Thứ bảy 17/10/2026 12:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phân tầng cơ sở giáo dục đại học và đề xuất sửa đổi Luật Giáo dục đại học năm 2012

Trong quá trình xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2012, đã có những ý kiến khác nhau về việc nên hay không nên quy định phân tầng cơ sở giáo dục đại học. Bài viết dưới đây nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này và có đối chiếu với kinh nghiệm nước ngoài để từ đó đề xuất giải pháp sửa đổi Luật Giáo dục đại học 2012, tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho giáo dục đại học phát triển.


1. Quy định hiện hành và việc thực hiện phân tầng cơ sở giáo dục đại học

Các quy định phân tầng, xếp hạng cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) được quy định tại Điều 9 Luật Giáo dục đại học năm 2012 (sau đây gọi là Luật Giáo dục đại học), theo đó, cơ sở GDĐH được phân tầng nhằm ba mục đích: (i) Phục vụ công tác quy hoạch mạng lưới cơ sở GDĐH phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; (ii) Xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển, nâng cao năng lực đào tạo và nghiên cứu khoa học của cơ sở GDĐH; (iii) Thực hiện quản lý nhà nước.

Cơ sở GDĐH được phân tầng theo 05 tiêu chí, đó là: (i) Vị trí, vai trò trong hệ thống GDĐH; (ii) Quy mô, ngành nghề và các trình độ đào tạo; (iii) Cơ cấu các hoạt động đào tạo và khoa học công nghệ; (iv) Chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học; (v) Kết quả kiểm định chất lượng GDĐH.

Dựa vào các tiêu chí này, các cơ sở GDĐH được phân tầng thành ba loại gồm: (i) Cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu; (ii) Cơ sở GDĐH định hướng ứng dụng; (iii) Cơ sở GDĐH định hướng thực hành. Luật cũng quy định rõ ở mỗi tầng có xếp hạng các cơ sở GDĐH để ưu tiên đầu tư từ ngân sách nhà nước cho GDĐH.

Trên cơ sở thẩm quyền theo Luật Giáo dục đại học, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 73/2015/NĐ-CP ngày 08/9/2015 quy định tiêu chuẩn phân tầng, khung xếp hạng và tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học để làm cơ sở xác định các cơ sở GDĐH đạt chuẩn của từng tầng. Tuy nhiên, sau 05 năm kể từ khi Luật Giáo dục đại học có hiệu lực, trên thực tế, quy định về phân tầng đến nay vẫn chưa được triển khai một cách hiệu quả, chưa hình thành các tầng cơ sở GDĐH, chưa có cơ sở GDĐH đạt chuẩn trường định hướng nghiên cứu theo quy định, trong khi phần lớn các trường đều xác định sứ mệnh của mình là trường định hướng nghiên cứu. Thực trạng này xuất phát từ các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, bất cập xuất phát từ thuật ngữ “phân tầng”. Theo Từ điển Tiếng Việt, tầng là “mặt phẳng ngang ngăn chia không gian thành những phần trên dưới khác nhau về độ cao”[1]. Vì thế, cách gọi phân tầng tạo ra quan niệm về tầng trên, tầng dưới nên các cơ sở GDĐH liệu có trường nào muốn ở tầng thấp? Mặc dù gọi là phân tầng, nhưng trong Điều 9 Luật Giáo dục đại học lại không chỉ rõ tính cao, thấp mà khoản 4 Điều này lại quy định các cơ sở GDĐH được phân tầng thành cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu, định hướng ứng dụng, định hướng thực hành, có nghĩa giống việc phân loại các trường hơn là phân tầng. Nếu hiểu theo nghĩa tầng cao, thấp thì trường định hướng nghiên cứu sẽ ở tầng cao hơn các tầng khác, điều này dẫn đến hệ quả vô hình chung khuyến khích các trường trở thành trường định hướng nghiên cứu. Bản thân các cơ sở GDĐH đều muốn là trường nghiên cứu (ở tầng trên) để hưởng ưu tiên đầu tư nhiều hơn từ ngân sách nhà nước, mặc dù hiện nay đào tạo theo định hướng ứng dụng có xu hướng gia tăng và gắn liền với nhu cầu xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế, định hướng nào cũng đều cần cho sự phát triển của xã hội, tạo nên thế “kiềng ba chân” của GDĐH.

Thứ hai, tiêu chuẩn của cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu quy định hiện hành quá cao so với mặt bằng chung các cơ sở GDĐH hiện nay ở Việt Nam. Vì vậy, chưa có cơ sở nào đáp ứng các tiêu chuẩn để chính thức được công nhận là trường định hướng nghiên cứu. Những tiêu chí khó đạt nhất là: (i) Quy mô đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ chiếm trên 30% tổng quy mô đào tạo ngành, chuyên ngành định hướng nghiên cứu, trong khi thực tế cho thấy quy mô đào tạo trình độ sau đại học bị giới hạn bởi tỷ lệ giáo sư, phó giáo sư và tiến sĩ theo Thông tư số 32/2015/TT-BGDĐT[2] nên quy mô đào tạo trình độ đại học bao gồm hệ chính quy, vừa làm vừa học, từ xa của nhiều trường đang lấn át mạnh, vẫn là nguồn chủ yếu đảm bảo tài chính cho cơ sở, vượt xa con số tối đa cho phép đối với cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu; (ii) Tỷ lệ chi cho hoạt động nghiên cứu khoa học chiếm ít nhất 20% tổng chi cho hoạt động hàng năm của cơ sở GDĐH. Đây là thách thức lớn đối với tất cả các trường khi nghiên cứu chưa đủ sức mang lại nguồn thu để bù đắp phần nào các chi phí phải có cho hoạt động nghiên cứu khoa học; (iii) Tỷ lệ giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ không thấp hơn 30% tổng số giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu; đối với các ngành, chuyên ngành định hướng nghiên cứu phải đảm bảo tỷ lệ không thấp hơn 50%; (iv) Tỷ lệ sinh viên/giảng viên của các chương trình định hướng nghiên cứu không quá 15. Đây là khó khăn khó vượt qua nhất vì tỷ lệ 15 so với tiêu chuẩn là tỷ lệ 25 khiến nguồn thu từ học phí các chương trình định hướng nghiên cứu của các trường sẽ giảm sút nghiêm trọng (giảm 40%), ảnh hưởng đến tình hình tài chính mà ít cơ sở GDĐH dám mạo hiểm. Ngoài ra, các tiêu chí khác theo quy định hiện hành cũng không dễ dàng đối với nhiều cơ sở GDĐH.

Thứ ba, chưa xác định tổ chức phân tầng, xếp hạng cơ sở GDĐH. Theo Nghị định số 73/2015/NĐ-CP ngày 08/9/2015 của Chính phủ quy định tiêu chuẩn phân tầng, khung xếp hạng và tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học, các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ thực hiện phân tầng, xếp hạng. Tuy nhiên, đến nay, quy định này chưa được hiện thực hoá.

Thứ tư, theo quy định hiện hành, loại cơ sở GDĐH định hướng thực hành có mục đích áp dụng cho các trường cao đẳng, nhưng hiện nay, các trường loại này đã chuyển sang giáo dục nghề nghiệp, hoạt động theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, không còn thuộc đối tượng áp dụng của Luật Giáo dục đại học.

Vì các lý do trên, các quy định hiện hành về phân tầng chưa đi vào cuộc sống, chưa đạt được mục tiêu và những kỳ vọng đặt ra khi xây dựng Luật Giáo dục đại học năm 2012. Bởi vậy, nhu cầu hoàn thiện các quy định về phân tầng cơ sở GDĐH trong Luật Giáo dục đại học năm 2012 là rất cấp thiết nhằm tạo cơ sở pháp lý có tính khả thi và phù hợp với thông lệ quốc tế cho việc phân tầng các cơ sở GDĐH (nếu cần).

2. Kinh nghiệm của một số quốc gia về phân tầng cơ sở giáo dục đại học

Qua nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia đại diện điển hình cho các truyền thống pháp luật và các nền giáo dục trên thế giới như: Hoa Kỳ, Úc, Pháp, Đức, Liên bang Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, có thể thấy rằng, các nước không phân tầng trong văn bản luật về GDĐH, nếu có chỉ quy định về phân loại. Ở Đức, GDĐH thuộc thẩm quyền của các bang. Luật Giáo dục đại học của bang Hessen có liệt kê các trường đại học của bang tại Điều 2, gồm đại học tổng hợp, đại học nghệ thuật và các đại học chuyên ngành. Trong đó, trường đại học là trường nghiên cứu, có nhiệm vụ phát triển, nâng cao các ngành khoa học thông qua nghiên cứu và đào tạo các ngành khoa học; đào tạo đội ngũ khoa học và nghệ thuật kế cận[3]. Như vậy, pháp luật của bang Hessen không có phân tầng, mà chỉ có quy định về các loại cơ sở GDĐH. Luật Giáo dục đại học và nghề nghiệp sau đại học của Liên bang Nga[4] có các loại và tên các trường đại học (Điều 9) nhưng Luật này hiện đã hết hiệu lực và trong Luật Giáo dục hiện hành không có quy định về vấn đề này[5]. Bộ luật liên quan đến các đại học và các trường đại học ở Vương quốc Na Uy có quy định tại Điều 2 về phạm vi áp dụng là các đại học, trường đại học chuyên biệt và trường đại học. Việc trường thuộc phân loại nào sẽ do Quốc vương quyết định[6].

Vậy phân tầng trong ngôn ngữ các nước này thể hiện như thế nào? Thuật ngữ được giới khoa học sử dụng chỉ phân tầng chính là “classification” trong tiếng Anh, tiếng Pháp, “классификация” trong tiếng Nga đều mang ý nghĩa “phân loại”. Theo hiểu biết của tác giả, trong Luật Giáo dục đại học của Trung Quốc[7] có xuất hiện thuật ngữ “phân tầng”, khi Điều 26 quy định: “Thành lập trường đại học cần căn cứ theo phân tầng, loại hình, các chuyên ngành khoa học, quy mô, trình độ giảng viên và nghiên cứu viên khoa học để sử dụng tên gọi tương ứng”. Tuy nhiên, từ “phân tầng” trong văn bản này không hẳn là tầng cao thấp. Từ phân tầng ở đây nghĩa là tầng lớp, phân loại, nhưng xét từ này trong ngữ cảnh các từ liên quan như “loại hình”, “các chuyên ngành khoa học”, “quy mô”, thì từ này có nghĩa là phân loại theo loại hình chứ không phải phân tầng cao thấp về mức độ danh tiếng, trình độ đào tạo của các cơ sở đào tạo đại học. Hơn nữa, trong Luật Giáo dục đại học của Trung Quốc cũng không có bất cứ quy định nào về các tầng mà chỉ chia thành các loại trường như trường nghiên cứu - đại học tổng hợp và trường chuyên ngành - thiên về đào tạo ứng dụng và các trường khác, ví dụ trường hàm thụ, trường đào tạo qua phát thanh, truyền hình (từ xa)... Ở Trung Quốc, Chính phủ chú trọng đến việc tạo ra các trường đại học chất lượng cao bằng các dự án khác nhau. Ngay từ năm 1995, dự án xây dựng 100 trường đại học đẳng cấp quốc tế với các ngành học then chốt trong thế kỷ XXI đã được triển khai với tên gọi “Dự án 211”. Mục tiêu của dự án là xây dựng nhóm 100 các trường đại học được tài trợ đặc biệt để nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu, quản lý và hiệu quả, với hy vọng là từ nhóm các trường đại học này xây dựng các tiêu chuẩn về chất lượng các trường đại học. Chính phủ đầu tư mạnh cho Dự án 211, Kế hoạch 05 năm lần thứ 10 đã tăng đầu tư cho dự án 211 với nguồn kinh phí tổng thể là 18,4 tỷ NDT (tương đương 1,66 tỷ euro)[8]. Dự án 985 được triển khai từ năm 1998 nhằm mục đích phát triển từ 10 đến 12 trường đại học đạt đẳng cấp thế giới, có khả năng cạnh tranh với các tổ chức giáo dục đại học đứng đầu thế giới cộng với một số tổ chức nghiên cứu cao cấp nổi tiếng thế giới. Đại học Bắc Kinh và Đại học Thanh Hoa được ưu tiên đầu tiên cùng với 39 trường đại học khác. Các trường này được hưởng nguồn kinh phí hỗ trợ đặc biệt cùng với nguồn tài trợ thường xuyên để tạo thành một nhóm các trường đẳng cấp cao ở Trung Quốc. Trong năm 2017, Trung Quốc lại có bước tiến mới trong việc xây dựng các trường đẳng cấp cao. Ngày 21/8/2017, Thông tư số 2 năm 2017 của Bộ Giáo dục, Bộ Tài chính, Ủy ban cải cách quốc gia Trung Quốc được ban hành, công bố danh sách các trường đại học song nhất (hai hàng đầu) được đầu tư để trở thành những trường hàng đầu thế giới và có những chuyên ngành đào tạo hàng đầu thế giới. Theo đó, có 42 trường ưu tú lọt vào danh sách này, bao gồm các trường từ Dự án 985 và một số trường từ Dự án 211. Như vậy, ở Trung Quốc có các trường thuộc các đẳng cấp khác nhau nhưng không xuất phát từ luật mà xuất phát từ chính sách đầu tư của Nhà nước thông qua các dự án, chương trình để hình thành các trường đẳng cấp cao. Năm 2017 mới có Thông tư liên tịch xác định danh mục 42 trường ưu tú sau cả quá trình dài đầu tư và sàng lọc (từ năm 1995).

3. Sửa đổi Luật Giáo dục đại học năm 2012 về phân tầng cơ sở giáo dục đại học như thế nào?

Ở một số quốc gia, thuật ngữ “phân tầng” có ý nghĩa là phân loại. “Phân tầng” mang nhiều tính hàn lâm, thường chỉ “tầng tinh hoa” và “tầng đại chúng” của các cơ sở GDĐH, phù hợp với các công trình khoa học hơn là quy định trong các văn bản pháp luật. Trung Quốc là quốc gia có sự phân tầng rõ rệt, tầng tinh hoa cao nhất gồm những trường xuất sắc nhất hình thành trên cơ sở chính sách đầu tư của Nhà nước mà không cần quy định cụ thể trong luật. Vấn đề phân tầng đã từng gây tranh luận khi xây dựng Luật Giáo dục đại học năm 2012 và cuộc tranh luận vẫn chưa kết thúc cho đến tận bây giờ. Các trường tốp trên muốn giữ phân tầng để khẳng định đẳng cấp của mình và tiếp tục được Nhà nước đầu tư, các trường tốp dưới lại không muốn phân tầng vì tạo ra sự khác biệt. Những ý kiến trái chiều vẫn đang tiếp tục tác động đến quá trình dự thảo Luật Giáo dục đại học sửa đổi. Theo chúng tôi, liên quan đến vấn đề này có 03 nội dung cần chú ý:

Thứ nhất, cần phân biệt xây dựng văn bản luật về giáo dục đại học với xây dựng chính sách đầu tư cho giáo dục đại học. Việc hình thành các trường đẳng cấp quốc tế, các trường hàng đầu là rất cần thiết, nhưng có nhất thiết phải quy định trong luật hay không? Ví dụ của Trung Quốc cho thấy, họ thành công trong việc xây dựng các trường đẳng cấp quốc tế từ chính sách đầu tư của Nhà nước thông qua các dự án; văn bản ghi nhận các trường ưu tú để tiếp tục đầu tư cũng chỉ là Thông tư liên tịch.

Thứ hai, nếu không quy định về phân tầng thì ảnh hưởng thế nào đến việc phát triển GDĐH ở nước ta? Thực tế cho thấy, không có quy định về phân tầng, thì các mục đích theo Luật Giáo dục đại học hiện hành vẫn đạt được, đó là: (i) Quy hoạch mạng lưới vẫn thực hiện được vì trong Luật đã có Điều 11 về quy hoạch mạng lưới cơ sở GDĐH với các tiêu chí rõ ràng (trong đó không có tiêu chí về phân tầng). (ii) Kế hoạch đầu tư vẫn xây dựng và triển khai vì trong Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học trình Quốc hội xem xét ở kỳ hợp thứ 5 Quốc hội khoá XIV đã bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 12 như sau: “Nhà nước có chính sách về đất đai, thuế, tín dụng và các chính sách khác để phát triển giáo dục đại học; ưu tiên đầu tư ngân sách để phát triển một số cơ sở giáo dục đại học, ngành đào tạo mang tầm khu vực, quốc tế và cơ sở đào tạo giáo viên chất lượng cao; phát triển một số ngành, vùng đặc thù để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Nhà nước có cơ chế phân bổ nguồn lực cho giáo dục đại học theo nguyên tắc cạnh tranh, bình đẳng, hiệu quả”. Với quy định này, nếu muốn phát triển các trường đẳng cấp quốc tế thì ngân sách nhà nước vẫn đầu tư nhưng thông qua đề án, dự án, chương trình, trong đó, ưu tiên các ngành đào tạo mang tầm khu vực và quốc tế, đào tạo giáo viên chất lượng cao. Điều đó có nghĩa là, các cơ sở GDĐH mạnh, đủ điều kiện để phát triển thành các trường “tinh hoa” hàng đầu vẫn có cơ sở pháp lý để Nhà nước đầu tư phát triển. (iii) Việc quản lý nhà nước vẫn được thực hiện đối với các cơ sở GDĐH một cánh hiệu quả, không phụ thuộc vào việc có được phân tầng hay không.

Thứ ba, Luật Giáo dục đại học nên quy định theo thông lệ quốc tế để dễ dàng hội nhập. Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI để đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, nhằm tăng cường hội nhập quốc tế trong lĩnh vực giáo dục để phát triển đất nước, quan điểm nhất quán khi thực hiện sửa đổi, bổ sung Luật lần này là phải phù hợp với thông lệ quốc tế để GDĐH Việt Nam sớm bắt kịp với các cơ sở GDĐH tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.

Từ những lập luận trên, tác giả đề xuất hai phương án:

Phương án thứ nhất: Tách Điều 9 thành 2 điều riêng biệt. Điều 9 về các loại cơ sở GDĐH, Điều 9a về xếp hạng, vì hiện nay đây là 2 vấn đề độc lập, không còn có điểm chung như Luật hiện hành (về tiêu chí, cơ quan có thẩm quyền)... Điều 9 có thể được quy định như sau:

“Điều 9. Các loại cơ sở giáo dục đại học

1. Các cơ sở giáo dục đại học bao gồm: (i) Cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu; (ii) Cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng.

2. Cơ sở giáo dục đại học tự xác định sứ mạng, mục tiêu phát triển theo định hướng nghiên cứu hoặc định hướng ứng dụng phù hợp với điều kiện của cơ sở giáo dục đại học và nhu cầu của xã hội”.

Tuy nhiên, phương án này có hạn chế là phải bổ sung một điều, trong khi đó, việc xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học bị giới hạn bởi số điều được sửa đổi, bổ sung. Ban soạn thảo phải cân nhắc từng điều cần sửa đổi hay bổ sung để đưa vào Dự thảo cho thuyết phục, vì thế việc bổ sung thêm 01 điều là hết sức khó khăn.

Phương án thứ hai: Đưa những nội dung về các loại cơ sở GDĐH theo sứ mệnh vào Điều 7 và có thể được quy định như sau::

“Điều 7. Cơ sở giáo dục đại học

3. Các cơ sở giáo dục đại học hoạt động theo các định hướng sau: (i) Cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu; (ii) Cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng. Cơ sở giáo dục đại học tự xác định sứ mạng, mục tiêu phát triển theo định hướng nghiên cứu hoặc định hướng ứng dụng phù hợp với điều kiện của cơ sở giáo dục đại học và nhu cầu xã hội. Chính phủ quy định tiêu chí công nhận cơ sở giáo dục đại học theo định hướng nghiên cứu trên cơ sở kết quả đào tạo, nghiên cứu”.

Phương án này khắc phục được hạn chế của phương án thứ nhất (không phát sinh điều luật bổ sung), đồng thời hợp logic, vì Điều 7 quy định về hệ thống các cơ sở GDĐH nên các loại trường theo định hướng khác nhau được quy định ở Điều này là phù hợp. Đồng thời quy định về tiêu chí công nhận trường theo định hướng nghiên cứu cũng được tối giản theo thông lệ quốc tế (theo kết quả đào tạo, nghiên cứu), có tính khả thi cao, giúp các trường có thể dễ dàng hơn khi phấn đấu trở thành trường định hướng nghiên cứu.

Theo tác giả, phương án thứ hai là phù hợp trong bối cảnh hiện tại và nếu được Quốc hội xem xét thông qua sẽ tạo cơ sở pháp lý phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam và thông lệ quốc tế trong việc xác định định hướng các cơ sở GDĐH có sự quản lý của Nhà nước. Công việc tiếp theo sẽ là trên cơ sở Điều 7, Điều 11, đặc biệt Điều 12 của Luật này, Chính phủ xây dựng chiến lược, kế hoạch, dự án, chương trình nhằm triển khai việc hình thành nhóm các trường và các ngành đào tạo mang tầm khu vực và quốc tế.

PGS.TS. Vũ Thị Lan Anh

Đại học Luật Hà Nội





[1]. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê (Chủ biên), Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, Hà Nội ngày 16/12/2015 - Đà Nẵng, 1997, tr. 868.

[2]. Thông tư số 32/2015/TT-BGDĐT ngày 16/12/2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh đối với các cơ sở giáo dục đại học. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/02/2016.

[3]. Luật Giáo dục đại học Bang Hessen được ban hành năm 1998, đã sửa đổi, bổ sung vào các năm 1999, 2000. Xem bản dịch thuộc Đề án xây dựng Luật Giáo dục đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012).

[4]. Федеральный закон “О высшем и послевузовском профессиональном образовании” от 22.08.1996 N 125-ФЗ Luật Liên bang về giáo dục đại học và nghề nghiệp sau đại học. Luật số 125-PZ ngày 22/8/1996, hiện đã hết hiệu lực và thay thế bởi Luật Liên bang về Giáo dục ở Liên bang Nga.

[5]. Федеральный закон “Об образовании в Российской Федерации” N 273-ФЗ от 29 декабря 2012 года. Luật Liên bang về Giáo dục ở Liên bang Nga. Luật số 273-PZ ngày 29/12/2012, có hiệu lực từ ngày 01/9/2013, đã được sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2015, 2016, 2017.

[6]. Bộ luật liên quan đến các đại học và các trường đại học Vương quốc Na Uy. Xem bản dịch Bộ luật thuộc Đề án xây dựng Luật Giáo dục đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012).

[7]. Luật Giáo dục đại học Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thông qua ngày 29/8/1998, có hiệu lực từ ngày 01/01/1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015. Xem bản dịch của Vũ Thuỳ Trang. Đề án khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục đại học 2012” thuộc Chương trình khoa học giáo dục quốc gia.

[8]. Xem thêm Vũ Thuỳ Trang, Chuyên đề “Kinh nghiệm giáo dục đại học ở Trung Quốc”, Đề án Đề án khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục đại học 2012” thuộc Chương trình khoa học giáo dục quốc gia.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.

Theo dõi chúng tôi trên: