Thứ ba 14/07/2026 17:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhận diện chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước

Tóm tắt: Bài viết đưa ra một số phân tích để thống nhất trong nhận thức, thực hiện việc nhận diện chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

Tóm tắt: Bài viết đưa ra một số phân tích để thống nhất trong nhận thức, thực hiện việc nhận diện chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

Abstract: The paper provides a number of analyses to unify the awareness and to identify subjects of corruption acts in enterprises and organizations in the non-state sector according to the Anti-Corruption Law of 2018.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước cũng có thể là chủ thể của hành vi tham nhũng[1]. Đây là lần đầu tiên Việt Nam mở rộng áp dụng chủ thể có hành vi tham nhũng ra ngoài khu vực nhà nước. Do đó, việc nhận diện chính xác chủ thể có hành vi tham nhũng thuộc khu vực ngoài nhà nước là rất cần thiết và quan trọng nhằm triển khai thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 có hiệu quả.

1. Khái quát chung về doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước

Tổ chức là phối hợp, liên kết hoạt động của nhiều người để thực hiện mục tiêu đề ra. Doanh nghiệp là tổ chức[2]. Ở đâu có tổ chức thì ở đó cần có sự quản lý. Một trong những chủ thể quản lý là con người (chủ thể còn lại là tổ chức của con người). Quyền hạn là yếu tố giúp cho con người quản lý hiệu quả nhưng cũng là một trong những công cụ để chủ thể dựa vào đó để có thể thực hiện hành vi tham nhũng. Bởi vì, tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi[3].

Nền kinh tế Việt Nam hiện nay là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó, có kinh tế tư nhân. Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển. Kinh tế tư nhân ở nước ta đã không ngừng phát triển, đóng góp ngày càng lớn hơn vào sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển tích cực đó cũng tiềm ẩn những dấu hiệu tiêu cực. Một trong những biểu hiện tiêu cực mới xuất hiện đó là tham nhũng. Tham nhũng đã phần nào gây hậu quả xấu về kinh tế - xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân. Điều này đặt ra yêu cầu, Nhà nước cần kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, trong đó có tham nhũng, bảo đảm không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và tạo gánh nặng tâm lý đối với người dân và doanh nghiệp.

Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 lần đầu tiên mở rộng quy định xử lý đối với một số tội phạm về tham nhũng trong mọi tổ chức (Mục 1 Chương XXIII). Một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật Việt Nam là tính thống nhất và đồng bộ. Do đó, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 cũng cần phải đáp ứng tiêu chí này để tránh sự mâu thuẫn của các ngành luật trong hệ thống pháp luật.

Từ ngày 18/9/2009, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng, việc mở rộng chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước, đó là thực hiện cam kết quốc tế của Việt Nam.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 không định nghĩa doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước, mà chỉ định nghĩa cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước. Do đó, để nhận diện doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước thì chúng ta phải dựa vào định nghĩa cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước: “Cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội”[4]. Theo đó, có thể hiểu, doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước là doanh nghiệp, tổ chức không thuộc trường hợp cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước. Trước hết, tác giả cho rằng, đây là quy định phù hợp và khả thi của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 về việc xác định doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước. Bởi vì, với việc chúng ta khuyến khích thành lập doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước, quyền tự do lập hội, được tham gia bất kỳ tổ chức nào (không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam) sẽ dẫn đến số lượng doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước là rất lớn. Chúng ta sẽ không thể nào liệt kê hết, đầy đủ được. Ngược lại, hệ thống chính trị của nước ta thường xuyên, liên tục được đổi mới, sắp xếp, tổ chức theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên dẫn đến số lượng tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước dần ít đi, việc nhận diện sẽ rất thuận lợi và khả thi.

Để nhận diện cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước được các nhà làm luật căn cứ vào các tiêu chí sau: Do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động; do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội. Như vậy, cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước do Nhà nước thành lập sẽ kéo theo việc Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, cấp kinh phí, cử người quản lý và hơn hết đó là được thực hiện chức năng nhà nước. Do đó, đây là tiêu chí rõ ràng, cụ thể để chúng ta nhận diện được doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước.

Hiện nay, chúng ta đang có chủ trương xã hội hóa lĩnh vực dịch vụ công, thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực dịch vụ này[5]. Có thể khẳng định, tất cả cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước hoạt động đều nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội nhưng không phải tất cả tổ chức hoạt động nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội thì đều thuộc khu vực nhà nước. Chẳng hạn, hoạt động của các tổ chức phi Chính phủ rất đa dạng trong các lĩnh vực dịch vụ, văn hóa, khoa học kỹ thuật, nhân đạo..., đó là các hoạt động phục vụ lợi ích công cộng vì sự phát triển lành mạnh, công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội[6]. Như vậy, nếu chúng ta sử dụng tiêu chí phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội để nhận diện đó là cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc khu vực nhà nước thì chắc chắn sẽ không thuyết phục trong thực tế.

Việt Nam đang trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, “đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”[7]. Đi đến tận cùng vấn đề nhận diện tổ chức được Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động thì thuộc khu vực nhà nước, e rằng không thuyết phục những chủ thể “khó tính” nhất. Bên cạnh đó, đối với doanh nghiệp nhà nước, Việt Nam đang có chủ trương tách chức năng sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước và chức năng quản lý nhà nước[8]. Từ phân tích trên, tác giả cho rằng, các cơ quan, đơn vị, tổ chức khu vực nhà nước phải đáp ứng tiêu chí có sử dụng quyền lực nhà nước hoặc có tham gia quản lý nhà nước hoặc có tài sản, vốn của Nhà nước. Ngược lại, doanh nghiệp, tổ chức không được sử dụng quyền lực nhà nước, không có sự tham gia quản lý nhà nước hoặc Nhà nước không có tài sản, vốn trong đó thì thuộc khu vực ngoài Nhà nước.

2. Nhận diện chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước

Chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước bao gồm: Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức; những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó[9]. Trong đó, người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp gồm: “Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty”[10]. Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong tổ chức là người được bổ nhiệm hoặc ký hợp đồng lao động để đảm nhận một chức danh quản lý nào đó. Bên cạnh đó, đối với những vị trí công việc mà không phải các chức danh, chức vụ quản lý nhưng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được ủy quyền, được giao hay vì thực hiện đúng nhiệm vụ của bản thân mà lợi dụng quyền hạn để vụ lợi thì có thể trở thành chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng. Như vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định người giữ chức danh, chức vụ quản lý và người không giữ bất kỳ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước đều có thể trở thành chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng. Họ đều là những người có hành vi lợi dụng quyền hạn của mình vì vụ lợi để tham nhũng. Từ đó, tác giả mạnh dạn đề xuất, trong tương lai, chúng ta có thể định nghĩa tham nhũng theo như định nghĩa của Ngân hàng Thế giới đưa ra: “Tham nhũng là việc lợi dụng quyền hạn vì vụ lợi”. Đó sẽ là định nghĩa mang tính toàn diện, sâu sắc. Đồng thời, cũng khắc phục quan niệm truyền thống trong người dân của chúng ta là người có hành vi tham nhũng chỉ là những người có chức danh, chức vụ quản lý. Từ đó, góp phần nâng cao nhận thức phòng, chống tham nhũng trong xã hội.

Nguyễn Hùng Vừa

Phó Giám đốc Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tỉnh Đắk Lắk

Dương Văn Quý

Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tỉnh Đắk Lắk



[1]. Khoản 2 Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

[2]. Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[3]. Khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

[4]. Khoản 9 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, 2016, tr.107.

[6]. Lê Thị Phượng, Phát huy vai trò của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nước ta, Tạp chí Cộng sản điện tử, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx? distribution=51809&print=true, truy cập ngày 15/6/2019.

[7]. Điều 53 Hiến pháp năm 2013.

[8]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, 2016, tr.106.

[9]. Khoản 2 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

[10]. Khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.

Theo dõi chúng tôi trên: