Chủ nhật 15/03/2026 20:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhận thức về Hiến pháp và bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tổng hợp, phân tích nhận thức về Hiến pháp và bảo vệ Hiến pháp trong một số nghiên cứu gần đây. Qua đó, tác giả đề xuất một số định hướng tiếp tục nghiên cứu về chủ đề này trong thời gian tới.

Tóm tắt: Bài viết tổng hợp, phân tích nhận thức về Hiến pháp và bảo vệ Hiến pháp trong một số nghiên cứu gần đây. Qua đó, tác giả đề xuất một số định hướng tiếp tục nghiên cứu về chủ đề này trong thời gian tới.

Abstract: The article summarizes, analyzes the perception of the Constitution and the Constitution protection in some recent studies. Thereby, the author proposes some directions for further research on this topic in the coming time.

1. Nhận thức về Hiến pháp ở Việt Nam[1]

Thuật ngữ Hiến pháp (constitution) xuất phát từ tiếng La-tinh (constutio)[2], đầu tiên đề cập đến việc ban hành các luật quan trọng của hoàng đế La Mã, sau này được dùng rộng rãi trong luật tôn giáo để chỉ các quyết định chủ yếu từ Giáo hoàng. Ngày nay, thuật ngữ Hiến pháp được dùng phổ biến ở các nước trên thế giới với nghĩa là đạo luật cơ bản (basic law) của quốc gia, có hiệu lực pháp lý cao nhất, được xây dựng, ban hành, bổ sung, sửa đổi với một thủ tục đặc biệt[3]. Lịch sử xuất hiện của Hiến pháp thành văn đầu tiên là ở lục địa châu Mỹ, bởi ngay từ thế kỷ XVII gắn với quá trình đấu tranh giành độc lập tại lục địa này đã có các bản Hiến ước của các tiểu bang và bản Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ ngày 04/7/1776[4]. Hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1787 được coi là bản Hiến pháp thành văn hoàn chỉnh đầu tiên của lịch sử lập hiến nhân loại.

Theo Từ điển Black’s Law, Hiến pháp là luật tổ chức và cơ bản của một quốc gia, trong đó thiết lập các thể chế và bộ máy chính quyền, xác định phạm vi quyền lực chủ quyền của chính quyền và sự bảo đảm các quyền và tự do cá nhân của công dân[5]. Theo đó, Hiến pháp là một tập hợp những quy tắc điều chỉnh các cấu trúc nền tảng và hoạt động của các thiết chế cai trị trong một quốc gia. Trong một hiến pháp hiện đại, các quy tắc này cũng quy định về các quyền cơ bản của người dân và có thể bao gồm cả một số nguyên tắc định hướng cho pháp luật và chính sách quốc gia có tính chất tổng quát hơn[6].

Thực tế cho thấy, có nhiều quan điểm khác nhau về bản chất của Hiến pháp nên sẽ có nhiều khái niệm về Hiến pháp được đưa ra, từ đó định nghĩa các mô hình khác nhau về nội dung của Hiến pháp. Tuy nhiên, hầu như không có sự khác biệt khi nhận diện về bản chất của Hiến pháp, ít nhất trên ba phương diện: (i) Hiến pháp là một bản cam kết về các giá trị chung mà một cộng đồng theo đuổi, là bản văn ghi nhận những giá trị xã hội được toàn xã hội và nhân dân chấp nhận và chia sẻ, thể hiện những lợi ích tương hợp của các tầng lớp xã hội, lợi ích chung của nhân dân, của dân tộc; (ii) Hiến pháp không điều chỉnh mọi loại quan hệ xã hội hiện hữu mà chỉ điều chỉnh những quan hệ cơ bản nhất, làm cơ sở pháp lý cho đường lối chính trị chủ đạo nhằm phát triển đất nước và xã hội; (iii) Hiến pháp là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất thể hiện ý chí của nhân dân trong việc giới hạn quyền lực nhà nước, chế ngự chính quyền hướng tới mục đích bảo vệ tự do của con người.

Hiến pháp có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, tính dân chủ. Hiến pháp là văn bản pháp lý quan trọng nhất của một quốc gia, là giá trị dân chủ tích tụ và cô đọng nhất của một nền chính trị. Tính dân chủ của Hiến pháp thể hiện ở ba nội dung lớn: (i) Thừa nhận chủ quyền nhân dân và ghi nhận các cơ chế xác lập một nhà nước dân chủ; (ii) Ghi nhận các quyền và tự do của cá nhân; (iii) Ghi nhận các hình thức, cơ chế bảo hộ, thực thi dân chủ của Nhà nước và xã hội. Đặc trưng dân chủ của Hiến pháp còn phải được thể hiện trong triết lý xây dựng và vận hành Hiến pháp - triết lý chủ quyền tối thượng thuộc về nhân dân.

Thứ hai, tính công khai. Là bản “khế ước xã hội” của nhân dân nên Hiến pháp phải do nhân dân bàn thảo, xây dựng nên, được tuyên bố công khai và minh định các nội dung. Tính công khai của Hiến pháp đặt ra nhu cầu về cơ chế ủy quyền của nhân dân, cơ chế giám sát quyền lực nhà nước, trước hết là giám sát Hiến pháp. Hiến pháp phải thiết kế hợp lý để nhân dân ủy quyền mà không mất quyền[7]. Sau khi ủy quyền, nhân dân trở thành người chủ thực sự, có khả năng cao nhất để theo dõi, giám sát người được ủy quyền.

Thứ ba, tính cơ bản, khái quát. Hiến pháp không thể và không cần điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội. Một bản Hiến pháp có phạm vi điều chỉnh quá rộng cũng như mức độ điều chỉnh quá chi tiết thường dễ dẫn đến một trong hai khả năng: Khiến cho Hiến pháp trở nên gần hơn với một đạo luật thông thường hoặc mở rộng quá mức dung lượng của bản Hiến pháp. Cả hai khả năng này đều làm suy giảm vị trí tối cao của Hiến pháp.

Thứ tư, tính ổn định. Hiến pháp nhìn chung có tính ổn định cao nhất so với các văn bản quy phạm pháp luật khác. Phạm vi điều chỉnh và mức độ chi tiết hóa của Hiến pháp là những vấn đề khác biệt. Mở rộng phạm vi điều chỉnh của Hiến pháp có thể không ảnh hưởng tới tính ổn định của Hiến pháp. Tuy nhiên, mức độ chi tiết hóa của các quy phạm hiến pháp sẽ khiến cho Hiến pháp không thể có “đời sống” lâu dài, nhất là trong tình hình biến đổi nhanh chóng của các quan hệ xã hội hiện nay.

Thứ năm, Hiến pháp thường được bảo vệ ở mỗi quốc gia bằng cơ chế bảo hiến. Trên thế giới, một số quốc gia có cơ chế bảo hiến tập trung theo mô hình Tòa án Hiến pháp, Hội đồng Hiến pháp; một số quốc gia khác theo mô hình bảo hiến phi tập trung; một số quốc gia theo mô hình hỗn hợp (thẩm quyền bảo hiến được trao cho cả cơ quan bảo hiến chuyên trách như Tòa án Hiến pháp và tất cả các tòa án thuộc hệ thống tư pháp).

Về nội dung, các bản Hiến pháp cổ điển (ra đời trước năm 1945) thường có nội dung ngắn gọn, xúc tích, chủ yếu tập trung vào tổ chức bộ máy nhà nước (gồm các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, mối quan hệ chính quyền trung ương với địa phương) và liệt kê các quyền con người cơ bản. Các bản Hiến pháp ra đời sau năm 1945, đặc biệt là từ sau năm 1990, thường có nội dung phong phú hơn, bao trùm nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Bên cạnh các nội dung như trong Hiến pháp cổ điển, Hiến pháp hiện đại thường quy định cụ thể hơn về các cơ quan nhà nước ở trung ương, quy định các cơ quan hiến định độc lập (Kiểm toán, Ủy ban Bầu cử, Ủy ban Nhân quyền...), quy định về nhiều quyền trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa... Một số Hiến pháp còn quy định những nội dung mang tính chính sách, định hướng như phát triển kinh tế, văn hóa (như Hiến pháp Philippines năm 1986, Hiến pháp các nước xã hội chủ nghĩa...). Kể từ những năm 80 của thế kỷ XIX đến nay, các bản Hiến pháp hiện đại quy định ngày càng nhiều thiết chế hiến định độc lập nhằm tăng cường giám sát sự lạm quyền và phòng, chống tham nhũng, ví dụ như: Hội đồng Bầu cử, Ủy ban quốc gia về quyền con người, Ủy ban chống tham nhũng quốc gia, Ủy ban công vụ, Ombudsman[8], cơ quan bảo hiến...

Hiện nay không có sự thống nhất về cách phân loại Hiến pháp[9]. Chẳng hạn: Richard Albert phân loại dựa theo chính thể; Albert H.Y. Chen phân loại theo vai trò của Hiến pháp; Jiunn Rong Yeh phân loại theo bản chất và nội dung của Hiến pháp[10]; Chirkin phân loại theo các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa lập hiến[11]. Ở Việt Nam, tác giả Đào Trí Úc phân loại theo tư tưởng (chủ nghĩa) lập hiến[12]; tác giả Bùi Ngọc Sơn phân loại theo bản chất và nội dung của Hiến pháp; tác giả Hoàng Văn Tú phân loại theo xu hướng phát triển của Hiến pháp[13]; tác giả Trần Ngọc Đường phân loại dựa trên nội dung quy định trong Hiến pháp và quan niệm về Hiến pháp[14]. Với chủ trương phân loại dựa theo các đặc điểm và nội dung cơ bản phản ánh trong Hiến pháp, có tác giả nhận định tồn tại ba mô hình hiến pháp: (i) Mô hình hiến pháp cổ điển; (ii) Mô hình hiến pháp Soviet; (iii) Mô hình hiến pháp chuyển đổi[15].

2. Nhận thức về bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam[16]

Một số nghiên cứu gần đây đã làm rõ khái niệm bảo hiến và cơ chế bảo hiến. Thuật ngữ “bảo hiến” được hiểu theo nghĩa chung nhất là bảo vệ Hiến pháp. Theo nghĩa rộng, bảo hiến được hiểu là toàn bộ những yếu tố, cách thức, biện pháp nhằm bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và chống lại mọi sự vi phạm Hiến pháp[17]. Theo nghĩa này, bảo hiến hàm chứa sự kiểm tra tính hợp hiến trong hành vi của tất cả các thiết chế quyền lực được Hiến pháp quy định, chứ không chỉ giới hạn ở việc xem xét tính hợp hiến của các đạo luật do Quốc hội/Nghị viện ban hành. Thêm vào đó, bảo hiến theo nghĩa này không chỉ bao gồm hoạt động xem xét, xử lý hành vi công quyền đã được thực hiện có dấu hiệu vi phạm Hiến pháp, mà còn bao gồm cả hoạt động phòng ngừa nguy cơ vi phạm Hiến pháp trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật (thông qua cơ chế thẩm định/thẩm tra tính hợp hiến của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật). Quan điểm này gần như đồng nhất bảo hiến với bảo đảm tuân thủ Hiến pháp. Theo nghĩa hẹp, bảo hiến là “hoạt động của chủ thể có thẩm quyền ra phán quyết về tính hợp hiến hoặc bất hợp hiến của văn bản pháp luật, qua đó làm phát sinh hệ quả pháp lý vô hiệu hóa văn bản pháp luật vi hiến”[18]. Nói cách khác, bảo hiến theo nghĩa này chính là tài phán hiến pháp[19]. Quan niệm này đồng nhất bảo hiến với giám sát tư pháp (judicial review) đối với các hành vi công quyền để xác định, kết luận về tính hợp hiến hay không hợp hiến của hành vi đó mà nhiều quốc gia trên thế giới đã quan niệm[20].

Ở các nước trên thế giới, thuật ngữ “bảo vệ Hiến pháp - bảo hiến - constitutional review”[21] - được sử dụng theo cách hiểu khác nhau tùy vào hoàn cảnh chính trị và cơ cấu tổ chức nhà nước. Bảo hiến (bảo vệ Hiến pháp) xét về ý nghĩa cốt lõi được hiểu là kiểm soát tính hợp hiến của các đạo luật và hành vi công quyền, xem xét xem những đạo luật và hành vi công quyền được đưa ra có phù hợp với tinh thần và nội dung của Hiến pháp hay không. Bảo hiến không chỉ nhằm vào các văn bản luật (kiểm soát hành vi của lập pháp) mà cả các văn bản dưới luật (kiểm soát hành vi của hành pháp).

Theo quy định tại khoản 2 Điều 119 Hiến pháp Việt Nam năm 2013: “Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp”. Điều này hàm ý, “bảo vệ Hiến pháp” theo Hiến pháp năm 2013 là bảo vệ hiến pháp theo nghĩa rộng, không chỉ giới hạn ở khía cạnh tài phán hiến pháp. Xuất phát từ thực tế này, theo một nghiên cứu được hoàn thành năm 2017, quan niệm bảo hiến được hiểu theo nghĩa rộng. Theo đó, bảo hiến là hành vi của các chủ thể được Hiến pháp trao thẩm quyền thực hiện việc phát hiện, xem xét, đánh giá, xử lý các hành vi vi hiến của các chủ thể công quyền nhằm bảo đảm sự tôn trọng, giữ gìn Hiến pháp, ngăn ngừa, chống lại và triệt tiêu hành vi vi hiến[22]. Nội hàm của khái niệm “bảo hiến” ở đây trước hết bao hàm những hoạt động do những chủ thể mà Hiến pháp đã quy định thẩm quyền (Hiến pháp xác định nhiệm vụ và quyền hạn nhất định liên quan trực tiếp đến việc bảo đảm sự tôn trọng, giữ gìn Hiến pháp, chống lại và triệt tiêu hành vi vi hiến) tiến hành. Hiến pháp là văn bản chính trị - pháp lý do nhân dân thiết lập, thể hiện chủ quyền và ý chí của nhân dân, do đó, việc nhân dân giao cho ai chịu trách nhiệm bảo hiến cũng phải được thể hiện trong Hiến pháp. Chính nhân dân xác định nhiệm vụ và quyền hạn của chủ thể tiến hành hoạt động bảo hiến bằng các quy định của Hiến pháp. Có thể thấy rằng, khi đã chấp nhận tính tối thượng của Hiến pháp, trong chính thể nào cũng cần đặt ra việc thiết lập và hoàn thiện cơ chế bảo hiến. Chính thể nhất nguyên, một Đảng lãnh đạo không loại trừ việc thiết lập cơ chế bảo hiến[23].

Cơ chế bảo hiến là khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức việc bảo vệ Hiến pháp của một quốc gia. Theo nghĩa rộng, cơ chế bảo hiến là toàn bộ những cách thức, thiết chế, phương tiện, nguyên tắc, hình thức, phương pháp, biện pháp tổ chức và thực hiện các hoạt động pháp lý khác nhau nhằm bảo đảm cho Hiến pháp được tôn trọng, chống lại mọi sự vi phạm Hiến pháp có thể xảy ra[24]. Theo nghĩa hẹp, cơ chế bảo hiến là một thiết chế được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc và quy định của pháp luật để thực hiện các biện pháp nhằm bảo đảm cho Hiến pháp được tôn trọng, chống lại mọi sự vi phạm Hiến pháp có thể xảy ra[25]. Trên thực tế, cơ chế bảo hiến của các nước không hoàn toàn giống nhau. Ở nhiều quốc gia, bảo hiến đồng nghĩa với “giám sát tư pháp” (judicial review) của Tòa án, là thẩm quyền của các Tòa án xem xét và đánh giá tính hợp hiến của các đạo luật hoặc quyết định của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp[26]. Quan niệm này xuất phát từ thực tế là phần lớn quốc gia trên thế giới trao nhiệm vụ bảo hiến cho các thiết chế tài phán (Tòa án thường hoặc Tòa án Hiến pháp). Mặc dù vậy, cần thấy rằng tài phán Hiến pháp chỉ là một trong các mô hình bảo hiến[27].

3. Kết luận và khuyến nghị

Có thể thấy, nghiên cứu về Hiến pháp và bảo vệ Hiến pháp là nội dung quan trọng của khoa học pháp lý và có nhiều dư địa để tiếp tục bổ sung, làm sâu sắc hơn trong thời gian tới.

Thứ nhất, cần nhấn mạnh Hiến pháp, bản thân nó, với ý nghĩa thực sự và mục đích hữu dụng thực sự, chính là một đạo luật về các quyền[28]. Việc xem xét, đánh giá Hiến pháp Anh, Hiến pháp Mỹ hay các bản hiến pháp hiện đại sau này sẽ cho thấy tính đúng đắn của nhận định này. Theo nghĩa căn bản, Hiến pháp là đạo luật về chính quyền. Nhưng các quy định về chính quyền trong Hiến pháp không có mục đích tự thân. Nó được thiết kế ra để hướng đến một mục đích thực sự là bảo vệ các tự do của con người[29]. Hiến pháp ấn định về chính quyền thực chất là đang điều tiết về quyền con người, giới hạn chính quyền để bảo vệ quyền con người và kê khai các quyền cần được bảo vệ. Tuy nhiên, cũng cần chú ý quan niệm Hiến pháp là một đạo luật về quyền con người chỉ đúng với Hiến pháp được thiết kế để kiểm soát chính quyền. Theo tư duy này, các nội dung bảo vệ quyền con người trong Hiến pháp thể hiện ở hầu hết các quy định của Hiến pháp liên quan đến chính quyền lẫn quyền con người, chứ không chỉ ở các quy định về quyền con người.

Thứ hai, đối với cơ chế bảo vệ hiến pháp, cần tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, chủ thể đang được giao trách nhiệm bảo vệ hiến pháp (khoản 2 Điều 119 Hiến pháp năm 2013). Trong tương lai xa hơn, trước khi lựa chọn mô hình cơ chế bảo vệ hiến pháp phù hợp cho Việt Nam, cần phải làm rõ một số vấn đề liên quan đến việc áp dụng cơ chế bảo hiến vào nước ta như sau[30]: (i) Làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng cơ quan bảo hiến trong bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội… của Việt Nam[31]; (ii) Năng lực để thực hiện cơ chế bảo hiến; (iii) Về tính độc lập của thiết chế bảo hiến; (iv) Nhu cầu sử dụng cơ chế bảo hiến tại Việt Nam; (v) Sự phân định giữa cơ quan bảo hiến và những thiết chế hiện có ở Việt Nam để thực hiện kiểm soát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật như thẩm định, thẩm tra.

TS. Trương Hồng Quang
Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp



[1]. Phần này tổng hợp một số kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2021: “Sự phát triển của chế định quyền con người, quyền công dân qua các bản Hiến pháp Việt Nam và một số vấn đề đặt ra đối với pháp luật Việt Nam hiện nay” do Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) chủ trì, chủ nhiệm đề tài: TS. Trương Hồng Quang.

[2]. Có thể hiểu theo rất nhiều nghĩa: “Quy định”, “thành lập”, “tổ chức”, “cơ cấu”, “thiết lập”…

[3]. Phần này tham khảo một số nội dung từ tài liệu: Văn phòng thường trực về nhân quyền & Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (phối hợp thực hiện, 2015), Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp Việt Nam (sách chuyên khảo), Hà Nội, tr. 18 - 22.

[4]. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Võ Khánh Vinh (chủ biên, 2013), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 09.

[5]. Bryan A. Garner (Editor in Chief, 2004), Black’s Law Dictionary, 8th ed., St. Paul, MN: Thomson Reuteurs, pp. 330.

[6]. Michele Brandt, Jill Cottrell, Yash Ghai, Anthony Regan, Xây dựng và sửa đổi hiến pháp: những lựa chọn cho quy trình, Cầm Thị Lai, Nguyễn Đăng Châu, Lê Thị Hồng Nhung (dịch, 2013), Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 473.

[7]. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Võ Khánh Vinh (chủ biên, 2013), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, tlđd, tr. 14.

[8]. Thanh tra Nghị viện/Quốc hội.

[9]. Nguyễn Quang Đức (2018), “Nhu cầu và phân loại hiến pháp theo quan điểm thực chất”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật học, tập 34, số 4, tr. 89 - 95.

[10]. Bùi Ngọc Sơn (2012), “Các mô hình hiến pháp trên thế giới và một số kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam”, Tạp chí Luật học, (10), tr. 45.

[11]. Nguyễn Đức Lam (2017), “So sánh Hiến pháp năm 1946 với một số hiến pháp đương thời”, Văn phòng Quốc hội, Hiến pháp năm 1946: Những giá trị lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr. 275 - 281.

[12]. Đào Trí Úc (2011), “Hiến pháp trong đời sống xã hội và quốc gia”, Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Vũ Công Giao (đồng chủ biên, 2011), Hiến pháp: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 33.

[13]. Hoàng Văn Tú (2011), “Quan niệm về hiến pháp và xu hướng phát triển của hiến pháp”, Tạp chí Luật học, (10), tr. 66.

[14]. Trần Ngọc Đường (2011), Bàn về mô hình hiến pháp, nguồn: http://www.daibieunhandan.vn/ default.aspx?tabid= 76&NewsId=228794, truy cập ngày 10/11/2021.

[15]. Nguyễn Quang Đức (2018), “Nhu cầu và phân loại hiến pháp theo quan điểm thực chất”, tlđd.

[16]. Phần này tổng hợp một số kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp Bộ năm 2016 - 2017: “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện cơ chế bảo hiến theo tinh thần Hiến pháp năm 2013” do Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) chủ trì, chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Văn Cương. Tác giả bài viết đồng thời cũng là thành viên tham gia nghiên cứu đề tài này.

[17]. Theo Chủ biên Đăng Văn Chiến và nhóm tác giả cuốn sách “Cơ chế bảo hiến”, Nxb. Tư pháp năm 2006 “Bảo hiến có thể được hiểu là tổng hợp các biện pháp giữ gìn, chống lại sự vi phạm các nguyên tắc và quy phạm của Hiến pháp”, tr. 17.

[18]. Hồ Đức Anh (2006), “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện cơ chế bảo vệ hiến pháp ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tr. 16.

[19]. Hoàng Văn Tú (2013), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ quan bảo hiến ở Việt Nam khi sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Cơ chế bảo hiến - kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam”, Viện Nhà nước và Pháp luật, TP. Hà Nội, ngày 06-07/5/2013.

[20]. http://www.britannica.com/EBchecked/topic/307542/judicial-review,http://legal-dictionary.Thefreedic tionary.com/judicial+review.

[21]. Mark Tushnet (2014), Advanced Introduction to Comparative Constitutional Law (Cheltenham, UK: Edward Elgar), pp. 40.

[22]. Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp), Báo cáo đề tài khoa học cấp Bộ năm 2016 - 2017: “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện cơ chế bảo hiến theo tinh thần Hiến pháp năm 2013”, Hà Nội, Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Văn Cương, tr. 19.

[23]. Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp), Báo cáo đề tài khoa học cấp Bộ năm 2016 - 2017: “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện cơ chế bảo hiến theo tinh thần Hiến pháp năm 2013”, tlđd, tr. 21.

[24]. Đặng Văn Chiến (2005), Cơ chế bảo hiến, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 12 - 13, 17.

[25]. Lê Minh Tâm (2005), Bảo hiến, cơ chế bảo hiến và cơ chế bảo hiến Việt Nam, Tạp chí Luật học, (4), tr. 33.

[26]. http://www.britannica.com/EBchecked/topic/307542/judicial-review, http://legal-dictionary. Thefree-dictionary.com/judicial+review.

[27]. Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp), Báo cáo đề tài khoa học cấp Bộ năm 2016 - 2017: “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện cơ chế bảo hiến theo tinh thần Hiến pháp năm 2013”, tlđd, tr. 22.

[28]. Theo Jame Madison, Alexander Hamilton và John Jay. (1987), The Federalist Pappers, pp. 477. Dẫn theo: Bùi Ngọc Sơn (2011), “Quyền con người và Hiến pháp”, tlđd, tr. 87.

[29]. Bùi Ngọc Sơn (2011), “Quyền con người và Hiến pháp”, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Võ Khánh Vinh (chủ biên), Quyền con người: Tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học, tập I, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 91.

[30]. Nguyễn Đức Lam (2011), “Các mô hình bảo hiến trên thế giới và khả năng lựa chọn của Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo Các mô hình bảo hiến phục vụ sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Viện Nghiên cứu lập pháp, tháng 7/2011.

[31]. Bùi Ngọc Sơn (2009), “Tài phán hiến pháp và viễn cảnh chủ nghĩa hợp hiến ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 4(141), tr. 26-33; Võ Trí Hảo, Hà Thu Thủy (2008), “Những vấn đề lý luận của việc thành lập tài phán hiến pháp ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 5(121), tr. 5 - 8, 16.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: