Thứ hai 21/09/2026 02:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phân cấp mạnh mẽ và đơn giản hóa trình tự, thủ tục để đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công

Đây là tinh thần, điểm mới quan trọng của Luật Đầu tư công năm 2024 vừa được kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV thông qua, nhằm đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phát huy trách nhiệm người đứng đầu, nâng cao linh hoạt, chủ động của các cấp, các ngành trong quản lý, thực hiện kế hoạch đầu tư công.

1. Phân cấp thẩm quyền điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm vốn ngân sách trung ương giữa các bộ, cơ quan trung ương và địa phương từ Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho Thủ tướng Chính phủ

Khoản 2 Điều 67 Luật Đầu tư công năm 2019 quy định: “Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm vốn ngân sách trung ương giữa các bộ, cơ quan trung ương và địa phương trong trường hợp không thay đổi tổng mức vốn trung hạn và hằng năm đã được Quốc hội quyết định”. Theo quy định này, thẩm quyền quyết định điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm vốn ngân sách trung ương giữa các bộ, cơ quan trung ương và địa phương là của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Thực tiễn triển khai cho thấy, thời gian để xử lý toàn bộ quy trình điều chỉnh mất nhiều thời gian (trung bình mất khoảng 06 - 07 tháng để thực hiện 11 bước), gây ảnh hưởng đến tính kịp thời trong việc phân bổ và giải ngân kế hoạch vốn[1].

Để giải quyết tình trạng này, khoản 4 Điều 84 Luật Đầu tư công năm 2024 quy định, Thủ tướng Chính phủ: “Quyết định điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách trung ương trong nội bộ và giữa các ngành, lĩnh vực, chương trình của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương trong tổng mức vốn trung hạn của từng bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã được Quốc hội quyết định”. Với quy định này, Luật Đầu tư công năm 2024 đã phân cấp thẩm quyền điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm vốn ngân sách trung ương giữa các bộ, cơ quan trung ương và địa phương từ Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho Thủ tướng Chính phủ, nhằm cắt giảm trình tự, thủ tục, thời gian điều chỉnh kế hoạch vốn, tạo sự chủ động cho Thủ tướng Chính phủ trong điều chỉnh kế hoạch vốn ngân sách trung ương trung hạn và hằng năm.

2. Phân cấp thẩm quyền quyết định sử dụng dự phòng chung vốn ngân sách trung ương, các khoản vốn ngân sách trung ương chưa phân bổ trong kế hoạch đầu tư công trung hạn từ Quốc hội cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Luật Đầu tư công năm 2019 và các nghị quyết của Quốc hội quy định thẩm quyền quyết định sử dụng dự phòng chung kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách trung ương và các khoản vốn ngân sách trung ương chưa phân bổ trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm là của Quốc hội. Thời gian để thực hiện quy trình báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định mất từ 06 - 08 tháng, đồng thời phải chờ kỳ họp Quốc hội mới có thể báo cáo, ảnh hưởng đến tính kịp thời trong việc bố trí nguồn lực[2].

Nhằm nâng cao tính chủ động, sẵn sàng trong việc sử dụng các khoản vốn này, Luật Đầu tư công năm 2024 quy định phân cấp thẩm quyền quyết định sử dụng dự phòng chung vốn ngân sách trung ương, các khoản vốn ngân sách trung ương chưa phân bổ trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm từ Quốc hội cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Quy định này sẽ rút ngắn thời gian thực hiện, nâng cao tính sẵn sàng trong việc sử dụng các khoản vốn chưa phân bổ để kịp thời thực hiện các nhiệm vụ, dự án phát sinh, cần thiết trong quá trình triển khai kế hoạch đầu tư công trung hạn; đồng thời, đồng bộ thẩm quyền với quy định hiện hành của Luật Ngân sách nhà nước trong trường hợp sử dụng nguồn dự phòng chung kế hoạch đầu tư công trung hạn tương ứng với nguồn vốn tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách trung ương và cắt giảm thủ tục hành chính do không phải thực hiện các trình tự, thủ tục để báo cáo Quốc hội.

3. Nâng quy mô vốn đầu tư công của dự án quan trọng quốc gia từ 30.000 tỷ đồng trở lên; của dự án nhóm A, nhóm B và nhóm C với quy mô gấp 2 lần so với các quy định hiện hành

Tại Luật Đầu tư công năm 2019 quy định một trong các tiêu chí của dự án quan trọng quốc gia là sử dụng vốn đầu tư công từ 10.000 tỷ đồng trở lên (khoản 1 Điều 7). Tuy nhiên, quy mô này được quy định từ Luật Đầu tư công năm 2014, đến nay đã duy trì gần 10 năm và không còn phù hợp với thực tế do: (i) quy mô GDP năm 2024 gấp khoảng 2,1 lần so với năm 2014[3]; (ii) Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực, dự báo thời gian tới, tổng vốn đầu tư các dự án có thể tăng cao do chi phí giải phóng mặt bằng tăng; (iii) các yếu tố trượt giá. Đồng thời, trong giai đoạn 2021 - 2025 triển khai 09 dự án quan trọng quốc gia thì có đến 08 dự án có quy mô tổng mức đầu tư trên 20.000 tỷ đồng, chỉ có dự án Hồ Ka Pét có yếu tố dự án quan trọng quốc gia do chuyển đổi mục đích sử dụng rừng[4].

Luật Đầu tư công năm 2024 nâng quy mô vốn đầu tư công của dự án quan trọng quốc gia từ 30.000 tỷ đồng trở lên; nâng quy mô vốn đầu tư công của dự án nhóm A, nhóm B và nhóm C với quy mô gấp 02 lần so với các quy định hiện hành, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật, phù hợp thực tiễn của đời sống kinh tế xã hội.

4. Phân cấp thẩm quyền cho người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm A do cơ quan, tổ chức mình quản lý với quy mô vốn dưới 10.000 tỷ đồng

Luật Đầu tư công năm 2024 phân cấp thẩm quyền cho người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm A do cơ quan, tổ chức mình quản lý với quy mô vốn dưới 10.000 tỷ đồng. Quy định này nâng cao sự linh hoạt, chủ động của các ngành, cơ quan trung ương trong quản lý, thực hiện kế hoạch đầu tư công.

5. Phân cấp thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân các cấp quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm B, nhóm C do cấp mình quản lý

Luật Đầu tư công năm 2019 quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm A; Hội đồng nhân dân các cấp quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án nhóm B, nhóm C sử dụng vốn ngân sách địa phương, bao gồm cả vốn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên, các nguồn vốn hợp pháp của địa phương thuộc cấp mình quản lý (trừ dự án quy định tại khoản 4 Điều 17 là những chương trình dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư). Quy định này có thể dẫn đến không đáp ứng tiến độ, yêu cầu hoàn thiện thủ tục đầu tư để đưa dự án vào kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm[5]. Trongkhi đó, Ủy ban nhân dân các cấp quản lý các bộ máy có chuyên môn, có năng lực để quyết định chủ trương đầu tư các dự án này.

Để khắc phục tình trạng trên, Luật Đầu tư công năm 2024 phân cấp thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm B, nhóm C cho Ủy ban nhân dân các cấp nhằm đáp ứng tiến độ, yêu cầu hoàn thiện thủ tục đầu tư các dự án. Quy định này tạo sự chủ động cho Ủy ban nhân dân các cấp trong việc quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm B, nhóm C thuộc cấp mình quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu hoàn thiện thủ tục đầu tư, xây dựng kế hoạch đầu tư công, đồng thời, quy định cắt giảm thủ tục hành chính do không phải thực hiện các trình tự, thủ tục để tổng hợp báo cáo Hội đồng nhân dân các cấp phê duyệt chủ trương đầu tư.

6. Phân cấp thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân các cấp điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách địa phương do cấp mình quản lý

Luật Đầu tư công năm 2024 phân cấp thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân các cấp điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách địa phương do cấp mình quản lý. Quy định này tạo sự chủ động cho Ủy ban nhân dân các cấp trong quá trình chỉ đạo, điều hành hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn, kịp thời điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách địa phương do cấp mình quản lý.

7. Phân cấp thẩm quyền gia hạn thời gian bố trí vốn ngân sách trung ương từ Thủ tướng Chính phủ cho cấp quyết định chủ trương đầu tư; vốn ngân sách địa phương từ Hội đồng nhân dân cấp tỉnh cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp

Luật Đầu tư công năm 2019 quy định thời gian bố trí vốn thực hiện dự án nhóm A không quá 06 năm, nhóm B không quá 04 năm, nhóm C không quá 03 năm. Thủ tướng Chính phủ quyết định việc kéo dài thời gian bố trí vốn ngân sách trung ương nếu dự án đã quá thời gian bố trí vốn. Tuy nhiên, Luật không quy định cụ thể trình tự, thủ tục, chỉ quy định thẩm quyền kéo dài thời gian bố trí vốn ngân sách trung ương của Thủ tướng Chính phủ. Trên thực tế quy trình này thường kéo dài, trải qua nhiều bước, việc bố trí vốn cho các dự án trong kế hoạch hằng năm chỉ được thực hiện sau khi có ý kiến đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, làm giảm thời gian thực hiện và giải ngân vốn[6].

Để tăng tính chủ động cho các bộ, cơ quan, địa phương ương việc quyết định thời gian bố trí vốn ngân sách trung ương đối với các dự án thuộc thẩm quyền quản lý, tạo điều kiện để bố trí vốn và giải ngân ngay trong kế hoạch hằng năm nhưng vẫn bảo đảm kỷ cương, kỷ luật trong việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công năm 2024 đã phân cấp thẩm quyền gia hạn thời gian bố trí vốn ngân sách trung ương từ Thủ tướng Chính phủ cho cấp quyết định chủ trương đầu tư. Quy định này tăng tính chủ động cho các bộ, cơ quan, địa phương ương việc quyết định thời gian bố trí vốn ngân sách trung ương đối với các dự án thuộc thẩm quyền quản lý, đồng thời, giảm thủ tục hành chính do không cần phải thực hiện các trình tự, thủ tục tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Bên cạnh đó, theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, ngân sách địa phương được phân cấp quản lý thành 03 cấp (tỉnh, huyện, xã), Hội đồng nhân dân các cấp quyết định việc phân bổ, sử dụng ngân sách địa phương do cấp mình quản lý. Luật Đầu tư công năm 2019 quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc kéo dài thời gian bố trí vốn, kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân vốn ngân sách địa phương do cả 03 cấp quản lý. Quy định này chưa tạo sự chủ động cho Ủy ban nhân dân các cấp trong quá trình chỉ đạo điều hành hoạt động kinh tế xã hội trên địa bàn. Do đó, Luật Đầu tư công năm 2024 đã phân cấp thẩm quyền gia hạn thời gian bố trí vốn ngân sách địa phương từ Hội đồng nhân dân cấp tỉnh cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp. Quy định này đã tạo sự chủ động cho Ủy ban nhân dân các cấp trong quá trình chỉ đạo, điều hành hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn.

8. Phân cấp thẩm quyền kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn ngân sách địa phương từ Hội đồng nhân dân cấp tỉnh cho Chủ tịch Ủy ban để nhân dân các cấp

Quy định này nhằm tạo sự chủ động cho Ủy ban nhân dân các cấp trong quá trình chỉ đạo điều hành, kịp thời bố trí và giải ngân các nguồn vốn của địa phương do cấp mình quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn này.

Minh Trí


[1] Báo cáo số 6663/BC-BKHĐT ngày 20/8/2024 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá tác động chính sách trong Đề nghị xây dựng Luật Đầu tư công (sửa đổi).

[2] Tlđd.

[3] Ước GDP năm 2024 theo giá hiện hành là khoảng 10.363 nghìn tỷ đồng, năm 2014 là 4.937 nghìn tỷ đồng.

[4] Báo cáo số 6663/BC-BKHĐT ngày 20/8/2024 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá tác động chính sách trong Đề nghị xây dựng Luật Đầu tư công (sửa đổi).

[5] Tlđd.

[6] Tlđd.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Ngày 18/9, ông Nguyễn Duy Thắng, Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 52/2015/NĐ-CP về cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Tham dự cuộc họp có đại diện các đơn vị có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ theo vị trí việc làm cho công chức thực hiện nhiệm vụ tư pháp xã, phường, đặc khu (Chương trình) tập trung vào tập huấn kỹ năng, đặc biệt các kỹ năng liên quan đến chuyển đổi số, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu và xử lý tình huống gắn với những khó khăn, vướng mắc trong thực tế triển khai thực hiện công việc.
Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Ngày 15/9/2026, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1788/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Sáng ngày 16/9, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở (dự thảo Nghị định). Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc, Tổ trưởng Tổ soạn thảo chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì Hội thảo có Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Ngô Quỳnh Hoa.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Xây dựng Trang Hiến kế xây dựng, thi hành pháp luật

Xây dựng Trang Hiến kế xây dựng, thi hành pháp luật

Chiều ngày 15/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc làm việc với các đơn vị có liên quan về việc triển khai Trang Thông tin điện tử Hiến kế xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới trên Cổng Pháp luật quốc gia (Trang Hiến kế).
Triển khai kịp thời, toàn diện, thống nhất Luật Hòa giải ở cơ sở

Triển khai kịp thời, toàn diện, thống nhất Luật Hòa giải ở cơ sở

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu vừa ký Quyết định số 1774/QĐ-TTg ngày 14/9/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở (Kế hoạch). Việc ban hành Kế hoạch nhằm bảo đảm Luật được triển khai kịp thời, toàn diện, thống nhất và hiệu quả; qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả và tính thực chất trong tổ chức thi hành pháp luật.
Khoảng trống pháp lý về ly thân tại Việt Nam - Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện

Khoảng trống pháp lý về ly thân tại Việt Nam - Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Phản ánh mức độ can thiệp của Nhà nước vào quan hệ hôn nhân và gia đình, ly thân pháp lý cấu thành cơ chế mà theo đó, các bên vợ chồng được phép sống riêng nhưng vẫn duy trì giá trị pháp lý của hôn nhân, gắn với các quyền và nghĩa vụ được xác định rõ ràng. Tại Việt Nam, dù trở thành hiện tượng xã hội phổ biến, song, ly thân hiện chưa được pháp luật điều chỉnh, làm cho các quyền và nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng trong thời gian ly thân thiếu căn cứ pháp lý để xác định. Khoảng trống pháp lý này tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, cũng như của chủ thể thứ ba do thiếu biện pháp pháp lý bảo đảm tương xứng. Nghiên cứu phân tích, làm rõ khoảng trống pháp lý thông qua các số liệu thực tế, kinh nghiệm quốc tế và nền tảng lý luận về quyền con người, từ đó, đề xuất xây dựng chế định ly thân trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Đề xuất mở rộng việc tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài

Đề xuất mở rộng việc tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài

Chiều ngày 11/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. Tham dự cuộc họp có đại diện các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: