nhận diện được doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước.

Hiện nay, chúng ta đang có chủ trương xã hội hóa lĩnh vực dịch vụ công, thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực dịch vụ này[5]. Có thể khẳng định, tất cả cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước hoạt động đều nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội nhưng không phải tất cả tổ chức hoạt động nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội thì đều thuộc khu vực nhà nước. Chẳng hạn, hoạt động của các tổ chức phi Chính phủ rất đa dạng trong các lĩnh vực dịch vụ, văn hóa, khoa học kỹ thuật, nhân đạo..., đó là các hoạt động phục vụ lợi ích công cộng vì sự phát triển lành mạnh, công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội[6]. Như vậy, nếu chúng ta sử dụng tiêu chí phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội để nhận diện đó là cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc khu vực nhà nước thì chắc chắn sẽ không thuyết phục trong thực tế.

Việt Nam đang trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, “đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”[7]. Đi đến tận cùng vấn đề nhận diện tổ chức được Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động thì thuộc khu vực nhà nước, e rằng không thuyết phục những chủ thể “khó tính” nhất. Bên cạnh đó, đối với doanh nghiệp nhà nước, Việt Nam đang có chủ trương tách chức năng sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước và chức năng quản lý nhà nước[8]. Từ phân tích trên, tác giả cho rằng, các cơ quan, đơn vị, tổ chức khu vực nhà nước phải đáp ứng tiêu chí có sử dụng quyền lực nhà nước hoặc có tham gia quản lý nhà nước hoặc có tài sản, vốn của Nhà nước. Ngược lại, doanh nghiệp, tổ chức không được sử dụng quyền lực nhà nước, không có sự tham gia quản lý nhà nước hoặc Nhà nước không có tài sản, vốn trong đó thì thuộc khu vực ngoài Nhà nước.

2. Nhận diện chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước

Chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước bao gồm: Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức; những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó[9]. Trong đó, người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp gồm: “Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty”[10]. Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong tổ chức là người được bổ nhiệm hoặc ký hợp đồng lao động để đảm nhận một chức danh quản lý nào đó. Bên cạnh đó, đối với những vị trí công việc mà không phải các chức danh, chức vụ quản lý nhưng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được ủy quyền, được giao hay vì thực hiện đúng nhiệm vụ của bản thân mà lợi dụng quyền hạn để vụ lợi thì có thể trở thành chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng. Như vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định người giữ chức danh, chức vụ quản lý và người không giữ bất kỳ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước đều có thể trở thành chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng. Họ đều là những người có hành vi lợi dụng quyền hạn của mình vì vụ lợi để tham nhũng. Từ đó, tác giả mạnh dạn đề xuất, trong tương lai, chúng ta có thể định nghĩa tham nhũng theo như định nghĩa của Ngân hàng Thế giới đưa ra: “Tham nhũng là việc lợi dụng quyền hạn vì vụ lợi”. Đó sẽ là định nghĩa mang tính toàn diện, sâu sắc. Đồng thời, cũng khắc phục quan niệm truyền thống trong người dân của chúng ta là người có hành vi tham nhũng chỉ là những người có chức danh, chức vụ quản lý. Từ đó, góp phần nâng cao nhận thức phòng, chống tham nhũng trong xã hội.

Nguyễn Hùng Vừa

Phó Giám đốc Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tỉnh Đắk Lắk

Dương Văn Quý

Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tỉnh Đắk Lắk



[1]. Khoản 2 Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

[2]. Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[3]. Khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

[4]. Khoản 9 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, 2016, tr.107.

[6]. Lê Thị Phượng, Phát huy vai trò của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nước ta, Tạp chí Cộng sản điện tử, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx? distribution=51809&print=true, truy cập ngày 15/6/2019.

[7]. Điều 53 Hiến pháp năm 2013.

[8]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, 2016, tr.106.

[9]. Khoản 2 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

[10]. Khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: