Thứ sáu 01/05/2026 10:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhận diện quyền hành pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tóm tắt: Một trong những định hướng quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là xác định rõ hơn nội dung và trách nhiệm của mỗi quyền trong hệ thống quyền lực nhà nước.

Trên cơ sở đó, yêu cầu trước hết cần phải giải quyết là nhận diện đầy đủ về các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bài viết này phân tích và đề cập các cơ sở để xác định quyền hành pháp, làm rõ các đặc điểm của quyền hành pháp trên nhiều phương diện trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Abstract: One of the most important orientations in building a Vietnamese rule of law state is to more clearly identify the content and liability of each power in the state power system. On this basis, it is in the first place a requirement which needs to be solved is to fully identify legislative, executive, judicial power in the Vietnamese rule of law state. This article analyses and mentions grounds in order to identify executive power and to clarify characteristics of executive in many respects of Vietnamese rule of law state.

Quyền lực hành pháp (hay quyền hành pháp) là một bộ phận quan trọng trong tổ chức cấu trúc và vận hành quyền lực của Nhà nước pháp quyền nói chung và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng. Quyền lực hành pháp được tiếp cận nghiên cứu với nhiều góc độ, từ đó, có nhiều cách hiểu về quyền lực hành pháp khác nhau. Trong nghiên cứu lý luận, tồn tại nhiều quan điểm, định nghĩa cùng với nhiều nội dung phong phú, đa chiều về quyền lực hành pháp. Theo đó, câu hỏi quyền lực hành pháp là gì có thể được trả lời trực tiếp bằng việc xác định các quyền cụ thể hoặc được giải quyết gián tiếp thông qua việc nghiên cứu về chủ thể, vị trí, vai trò hay chức năng của quyền hành pháp. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, câu trả lời cho câu hỏi quyền lực hành pháp là gì, ngoài việc đề cập những nội dung mang tính phổ biến còn chứa đựng những yếu tố đặc thù.

Quan niệm truyền thống xuất phát từ tư tưởng của các đại biểu tư sản tiến bộ về “quyền lập pháp thể hiện ý chí chung của quốc gia, quyền hành pháp thì thực hiện ý chí chung ấy”[1]. Trên cơ sở đó, quyền hành pháp được hiểu với nội dung là “quyền thi hành” hay “thực hiện luật”. Đây cũng là cách hiểu phổ biến và có tính mặc định trong suốt thời gian dài khi quyền lực hành pháp được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam. Tác giả Lê Sĩ Dược đã khẳng định: “Thuật ngữ hành pháp có nghĩa là thi hành pháp luật. Quyền hành pháp là quyền thực hiện pháp luật và chấp hành pháp luật; thực hiện quyền hành pháp chính là hoạt động đưa pháp luật vào cuộc sống, đụng chạm đến mọi mặt của đời sống xã hội”[2]. GS.TS. Trần Ngọc Đường trong bài viết “Kiểm soát quyền lực nhà nước trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” đã thể hiện quan điểm rõ ràng về quyền hành pháp: Thuộc tính cơ bản, xuyên suốt mọi hoạt động của quyền này là quản lý nhà nước (hay cai trị) mà thực chất là tổ chức thực hiện pháp luật để bảo đảm an ninh, an toàn và phát triển xã hội.

Lịch sử tồn tại và phát triển của bộ máy quyền lực nhà nước nói chung và vấn đề tổ chức, vận hành quyền lực nhà nước nói riêng đã cho thấy xu hướng thể hiện và thực hiện vai trò tích cực, năng động, sáng tạo của các cơ quan nhà nước thực thi quyền hành pháp. Sự vận động không ngừng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhu cầu được tổ chức đời sống cộng đồng xã hội, nhu cầu tiếp cận và kiểm soát sự vận động ấy thông qua việc quản lý, định hướng… của Nhà nước là cơ sở quan trọng để xác định vị trí, vai trò của cơ quan thực thi quyền hành pháp trong bộ máy nhà nước nói chung; xác định vị trí, vai trò của quyền lực hành pháp trong hệ thống quyền lực nhà nước nói riêng. Qua đó cho thấy, quyền hành pháp ngày càng trở thành quyền lực trung tâm trong cơ cấu quyền lực nhà nước, đặc biệt ở các nhà nước dân chủ và pháp quyền. Nhận thức về xu hướng vận động này đã tác động một cách mạnh mẽ trong nghiên cứu về quyền hành pháp nói chung. Ở Việt Nam, đa số các quan điểm hiện thời đều tiếp cận quyền hành pháp với những nội dung quyền rộng hơn so với cách hiểu truyền thống: Hiểu hành pháp không chỉ là “quyền thi hành” hay “thực hiện luật” mà còn bao gồm “quyền hoạch định, ban hành” chính sách nhà nước.

Tiếp cận ở phạm vi nghiên cứu rộng, quyền hành pháp có thể được hiểu thông qua sự liệt kê cụ thể: “1. Xác lập đường lối, chính sách của Chính phủ về đối nội và đối ngoại phù hợp với Hiến pháp và các luật; 2. Tổ chức thực thi các quy định của Hiến pháp và các luật bằng việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp và luật; 3. Xây dựng và duy trì hoạt động thường xuyên một bộ máy công quyền từ trung ương xuống địa phương nhằm điều hòa các mối quan hệ xã hội trên các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm bảo đảm một trật tự an toàn chung cho mọi công dân; 4. Tổ chức và quản lý dịch vụ công, quản trị các tài sản thuộc sở hữu nhà nước, quản lý hành chính việc tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước; 5. Tổ chức kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước và tổ chức kiểm toán tất cả các cơ quan hưởng hương từ ngân sách nhà nước”[3]. Thực chất, toàn bộ liệt kê này phản ánh một cách cơ bản những hoạt động của cơ quan nhà nước có chức năng hành pháp. Những hoạt động cơ bản đó thuộc nội hàm của quyền hành pháp.

Tiếp cận nghiên cứu quyền hành pháp bằng cách xác định các loại quyền cụ thể trong cấu trúc của nó là cách tiếp cận làm hình thành nhiều quan điểm trong nghiên cứu lý luận về quyền hành pháp. Theo đó, quyền hành pháp bao gồm “quyền lập quy” và “quyền hành chính”. Giáo sư Đoàn Trọng Truyến khái quát: “Quyền hành pháp là quyền thực thi pháp luật và tổ chức đời sống theo pháp luật, quyền lập quy và quyền hành chính”[4]. TS. Đinh Văn Minh trong bài viết “Kiểm soát việc thực hiện quyền lực hành pháp” đã nêu quan điểm: Một cách cụ thể hơn, quyền hành pháp là bộ phận quyền lực nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ hoạch định, thực thi chính sách công, triển khai pháp luật và tổ chức đời sống theo pháp luật. Quyền này được thể hiện thông qua quyền lập quy (regulatory power) và quyền hành chính (administrative power). Trong đó, quyền lập quy là quyền ban hành các văn bản dưới luật (văn bản pháp quy). Quyền hành chính là quyền tổ chức và điều hành bộ máy hành chính nhằm tổ chức và quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội.

Như vậy, dù được trình bày hay diễn đạt bằng những cách khác nhau, các quan điểm hiện hành, về cơ bản đã xác định và hiểu quyền hành pháp (hay quyền lực hành pháp) với những nội dung cơ bản theo cách tiếp cận quyền hành pháp ở phạm vi rộng là phổ biến.

Trên cơ sở tham khảo các quan điểm nghiên cứu, cùng với nhận thức về mối liên hệ giữa quyền lực hành pháp trong hệ thống tổ chức quyền lực nhà nước của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tác giả đưa ra quan điểm của mình về việc nhận diện quyền lực hành pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với những nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, về mặt hình thức, quyền lực hành pháp là một bộ phận trong cấu trúc tổ chức của quyền lực nhà nước. Lịch sử ra đời và tồn tại của quyền lực nhà nước ghi nhận có nhiều hình thức tổ chức quyền lực nhà nước. Mặc dù vậy, cơ bản và phổ biến, trên phương diện lý luận và thực tiễn, quyền lực nhà nước được tổ chức và thực hiện thông qua ba bộ phận quyền: Quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Trong hệ thống này, quyền lực hành pháp là một thành tố cấu thành, có vị trí tương đối độc lập, có mối quan hệ thống nhất tương đối, có sự tác động qua lại với quyền lập pháp, quyền tư pháp, là đại diện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hành pháp.

Thứ hai, về mặt nội dung, quyền lực hành pháp bao gồm quyền lập quy và quyền hành chính. Tác giả đồng tình cùng với đa phần các quan điểm hiện hành về việc xác định nội hàm của quyền hành pháp. Cơ sở thể hiện quan điểm xuất phát từ chính chủ thể, chức năng, đặc điểm, vị trí, vai trò, phạm vi hoạt động của quyền hành pháp. Một cách khái quát, từ việc hiểu quyền hành pháp là quyền thực thi chính sách công, triển khai pháp luật và tổ chức, điều hành các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; để thực hiện các quyền này, chủ thể quyền hành pháp sẽ tiến hành quyền lập quy và quyền hành chính. Quyền lập quy bao hàm quyền hoạch định chính sách quốc gia, quyền xác lập, ban hành văn bản pháp quy. Quyền hành chính bao hàm quyền tổ chức, điều hành hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, triển khai chính sách, pháp luật vào đời sống. Qua đó, chủ thể quyền hành pháp thể hiện nhu cầu tiếp cận thực tiễn, giải quyết thực tiễn nhằm quản lý xã hội; thể hiện vai trò chủ động, tích cực trong hoạt động quản lý thông qua hệ thống cơ chế tiếp nhận thông tin cuộc sống, phản hồi bằng việc xác lập, ban hành, điều chỉnh… chính sách, văn bản pháp quy. Điều đó cho thấy, hiểu đầy đủ về quyền lực hành pháp, đặc biệt trong thời kỳ đương đại, khi vai trò quyền hành pháp nổi bật ở vị trí trung tâm của hệ thống quyền lực nhà nước, thì hành pháp không chỉ là thi hành luật. Thẩm quyền của hành pháp còn là xác lập và thực hiện các chính sách của Nhà nước. Vì vậy, quyền lực hành pháp bao gồm cả quyền lập quy và quyền hành chính.

Thứ ba, trong mối quan hệ với quyền lực nhà nước nói chung, với quyền hành chính nói riêng, cần có những phân biệt nhất định để nhận diện quyền lực hành pháp. Quyền lực nhà nước thông thường được tổ chức với ba loại quyền: Quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Trong Nhà nước pháp quyền, xuất phát từ nguyên lý chủ quyền thuộc về nhân dân, quyền lập pháp được hiểu là một loại quyền lực nhà nước, đại diện ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân, được nhân dân thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua cơ quan đại diện nhằm luật hóa và hiện thực hóa ý chí, nguyện vọng và lợi ích đó, hướng đến bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Cũng trên cơ sở nguyên lý chung ấy, quyền tư pháp gắn với chức năng duy trì, bảo vệ trật tự nhà nước, trật tự pháp luật, bảo vệ quyền công dân. Trong đó, hoạt động xét xử của cơ quan Tòa án được xem là hoạt động đặc thù, thể hiện rõ nhất tính tư pháp của quyền tư pháp và là trọng tâm của quyền tư pháp.

Điểm chung của các quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp được xác định: Các quyền này đều có tư cách là bộ phận cấu thành trong cấu trúc của hệ thống quyền lực nhà nước; có vị trí ngang hàng cùng nhau trong hệ thống cấu trúc ấy. Mỗi loại quyền trên đại diện quyền lực nhà nước ở những phạm vi nhất định. Mặc dù vậy, tính độc lập tương đối trong hệ thống quyền lực nhà nước của mỗi quyền được xác lập trên cơ sở vị trí, vai trò, chủ thể, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền riêng của mỗi loại quyền. Trong đó, vị trí trung tâm của quyền hành pháp được khẳng định thông qua việc xác lập vai trò quan trọng, quyết định trong việc thực thi quyền lực nhà nước hiệu quả. Vị trí, vai trò của quyền lực hành pháp trong Nhà nước pháp quyền được xác định từ những đặc trưng cơ bản của quyền hành pháp: Tính năng động, thường xuyên, trực tiếp, bao quát… trong so sánh với quyền lập pháp, quyền tư pháp và trong cả mối quan hệ với các đối tượng mà quyền hành pháp hướng đến khi thực thi quyền. Bên cạnh đó, một căn cứ cơ bản, theo tác giả cần thiết phải đề cập để phân biệt hay để nhận diện quyền hành pháp với các loại quyền khác (quyền lập pháp, quyền tư pháp, quyền hành chính) là chủ thể của nó. Chủ thể thực hiện quyền hành pháp, mặc dù bao gồm nhiều cơ quan nhà nước, nhưng chủ yếu vẫn là hệ thống cơ quan hành chính. Hành chính được hiểu là quản lý - là hoạt động có tính chất chỉ đạo, điều hành. Hành pháp, quyền hành pháp tồn tại và vận động dựa trên một nền tảng nhất định. Nền tảng ấy là nền hành chính, hoạt động hành chính, quyền hành chính. Điều đó cho thấy, quyền hành pháp cần được phân biệt với quyền hành chính: Quyền hành chính là phương thức thể hiện quyền hành pháp trong đời sống.

Trên cơ sở đó, tác giả xác định: Quyền lực hành pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quyền lực nhà nước được tổ chức và thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, tiến hành các hoạt động thực thi pháp luật, lập quy và quản lý hành chính nhà nước trên cơ sở quy định của pháp luật, phản ánh bản chất và bảo đảm chủ quyền nhân dân của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực hành pháp có những đặc điểm cơ bản sau:

(i) Quyền lực hành pháp được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa, dựa trên chế độ chính trị nhất nguyên, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

(ii) Cấu trúc quyền lực hành pháp bao gồm:

Một là, chủ thể của quyền lực hành pháp

Chủ thể của quyền lực hành pháp không chỉ giới hạn bởi hệ thống cơ quan hành chính nhà nước mà còn được thực hiện bởi các cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp cũng như cơ quan Chủ tịch nước. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức, hoạt động của các cơ quan nhà nước thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được xác định: Dù Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp (Điều 94 Hiến pháp năm 2013, Điều 1 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015), nhưng trong nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội - cơ quan thực hiện quyền lập pháp (Điều 69 Hiến pháp năm 2013, Điều 1 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014), cũng bao hàm những hoạt động triển khai thực hiện pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước… Việc thực hiện các hoạt động này cho thấy thẩm quyền hoạt động của Quốc hội mang tính hành pháp rõ rệt. Bên cạnh đó, cơ quan Tòa án - cơ quan thực hiện quyền tư pháp (Điều 102 Hiến pháp năm 2013, Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án năm 2014), trong quá trình thực hiện quyền tư pháp cũng sẽ tiến hành đồng thời các hoạt động quản lý hành chính về bộ máy làm việc, nhân sự, cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện… hoạt động. Những hoạt động này thuộc nội hàm quyền hành pháp. Cơ quan Chủ tịch nước - người đứng đầu nhà nước - cũng được trao nhiều quyền hạn thuộc các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong đó, các quyền như quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải thưởng nhà nước, danh hiệu vinh dự nhà nước; quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam (Điều 88 Hiến pháp năm 2013) thuộc quyền hành pháp. Trong thực tiễn, các nội dung trong nội hàm của quyền hành pháp còn được thực hiện bởi các cơ quan thuộc cấp chính quyền địa phương như Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân (thẩm quyền thực hiện theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015). Như vậy, các chủ thể thực hiện quyền hành pháp được tổ chức ở cả trung ương và địa phương, bao gồm nhiều loại cơ quan nhà nước. Mặc dù vậy, nhận diện chủ thể quyền hành pháp, chủ thể có chức năng hành pháp, chủ yếu là hệ thống cơ quan hành chính nhà nước. Hệ thống cơ quan này trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm Chính phủ, bộ, các cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân ở các cấp hành chính.

Hai là, nội dung hoạt động của quyền lực hành pháp

- Trên phương diện thi hành pháp luật: Tuân thủ, chấp hành Hiến pháp và pháp luật trong tổ chức và hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn.

- Trên phương diện thực hiện quyền lập quy: Ban hành các văn bản pháp luật để thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước và để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

- Trên phương diện thực hiện quyền hành chính: Tiến hành các hoạt động điều hành để tổ chức thực hiện chính sách và pháp luật trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; tổ chức kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước; kiểm tra và xử lý các văn bản trái Hiến pháp và pháp luật trong thẩm quyền. Thực hiện các hoạt động bảo vệ pháp luật bằng những phương tiện của hành pháp; tổ chức và quản lý bộ máy hành pháp; bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Ba là, đối tượng của quyền lực hành pháp

Đối tượng của quyền lực hành pháp bao gồm các cá nhân, tổ chức cùng các hoạt động của họ khi tham gia quan hệ pháp lý với chủ thể quyền lực hành pháp trong quá trình các chủ thể này thực hiện các hoạt động thuộc thẩm quyền thực thi quyền lực hành pháp hoặc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân.

Với những đặc điểm cơ bản có ý nghĩa là căn cứ nhận diện nêu trên, quyền lực hành pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác định. Trong hệ thống lý luận chính trị - pháp lý về quyền lực hành pháp, việc làm rõ những nội dung nghiên cứu này góp phần làm cơ sở để “xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của mỗi quyền”5 trong định hướng của Đảng về thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước 05 năm 2016 - 2020, trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

ThS. Lê Thị Anh Đào

Học viện Chính trị Khu vực II



Tài liệu tham khảo:

[1]. Montesquieu, Tinh thần pháp luật, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1996, tr. 100.

[2]. Lê Sĩ Dược, Cải cách bộ máy hành pháp cấp trung ương trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta, Luận án Phó tiến sĩ khoa học luật học, Hà Nội, 1996, tr. 23.

[3]. Thái Vĩnh Thắng, Tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2011, tr. 97.

[4]. GS. Đoàn Trọng Truyến (chủ biên), Hành chính học đại cương, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.

[5]. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 176.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: