Thứ tư 15/07/2026 21:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những vướng mắc quy định hiệu lực về thời gian trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Ngày 27/12/2015, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 109/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 109), theo đó, nhiều quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành trước ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, đồng thời, Nghị quyết số 109 cũng xác định những trường hợp nào được áp dụng hồi tố, trường hợp nào không được áp dụng hồi tố và đưa ra những quy định chuyển tiếp để xử lý đối với những trường hợp hành vi phạm tội xảy ra trước ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, nhưng sau ngày này mới bị phát hiện hoặc vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử hoặc người bị kết án đang chấp hành án, đang được hoãn, tạm đình chỉ thi hành án hoặc đã chấp hành xong bản án.

Đặc biệt, Nghị quyết số 109 quy định 04 trường hợp cần phải xử lý ngay kể từ ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 được công bố (ngày 09/12/2015). Tuy nhiên, cũng còn nhiều ý kiến khác nhau về hiệu lực thời gian theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 109 của Quốc hội. Vì vậy, trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin đề cập đến nội dung của Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 và những quy định của Nghị quyết số 109 hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015, chúng ta thấy: Nếu các quy định không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành, có nghĩa là nếu Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định bất lợi cho người phạm tội trong thời gian trước đó và đến ngày 09/12/2015 ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 được công bố nếu vụ án đang trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, thì không được áp dụng đối với người phạm tội. Còn ngược lại quy định ở khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất đó là, tất cả những quy định có lợi cho người phạm tội thì không phải đến ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực mới áp dụng, mà sẽ được áp dụng kể từ ngày 09/12/2015 ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 được công bố cho người phạm tội nếu vụ án đang trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định tại Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 109, tác giả thấy rằng, hiện nay còn nhiều cách hiểu khác nhau về hiệu lực thời gian theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 và cụ thể là việc hồi tố đối với các vụ án đã và đang trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử từ thời gian mà Bộ luật Hình sự năm 2015 được công bố đến ngày 30/6/2016. Do vậy, nếu không có hướng dẫn kịp thời, thì các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 sẽ được các cơ quan tiến hành tố tụng và cán bộ làm công tác thực tiễn hiểu và áp dụng khác nhau.

Về phần các quy định bất lợi ở khoản 2 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 chúng tôi xin không đề cập ở bài viết này, mà xin chỉ đề cập đến các quy định có lợi cho người phạm tội quy định ở khoản 3 của Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo chúng tôi khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định như vậy là đã quá rõ ràng. Tuy nhiên, Nghị quyết số 109 hướng dẫn thi hành, cụ thể hóa các trường hợp có lợi cho người phạm tội theo tinh thần của Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa đầy đủ và đường lối xử lý đối với những trường hợp này ra sao thì cũng chưa quy định rõ ràng.

Xin đơn cử ví dụ: Khoảng 08h00 ngày 20/10/2015, Nguyễn Văn A, Trần Văn B, Nguyễn Văn C ngồi uống nước và xem đánh cờ tướng tại nhà ông Hoàng Văn D tại Cụm 2, khu phố 1, phường ĐH, thành phố QT, tỉnh QT. Tại đây, A rủ B, C, D đánh bài ăn tiền, tất cả đồng ý và thống nhất đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm được thua bằng tiền mặt. Đến khoảng 10h45 cùng ngày Công an phường ĐH, thành phố QT bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc và trên người A,B,C,D tổng cộng số tiền 2.500.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 202/2016/HSST ngày 22/1/2016 của Tòa án sơ thẩm đã quyết định:

Về hình sự: Tuyên bố các bị cáo A, B, C và D phạm tội “Đánh bạc”

Áp dụng khoản 1 Điều 248; Điều 20; Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn A 12 (mười hai) tháng tù, Trần Văn B 09 (chín) tháng tù, Nguyễn Văn C 07 (bảy) tháng tù, Hoàng Văn D 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trừ đi thời gian đã tạm giam trước đó.

Ngày 22/01/2016 các bị cáo kháng cáo xin được áp dụng hình phạt tiền hoặc được hưởng án treo.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 123/2016/HSPT ngày 28/3/2016 của Tòa án phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã căn cứ vào các quy định của pháp luật, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên quyết định về hình phạt của bản án sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo.

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau trong việc xử lý đối với trường hợp cụ thể này, cũng như các trường hợp khác tương tự. Có quan điểm cho rằng, trường hợp này là Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm đã xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật với những lập luận như sau: Đối chiếu với các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, thì hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án này là đủ yếu tố cấu thành tội phạm, vụ án được xét xử theo trình tự luật định, mức hình phạt thỏa đáng. Đồng thời, theo quy định của pháp luật tại Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, thì hành vi của các bị cáo này hiện nay không phải là tội phạm nữa nhưng đối chiếu với Nghị quyết số 109 thì hành vi đánh bạc, tội danh đánh bạc không được nghị quyết quy định, nên không được áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội trong trường hợp này, mặc dù số tiền mà các bị cáo trong vụ án dùng vào việc đánh bạc đối chiếu với quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì hành vi đó không đủ định lượng cấu thành tội “Đánh bạc” quy định ở Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy, hành vi phạm tội của những đối tượng trên đã được xét xử và kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật, nên được coi là trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt theo quy định tại điểm d khoản 2 Nghị quyết số 109 và họ sẽ được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

Chúng tôi cho rằng, nếu hiểu như quan điểm trên là chưa đúng, chưa thấu đáo, chưa toàn diện cho dù Nghị quyết số 109 quy định chưa hết các trường hợp có lợi mà người phạm tội được hưởng theo tinh thần của khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bởi lẽ, quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 là quy định bao trùm, quy định khái quát cho mọi trường hợp có lợi cho người phạm tội thì phải áp dụng, chứ không phải chỉ áp dụng đối với các tội phạm quy định ở các điểm d, đ khoản 2 Nghị quyết số 109 mà còn áp dụng cho tất cả những hành vi phạm tội xảy ra trước ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành kèm theo với một điều kiện bắt buộc mà Nghị quyết số 109 chỉ ra đó là, kể từ ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 được công bố (ngày 09/12/2015) hành vi phạm tội của họ đang trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Vì vậy, trở lại ví dụ trên, theo quan điểm của chúng tôi hành vi của các đối tượng trong vụ án đánh bạc này xảy ra trước ngày 09/12/2015 ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 được công bố và ngày 22/01/2016 mới xét xử sơ thẩm và ngày 28/3/2016 mới xét xử phúc thẩm. Do vậy, hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp đang trong giai đoạn xét xử. Đối chiếu với Nghị quyết số 109, thì trường hợp này tuy không được quy định trong Nghị quyết số 109, tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 và quy định tại điểm d khoản 2 Nghị quyết số 109 thì rõ ràng hành vi của các bị cáo trong vụ án trên không được coi là tội phạm nữa và hành vi phạm tội của các bị cáo đang được giải quyết trong giai đoạn xét xử (Tòa án sơ thẩm xét xử ngày 22/01/2016 và Tòa án phúc thẩm xét xử ngày 28/3/2016) thì lẽ ra Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm phải tuyên bố hành vi của các bị cáo trong vụ án này không cấu thành tội phạm và tuyên đình chỉ vụ án, như vậy mới chính xác và đúng tinh thần của khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm d khoản 2 Nghị quyết số 109, nhưng trong trường hợp này cả Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm đã ra bản án kết tội đối với các bị cáo là sai lầm và vi phạm nghiêm trọng pháp luật.

Xuất phát từ việc Nghị quyết số 109 quy định chưa đầy đủ các trường hợp có lợi cho người phạm tội. Vì vậy, chỉ sau 01 ngày Tòa án cấp phúc thẩm xét xử vụ án trên, Tòa án nhân dân tối cao có Công văn số 80/TANDTC-PC ngày 29/03 /2016 (gọi tắt là Công văn 80) về việc xử lý hành vi đánh bạc trái phép dưới 5 triệu đồng quy định: Kể từ ngày 09/12/2015 (ngày công bố Bộ luật Hình sự năm 2015) đến hết ngày 30/6/2016, đối với người thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá dưới 5.000.000 đồng, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi tổ chức đánh bạc hoặc chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc nhưng đã được xóa án tích, nếu vụ án đang trong giai đoạn xét xử, thì Tòa án phải mở phiên tòa và căn cứ vào Điều 25 Bộ luật Hình sự năm năm 1999 miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

Kể từ ngày 01/7/2016, nếu hành vi đánh bạc trái phép dưới 5.000.000 đồng, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi tổ chức đánh bạc hoặc chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc, nhưng đã được xóa án tích mới bị phát hiện, Điều tra, truy tố, xét xử thì áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 để tuyên bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án.

Đồng thời với việc miễn trách nhiệm hình sự, đình chỉ vụ án, Tòa án phải ghi rõ trong quyết định hoặc trong bản án lý do của việc miễn trách nhiệm hình sự, đình chỉ vụ án là do chính sách hình sự mới nhân đạo của Nhà nước, chứ không phải oan sai do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; do đó, người được miễn trách nhiệm hình sự, đình chỉ vụ án không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Đối với các vấn đề khác như trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng... (kể cả việc xử lý hành chính, xử lý kỷ luật) hoặc xét xử về các tội phạm khác, các bị cáo khác trong vụ án (nếu có) thì vẫn được giải quyết theo thủ tục chung. Trường hợp xét thấy hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính thì cùng với việc đình chỉ vụ án, Tòa án phải chuyển quyết định đình chỉ vụ án kèm theo hồ sơ vụ án, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử lý vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền.

Chúng tôi cho rằng, quy định như Công văn số 80 của Tòa án nhân dân tối cao là đúng với tinh thần của khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, nhưng lại chưa đúng với tinh thần tại điểm d khoản 2 Nghị quyết số 109. Bởi vì, hành vi chơi bài ăn tiền của các bị cáo trong vụ án mà Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm kết án các bị cáo về tội “đánh bạc” này đối chiếu với Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, thì hành vi của họ không phải là tội phạm. Vì thế, căn cứ vào điểm d khoản 2 Nghị quyết số 109, thì hành vi của họ thuộc trường hợp không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là tội phạm, nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm và vụ án được xét xử sơ thẩm trong tháng 01/2016 và xét xử phúc thẩm trong tháng 03/2016, thì được coi là vụ án đang trong giai đoạn xét xử theo quy định của Nghị quyết số 109. Do vậy, trong trường hợp này lẽ ra Tòa án sơ thẩm phải quyết định đình chỉ vụ án với lý do hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm do thay đổi của pháp luật và người phạm tội không có quyền đòi bồi thường oan, sai như tinh thần Công văn 80 của Tòa án nhân dân tối cao. Vì thế, Công văn số 80 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn trong trường hợp này Tòa án phải đưa vụ án ra xét xử và miễn trách nhiệm hình sự cho họ là không phù hợp với tinh thần của Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 109.

Ngoài ra, có quan điểm cho rằng, việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án trên của Tòa án là đúng quy định của pháp luật và các bị cáo trong vụ án này được coi là người đang chấp hành hình phạt và họ chỉ được miễn phần hình phạt còn lại, chúng tôi hoàn toàn không đồng tình với quan điểm này. Bởi lẽ, việc Tòa án xét xử và kết án các bị cáo trong trường hợp này là không đúng các quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 109. Lẽ ra, Tòa án phải tuyên hành vi của các bị cáo là không phạm tội và đình chỉ vụ án, thì Tòa án lại tuyên hành của các bị cáo là phạm tội và kết án đối với họ là sai lầm và vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Do vậy, bản án này phải được kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm để hủy cả hai bản án sơ thẩm, phúc thẩm nói trên và tuyên đình chỉ vụ án mới đúng quy định của pháp luật. Còn việc miễn trách nhiệm hình sự theo điểm d khoản 2 của Nghị quyết số 109 là trường hợp bản án của Tòa án sơ thẩm đã xét xử trước ngày 09/12/2015 ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 được công bố và việc xét xử của Tòa án theo đúng các quy định của pháp luật và người đó đang chấp hành hình phạt thì mới áp dụng quy định của Nghị quyết số 109 để miễn phần hình phạt còn lại cho họ, và nếu sau ngày 01/7/2016 thì sẽ không được kháng nghị giám đốc thẩm. Tuy nhiên, trường hợp sau ngày 01/7/2016 mà những trường hợp khi xét xử mà có vi phạm pháp luật thì bản án, quyết định đó vẫn sẽ bị kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm để giải quyết lại cho đúng các quy định của pháp luật.

Đồng thời với việc hướng dẫn thi hành về nội dung của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì Nghị quyết số 109 của Quốc hội cũng chỉ rõ và yêu cầu Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn triển khai thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng như các cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Bộ luật Hình sự năm 2015 đến mỗi người dân nói chung và cán bộ, công chức công tác trong các cơ quan pháp luật nói riêng và đặc biệt là các cơ quan tiến hành tố tụng phải nắm chắc nội dung của Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng như các quy định hướng dẫn thi hành để vận dụng vào trong công tác giải quyết các vụ án hình sự, không phải chỉ có tội “Đánh bạc” mà còn rất nhiều các trường hợp khác tương tự nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể về việc thi hành. Vì thế, để phát huy tác dụng của Bộ luật Hình sự năm 2015, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức thì cơ quan có thẩm quyền cần có hướng dẫn ngay, hướng dẫn kịp thời các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, trong đó có hiệu lực về thời gian quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 109.

Vũ Thành Long
Tòa án quân sự Trung ương

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.

Theo dõi chúng tôi trên: