Thứ hai 16/03/2026 05:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những vướng mắc quy định hiệu lực về thời gian trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Ngày 27/12/2015, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 109/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 109), theo đó, nhiều quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành trước ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, đồng thời, Nghị quyết số 109 cũng xác định những trường hợp nào được áp dụng hồi tố, trường hợp nào không được áp dụng hồi tố và đưa ra những quy định chuyển tiếp để xử lý đối với những trường hợp hành vi phạm tội xảy ra trước ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, nhưng sau ngày này mới bị phát hiện hoặc vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử hoặc người bị kết án đang chấp hành án, đang được hoãn, tạm đình chỉ thi hành án hoặc đã chấp hành xong bản án.

Đặc biệt, Nghị quyết số 109 quy định 04 trường hợp cần phải xử lý ngay kể từ ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 được công bố (ngày 09/12/2015). Tuy nhiên, cũng còn nhiều ý kiến khác nhau về hiệu lực thời gian theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 109 của Quốc hội. Vì vậy, trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin đề cập đến nội dung của Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 và những quy định của Nghị quyết số 109 hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015, chúng ta thấy: Nếu các quy định không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành, có nghĩa là nếu Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định bất lợi cho người phạm tội trong thời gian trước đó và đến ngày 09/12/2015 ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 được công bố nếu vụ án đang trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, thì không được áp dụng đối với người phạm tội. Còn ngược lại quy định ở khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất đó là, tất cả những quy định có lợi cho người phạm tội thì không phải đến ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực mới áp dụng, mà sẽ được áp dụng kể từ ngày 09/12/2015 ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 được công bố cho người phạm tội nếu vụ án đang trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định tại Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 109, tác giả thấy rằng, hiện nay còn nhiều cách hiểu khác nhau về hiệu lực thời gian theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 và cụ thể là việc hồi tố đối với các vụ án đã và đang trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử từ thời gian mà Bộ luật Hình sự năm 2015 được công bố đến ngày 30/6/2016. Do vậy, nếu không có hướng dẫn kịp thời, thì các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 sẽ được các cơ quan tiến hành tố tụng và cán bộ làm công tác thực tiễn hiểu và áp dụng khác nhau.

Về phần các quy định bất lợi ở khoản 2 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 chúng tôi xin không đề cập ở bài viết này, mà xin chỉ đề cập đến các quy định có lợi cho người phạm tội quy định ở khoản 3 của Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo chúng tôi khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định như vậy là đã quá rõ ràng. Tuy nhiên, Nghị quyết số 109 hướng dẫn thi hành, cụ thể hóa các trường hợp có lợi cho người phạm tội theo tinh thần của Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa đầy đủ và đường lối xử lý đối với những trường hợp này ra sao thì cũng chưa quy định rõ ràng.

Xin đơn cử ví dụ: Khoảng 08h00 ngày 20/10/2015, Nguyễn Văn A, Trần Văn B, Nguyễn Văn C ngồi uống nước và xem đánh cờ tướng tại nhà ông Hoàng Văn D tại Cụm 2, khu phố 1, phường ĐH, thành phố QT, tỉnh QT. Tại đây, A rủ B, C, D đánh bài ăn tiền, tất cả đồng ý và thống nhất đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm được thua bằng tiền mặt. Đến khoảng 10h45 cùng ngày Công an phường ĐH, thành phố QT bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc và trên người A,B,C,D tổng cộng số tiền 2.500.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 202/2016/HSST ngày 22/1/2016 của Tòa án sơ thẩm đã quyết định:

Về hình sự: Tuyên bố các bị cáo A, B, C và D phạm tội “Đánh bạc”

Áp dụng khoản 1 Điều 248; Điều 20; Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn A 12 (mười hai) tháng tù, Trần Văn B 09 (chín) tháng tù, Nguyễn Văn C 07 (bảy) tháng tù, Hoàng Văn D 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trừ đi thời gian đã tạm giam trước đó.

Ngày 22/01/2016 các bị cáo kháng cáo xin được áp dụng hình phạt tiền hoặc được hưởng án treo.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 123/2016/HSPT ngày 28/3/2016 của Tòa án phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã căn cứ vào các quy định của pháp luật, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên quyết định về hình phạt của bản án sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo.

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau trong việc xử lý đối với trường hợp cụ thể này, cũng như các trường hợp khác tương tự. Có quan điểm cho rằng, trường hợp này là Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm đã xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật với những lập luận như sau: Đối chiếu với các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, thì hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án này là đủ yếu tố cấu thành tội phạm, vụ án được xét xử theo trình tự luật định, mức hình phạt thỏa đáng. Đồng thời, theo quy định của pháp luật tại Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, thì hành vi của các bị cáo này hiện nay không phải là tội phạm nữa nhưng đối chiếu với Nghị quyết số 109 thì hành vi đánh bạc, tội danh đánh bạc không được nghị quyết quy định, nên không được áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội trong trường hợp này, mặc dù số tiền mà các bị cáo trong vụ án dùng vào việc đánh bạc đối chiếu với quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì hành vi đó không đủ định lượng cấu thành tội “Đánh bạc” quy định ở Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy, hành vi phạm tội của những đối tượng trên đã được xét xử và kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật, nên được coi là trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt theo quy định tại điểm d khoản 2 Nghị quyết số 109 và họ sẽ được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

Chúng tôi cho rằng, nếu hiểu như quan điểm trên là chưa đúng, chưa thấu đáo, chưa toàn diện cho dù Nghị quyết số 109 quy định chưa hết các trường hợp có lợi mà người phạm tội được hưởng theo tinh thần của khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bởi lẽ, quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 là quy định bao trùm, quy định khái quát cho mọi trường hợp có lợi cho người phạm tội thì phải áp dụng, chứ không phải chỉ áp dụng đối với các tội phạm quy định ở các điểm d, đ khoản 2 Nghị quyết số 109 mà còn áp dụng cho tất cả những hành vi phạm tội xảy ra trước ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành kèm theo với một điều kiện bắt buộc mà Nghị quyết số 109 chỉ ra đó là, kể từ ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 được công bố (ngày 09/12/2015) hành vi phạm tội của họ đang trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Vì vậy, trở lại ví dụ trên, theo quan điểm của chúng tôi hành vi của các đối tượng trong vụ án đánh bạc này xảy ra trước ngày 09/12/2015 ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 được công bố và ngày 22/01/2016 mới xét xử sơ thẩm và ngày 28/3/2016 mới xét xử phúc thẩm. Do vậy, hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp đang trong giai đoạn xét xử. Đối chiếu với Nghị quyết số 109, thì trường hợp này tuy không được quy định trong Nghị quyết số 109, tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 và quy định tại điểm d khoản 2 Nghị quyết số 109 thì rõ ràng hành vi của các bị cáo trong vụ án trên không được coi là tội phạm nữa và hành vi phạm tội của các bị cáo đang được giải quyết trong giai đoạn xét xử (Tòa án sơ thẩm xét xử ngày 22/01/2016 và Tòa án phúc thẩm xét xử ngày 28/3/2016) thì lẽ ra Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm phải tuyên bố hành vi của các bị cáo trong vụ án này không cấu thành tội phạm và tuyên đình chỉ vụ án, như vậy mới chính xác và đúng tinh thần của khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm d khoản 2 Nghị quyết số 109, nhưng trong trường hợp này cả Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm đã ra bản án kết tội đối với các bị cáo là sai lầm và vi phạm nghiêm trọng pháp luật.

Xuất phát từ việc Nghị quyết số 109 quy định chưa đầy đủ các trường hợp có lợi cho người phạm tội. Vì vậy, chỉ sau 01 ngày Tòa án cấp phúc thẩm xét xử vụ án trên, Tòa án nhân dân tối cao có Công văn số 80/TANDTC-PC ngày 29/03 /2016 (gọi tắt là Công văn 80) về việc xử lý hành vi đánh bạc trái phép dưới 5 triệu đồng quy định: Kể từ ngày 09/12/2015 (ngày công bố Bộ luật Hình sự năm 2015) đến hết ngày 30/6/2016, đối với người thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá dưới 5.000.000 đồng, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi tổ chức đánh bạc hoặc chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc nhưng đã được xóa án tích, nếu vụ án đang trong giai đoạn xét xử, thì Tòa án phải mở phiên tòa và căn cứ vào Điều 25 Bộ luật Hình sự năm năm 1999 miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

Kể từ ngày 01/7/2016, nếu hành vi đánh bạc trái phép dưới 5.000.000 đồng, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi tổ chức đánh bạc hoặc chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc, nhưng đã được xóa án tích mới bị phát hiện, Điều tra, truy tố, xét xử thì áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 để tuyên bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án.

Đồng thời với việc miễn trách nhiệm hình sự, đình chỉ vụ án, Tòa án phải ghi rõ trong quyết định hoặc trong bản án lý do của việc miễn trách nhiệm hình sự, đình chỉ vụ án là do chính sách hình sự mới nhân đạo của Nhà nước, chứ không phải oan sai do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; do đó, người được miễn trách nhiệm hình sự, đình chỉ vụ án không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Đối với các vấn đề khác như trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng... (kể cả việc xử lý hành chính, xử lý kỷ luật) hoặc xét xử về các tội phạm khác, các bị cáo khác trong vụ án (nếu có) thì vẫn được giải quyết theo thủ tục chung. Trường hợp xét thấy hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính thì cùng với việc đình chỉ vụ án, Tòa án phải chuyển quyết định đình chỉ vụ án kèm theo hồ sơ vụ án, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử lý vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền.

Chúng tôi cho rằng, quy định như Công văn số 80 của Tòa án nhân dân tối cao là đúng với tinh thần của khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, nhưng lại chưa đúng với tinh thần tại điểm d khoản 2 Nghị quyết số 109. Bởi vì, hành vi chơi bài ăn tiền của các bị cáo trong vụ án mà Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm kết án các bị cáo về tội “đánh bạc” này đối chiếu với Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, thì hành vi của họ không phải là tội phạm. Vì thế, căn cứ vào điểm d khoản 2 Nghị quyết số 109, thì hành vi của họ thuộc trường hợp không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là tội phạm, nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm và vụ án được xét xử sơ thẩm trong tháng 01/2016 và xét xử phúc thẩm trong tháng 03/2016, thì được coi là vụ án đang trong giai đoạn xét xử theo quy định của Nghị quyết số 109. Do vậy, trong trường hợp này lẽ ra Tòa án sơ thẩm phải quyết định đình chỉ vụ án với lý do hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm do thay đổi của pháp luật và người phạm tội không có quyền đòi bồi thường oan, sai như tinh thần Công văn 80 của Tòa án nhân dân tối cao. Vì thế, Công văn số 80 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn trong trường hợp này Tòa án phải đưa vụ án ra xét xử và miễn trách nhiệm hình sự cho họ là không phù hợp với tinh thần của Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 109.

Ngoài ra, có quan điểm cho rằng, việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án trên của Tòa án là đúng quy định của pháp luật và các bị cáo trong vụ án này được coi là người đang chấp hành hình phạt và họ chỉ được miễn phần hình phạt còn lại, chúng tôi hoàn toàn không đồng tình với quan điểm này. Bởi lẽ, việc Tòa án xét xử và kết án các bị cáo trong trường hợp này là không đúng các quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 109. Lẽ ra, Tòa án phải tuyên hành vi của các bị cáo là không phạm tội và đình chỉ vụ án, thì Tòa án lại tuyên hành của các bị cáo là phạm tội và kết án đối với họ là sai lầm và vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Do vậy, bản án này phải được kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm để hủy cả hai bản án sơ thẩm, phúc thẩm nói trên và tuyên đình chỉ vụ án mới đúng quy định của pháp luật. Còn việc miễn trách nhiệm hình sự theo điểm d khoản 2 của Nghị quyết số 109 là trường hợp bản án của Tòa án sơ thẩm đã xét xử trước ngày 09/12/2015 ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 được công bố và việc xét xử của Tòa án theo đúng các quy định của pháp luật và người đó đang chấp hành hình phạt thì mới áp dụng quy định của Nghị quyết số 109 để miễn phần hình phạt còn lại cho họ, và nếu sau ngày 01/7/2016 thì sẽ không được kháng nghị giám đốc thẩm. Tuy nhiên, trường hợp sau ngày 01/7/2016 mà những trường hợp khi xét xử mà có vi phạm pháp luật thì bản án, quyết định đó vẫn sẽ bị kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm để giải quyết lại cho đúng các quy định của pháp luật.

Đồng thời với việc hướng dẫn thi hành về nội dung của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì Nghị quyết số 109 của Quốc hội cũng chỉ rõ và yêu cầu Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn triển khai thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng như các cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Bộ luật Hình sự năm 2015 đến mỗi người dân nói chung và cán bộ, công chức công tác trong các cơ quan pháp luật nói riêng và đặc biệt là các cơ quan tiến hành tố tụng phải nắm chắc nội dung của Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng như các quy định hướng dẫn thi hành để vận dụng vào trong công tác giải quyết các vụ án hình sự, không phải chỉ có tội “Đánh bạc” mà còn rất nhiều các trường hợp khác tương tự nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể về việc thi hành. Vì thế, để phát huy tác dụng của Bộ luật Hình sự năm 2015, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức thì cơ quan có thẩm quyền cần có hướng dẫn ngay, hướng dẫn kịp thời các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, trong đó có hiệu lực về thời gian quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 109.

Vũ Thành Long
Tòa án quân sự Trung ương

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: