Thứ ba 21/04/2026 23:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phân cấp mạnh mẽ và đơn giản hóa trình tự, thủ tục để đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công

Đây là tinh thần, điểm mới quan trọng của Luật Đầu tư công năm 2024 vừa được kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV thông qua, nhằm đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phát huy trách nhiệm người đứng đầu, nâng cao linh hoạt, chủ động của các cấp, các ngành trong quản lý, thực hiện kế hoạch đầu tư công.

1. Phân cấp thẩm quyền điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm vốn ngân sách trung ương giữa các bộ, cơ quan trung ương và địa phương từ Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho Thủ tướng Chính phủ

Khoản 2 Điều 67 Luật Đầu tư công năm 2019 quy định: “Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm vốn ngân sách trung ương giữa các bộ, cơ quan trung ương và địa phương trong trường hợp không thay đổi tổng mức vốn trung hạn và hằng năm đã được Quốc hội quyết định”. Theo quy định này, thẩm quyền quyết định điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm vốn ngân sách trung ương giữa các bộ, cơ quan trung ương và địa phương là của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Thực tiễn triển khai cho thấy, thời gian để xử lý toàn bộ quy trình điều chỉnh mất nhiều thời gian (trung bình mất khoảng 06 - 07 tháng để thực hiện 11 bước), gây ảnh hưởng đến tính kịp thời trong việc phân bổ và giải ngân kế hoạch vốn[1].

Để giải quyết tình trạng này, khoản 4 Điều 84 Luật Đầu tư công năm 2024 quy định, Thủ tướng Chính phủ: “Quyết định điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách trung ương trong nội bộ và giữa các ngành, lĩnh vực, chương trình của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương trong tổng mức vốn trung hạn của từng bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã được Quốc hội quyết định”. Với quy định này, Luật Đầu tư công năm 2024 đã phân cấp thẩm quyền điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm vốn ngân sách trung ương giữa các bộ, cơ quan trung ương và địa phương từ Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho Thủ tướng Chính phủ, nhằm cắt giảm trình tự, thủ tục, thời gian điều chỉnh kế hoạch vốn, tạo sự chủ động cho Thủ tướng Chính phủ trong điều chỉnh kế hoạch vốn ngân sách trung ương trung hạn và hằng năm.

2. Phân cấp thẩm quyền quyết định sử dụng dự phòng chung vốn ngân sách trung ương, các khoản vốn ngân sách trung ương chưa phân bổ trong kế hoạch đầu tư công trung hạn từ Quốc hội cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Luật Đầu tư công năm 2019 và các nghị quyết của Quốc hội quy định thẩm quyền quyết định sử dụng dự phòng chung kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách trung ương và các khoản vốn ngân sách trung ương chưa phân bổ trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm là của Quốc hội. Thời gian để thực hiện quy trình báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định mất từ 06 - 08 tháng, đồng thời phải chờ kỳ họp Quốc hội mới có thể báo cáo, ảnh hưởng đến tính kịp thời trong việc bố trí nguồn lực[2].

Nhằm nâng cao tính chủ động, sẵn sàng trong việc sử dụng các khoản vốn này, Luật Đầu tư công năm 2024 quy định phân cấp thẩm quyền quyết định sử dụng dự phòng chung vốn ngân sách trung ương, các khoản vốn ngân sách trung ương chưa phân bổ trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm từ Quốc hội cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Quy định này sẽ rút ngắn thời gian thực hiện, nâng cao tính sẵn sàng trong việc sử dụng các khoản vốn chưa phân bổ để kịp thời thực hiện các nhiệm vụ, dự án phát sinh, cần thiết trong quá trình triển khai kế hoạch đầu tư công trung hạn; đồng thời, đồng bộ thẩm quyền với quy định hiện hành của Luật Ngân sách nhà nước trong trường hợp sử dụng nguồn dự phòng chung kế hoạch đầu tư công trung hạn tương ứng với nguồn vốn tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách trung ương và cắt giảm thủ tục hành chính do không phải thực hiện các trình tự, thủ tục để báo cáo Quốc hội.

3. Nâng quy mô vốn đầu tư công của dự án quan trọng quốc gia từ 30.000 tỷ đồng trở lên; của dự án nhóm A, nhóm B và nhóm C với quy mô gấp 2 lần so với các quy định hiện hành

Tại Luật Đầu tư công năm 2019 quy định một trong các tiêu chí của dự án quan trọng quốc gia là sử dụng vốn đầu tư công từ 10.000 tỷ đồng trở lên (khoản 1 Điều 7). Tuy nhiên, quy mô này được quy định từ Luật Đầu tư công năm 2014, đến nay đã duy trì gần 10 năm và không còn phù hợp với thực tế do: (i) quy mô GDP năm 2024 gấp khoảng 2,1 lần so với năm 2014[3]; (ii) Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực, dự báo thời gian tới, tổng vốn đầu tư các dự án có thể tăng cao do chi phí giải phóng mặt bằng tăng; (iii) các yếu tố trượt giá. Đồng thời, trong giai đoạn 2021 - 2025 triển khai 09 dự án quan trọng quốc gia thì có đến 08 dự án có quy mô tổng mức đầu tư trên 20.000 tỷ đồng, chỉ có dự án Hồ Ka Pét có yếu tố dự án quan trọng quốc gia do chuyển đổi mục đích sử dụng rừng[4].

Luật Đầu tư công năm 2024 nâng quy mô vốn đầu tư công của dự án quan trọng quốc gia từ 30.000 tỷ đồng trở lên; nâng quy mô vốn đầu tư công của dự án nhóm A, nhóm B và nhóm C với quy mô gấp 02 lần so với các quy định hiện hành, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật, phù hợp thực tiễn của đời sống kinh tế xã hội.

4. Phân cấp thẩm quyền cho người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm A do cơ quan, tổ chức mình quản lý với quy mô vốn dưới 10.000 tỷ đồng

Luật Đầu tư công năm 2024 phân cấp thẩm quyền cho người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm A do cơ quan, tổ chức mình quản lý với quy mô vốn dưới 10.000 tỷ đồng. Quy định này nâng cao sự linh hoạt, chủ động của các ngành, cơ quan trung ương trong quản lý, thực hiện kế hoạch đầu tư công.

5. Phân cấp thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân các cấp quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm B, nhóm C do cấp mình quản lý

Luật Đầu tư công năm 2019 quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm A; Hội đồng nhân dân các cấp quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án nhóm B, nhóm C sử dụng vốn ngân sách địa phương, bao gồm cả vốn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên, các nguồn vốn hợp pháp của địa phương thuộc cấp mình quản lý (trừ dự án quy định tại khoản 4 Điều 17 là những chương trình dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư). Quy định này có thể dẫn đến không đáp ứng tiến độ, yêu cầu hoàn thiện thủ tục đầu tư để đưa dự án vào kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm[5]. Trongkhi đó, Ủy ban nhân dân các cấp quản lý các bộ máy có chuyên môn, có năng lực để quyết định chủ trương đầu tư các dự án này.

Để khắc phục tình trạng trên, Luật Đầu tư công năm 2024 phân cấp thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm B, nhóm C cho Ủy ban nhân dân các cấp nhằm đáp ứng tiến độ, yêu cầu hoàn thiện thủ tục đầu tư các dự án. Quy định này tạo sự chủ động cho Ủy ban nhân dân các cấp trong việc quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm B, nhóm C thuộc cấp mình quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu hoàn thiện thủ tục đầu tư, xây dựng kế hoạch đầu tư công, đồng thời, quy định cắt giảm thủ tục hành chính do không phải thực hiện các trình tự, thủ tục để tổng hợp báo cáo Hội đồng nhân dân các cấp phê duyệt chủ trương đầu tư.

6. Phân cấp thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân các cấp điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách địa phương do cấp mình quản lý

Luật Đầu tư công năm 2024 phân cấp thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân các cấp điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách địa phương do cấp mình quản lý. Quy định này tạo sự chủ động cho Ủy ban nhân dân các cấp trong quá trình chỉ đạo, điều hành hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn, kịp thời điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách địa phương do cấp mình quản lý.

7. Phân cấp thẩm quyền gia hạn thời gian bố trí vốn ngân sách trung ương từ Thủ tướng Chính phủ cho cấp quyết định chủ trương đầu tư; vốn ngân sách địa phương từ Hội đồng nhân dân cấp tỉnh cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp

Luật Đầu tư công năm 2019 quy định thời gian bố trí vốn thực hiện dự án nhóm A không quá 06 năm, nhóm B không quá 04 năm, nhóm C không quá 03 năm. Thủ tướng Chính phủ quyết định việc kéo dài thời gian bố trí vốn ngân sách trung ương nếu dự án đã quá thời gian bố trí vốn. Tuy nhiên, Luật không quy định cụ thể trình tự, thủ tục, chỉ quy định thẩm quyền kéo dài thời gian bố trí vốn ngân sách trung ương của Thủ tướng Chính phủ. Trên thực tế quy trình này thường kéo dài, trải qua nhiều bước, việc bố trí vốn cho các dự án trong kế hoạch hằng năm chỉ được thực hiện sau khi có ý kiến đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, làm giảm thời gian thực hiện và giải ngân vốn[6].

Để tăng tính chủ động cho các bộ, cơ quan, địa phương ương việc quyết định thời gian bố trí vốn ngân sách trung ương đối với các dự án thuộc thẩm quyền quản lý, tạo điều kiện để bố trí vốn và giải ngân ngay trong kế hoạch hằng năm nhưng vẫn bảo đảm kỷ cương, kỷ luật trong việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công năm 2024 đã phân cấp thẩm quyền gia hạn thời gian bố trí vốn ngân sách trung ương từ Thủ tướng Chính phủ cho cấp quyết định chủ trương đầu tư. Quy định này tăng tính chủ động cho các bộ, cơ quan, địa phương ương việc quyết định thời gian bố trí vốn ngân sách trung ương đối với các dự án thuộc thẩm quyền quản lý, đồng thời, giảm thủ tục hành chính do không cần phải thực hiện các trình tự, thủ tục tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Bên cạnh đó, theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, ngân sách địa phương được phân cấp quản lý thành 03 cấp (tỉnh, huyện, xã), Hội đồng nhân dân các cấp quyết định việc phân bổ, sử dụng ngân sách địa phương do cấp mình quản lý. Luật Đầu tư công năm 2019 quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc kéo dài thời gian bố trí vốn, kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân vốn ngân sách địa phương do cả 03 cấp quản lý. Quy định này chưa tạo sự chủ động cho Ủy ban nhân dân các cấp trong quá trình chỉ đạo điều hành hoạt động kinh tế xã hội trên địa bàn. Do đó, Luật Đầu tư công năm 2024 đã phân cấp thẩm quyền gia hạn thời gian bố trí vốn ngân sách địa phương từ Hội đồng nhân dân cấp tỉnh cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp. Quy định này đã tạo sự chủ động cho Ủy ban nhân dân các cấp trong quá trình chỉ đạo, điều hành hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn.

8. Phân cấp thẩm quyền kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn ngân sách địa phương từ Hội đồng nhân dân cấp tỉnh cho Chủ tịch Ủy ban để nhân dân các cấp

Quy định này nhằm tạo sự chủ động cho Ủy ban nhân dân các cấp trong quá trình chỉ đạo điều hành, kịp thời bố trí và giải ngân các nguồn vốn của địa phương do cấp mình quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn này.

Minh Trí


[1] Báo cáo số 6663/BC-BKHĐT ngày 20/8/2024 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá tác động chính sách trong Đề nghị xây dựng Luật Đầu tư công (sửa đổi).

[2] Tlđd.

[3] Ước GDP năm 2024 theo giá hiện hành là khoảng 10.363 nghìn tỷ đồng, năm 2014 là 4.937 nghìn tỷ đồng.

[4] Báo cáo số 6663/BC-BKHĐT ngày 20/8/2024 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá tác động chính sách trong Đề nghị xây dựng Luật Đầu tư công (sửa đổi).

[5] Tlđd.

[6] Tlđd.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Rà soát văn bản quy phạm pháp luật: Yêu cầu tiến độ và chất lượng đồng bộ

Rà soát văn bản quy phạm pháp luật: Yêu cầu tiến độ và chất lượng đồng bộ

Chiều 21/4, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu chủ trì cuộc họp về tình hình triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL). Nhấn mạnh đây là nhiệm vụ hệ trọng, Phó Thủ tướng yêu cầu thực hiện khẩn trương, nghiêm túc, trước mắt tập trung xử lý các “điểm nghẽn” nhằm tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
9 định hướng lớn và nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức Đảng trong Kết luận của Bộ Chính trị về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

9 định hướng lớn và nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức Đảng trong Kết luận của Bộ Chính trị về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu infographic 9 định hướng lớn và nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức Đảng trong Kết luận của Bộ Chính trị về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI
Đề xuất thực hiện thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ và 10 địa phương

Đề xuất thực hiện thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ và 10 địa phương

Việc thực hiện thí điểm tại 8 bộ và 10 địa phương. Thời gian thí điểm là từ ngày 01/10/2026 đến hết ngày 30/9/2028, có cơ chế xử lý chuyển tiếp đối với các vụ, việc đang thực hiện.
Đánh giá, xếp loại chất lượng đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức gắn với chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch công tác và kết quả thực hiện

Đánh giá, xếp loại chất lượng đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức gắn với chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch công tác và kết quả thực hiện

Chiều ngày 20/4/2026, đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định hồ sơ dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định khung tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng đối với đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức (dự thảo Nghị định). Tham dự cuộc họp có sự tham gia của đại diện Bộ Nội vụ; Bộ Công an; Bộ Quốc phòng; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Tài chính; Bộ Ngoại giao; Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nôi;… và đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
10 nhiệm vụ, giải pháp về công tác pháp luật trong Kết luận số 18-KL/TW

10 nhiệm vụ, giải pháp về công tác pháp luật trong Kết luận số 18-KL/TW

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu inforgraphic 10 nhiệm vụ, giải pháp về công tác pháp luật trong Kết luận số 18-KL/TW của Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Thực hiện Quyết định số 304/QĐ-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Viên chức, Bộ Nội vụ đang chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng dự thảo Nghị định quy định về xử lý kỷ luật viên chức (dự thảo Nghị định) theo trình tự, thủ tục rút gọn quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 để thay thế các quy định về xử lý kỷ luật viên chức tại Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 71/2023/NĐ-CP.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền cơ bản được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Trong bối cảnh Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đang được sửa đổi, việc đánh giá hiệu quả bảo đảm quyền trở nên cần thiết. Bài viết tiếp cận theo hướng dựa trên quyền con người, phân tích nội dung quyền theo Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và pháp luật hiện hành, đồng thời, đánh giá thực tiễn thi hành giai đoạn 2018 - 2025. Nghiên cứu cho thấy, bên cạnh những tiến bộ, thành công, kết quả đạt được, còn tồn tại khoảng cách giữa ghi nhận và thụ hưởng quyền, thể hiện qua thủ tục hành chính, sự không đồng đều trong thực thi và khoảng trống pháp lý trong bối cảnh mới. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và đề xuất hoàn thiện theo hướng tăng cường tính minh bạch, giảm điều kiện hóa quyền và nâng cao cơ chế bảo vệ quyền.
Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Tín ngưỡng và tôn giáo là yếu tố cấu thành cơ bản trong đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi cá nhân, gồm các lễ nghi truyền thống và tập tục. Từ góc độ pháp lý, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận là quyền cơ bản của con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia. Bài viết nghiên cứu, phân tích, so sánh khung pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một số quốc gia trong hệ thống dân luật và cách thức quản trị sự đa dạng tôn giáo của các quốc gia này. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quản lý hoạt động của các tôn giáo tại Việt Nam nhằm hài hòa và thúc đẩy công bằng xã hội.
Diễn đàn “Luật học Mùa Xuân”: Dấu ấn học thuật của Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Diễn đàn “Luật học Mùa Xuân”: Dấu ấn học thuật của Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Đây là chủ đề của Diễn đàn khoa học trẻ "Luật học Mùa Xuân" lần thứ III năm 2026 do Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức trong 02 ngày 17/4 và 18/4/2026. Tham dự Diễn đàn có các chuyên gia, nhà khoa học, học giả cùng các sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh.
Đổi mới đào tạo luật trong bối cảnh mới: Yêu cầu tất yếu từ thực tiễn

Đổi mới đào tạo luật trong bối cảnh mới: Yêu cầu tất yếu từ thực tiễn

Ngày 16/4, ba cơ sở đào tạo luật gồm Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Kinh tế - Luật - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức Hội thảo quốc gia “Đổi mới chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy luật tại các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam trong bối cảnh mới”. Hội thảo có sự tham gia đông đảo các giáo sư, chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, cùng đại diện lãnh đạo, giảng viên của nhiều cơ sở đào tạo luật trên cả nước.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Phát huy vai trò nòng cốt của Bộ Tư pháp trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò nòng cốt của Bộ Tư pháp trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ngày 16/4, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp với các đơn vị thuộc Bộ có liên quan về dự thảo Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) tại Bộ Tư pháp (dự thảo Kế hoạch) và kết quả rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng liên quan đến ngành, lĩnh vực do Bộ Tư pháp phụ trách.

Theo dõi chúng tôi trên: