Thứ ba 17/02/2026 03:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phân tầng cơ sở giáo dục đại học và đề xuất sửa đổi Luật Giáo dục đại học năm 2012

Trong quá trình xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2012, đã có những ý kiến khác nhau về việc nên hay không nên quy định phân tầng cơ sở giáo dục đại học. Bài viết dưới đây nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này và có đối chiếu với kinh nghiệm nước ngoài để từ đó đề xuất giải pháp sửa đổi Luật Giáo dục đại học 2012, tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho giáo dục đại học phát triển.


1. Quy định hiện hành và việc thực hiện phân tầng cơ sở giáo dục đại học

Các quy định phân tầng, xếp hạng cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) được quy định tại Điều 9 Luật Giáo dục đại học năm 2012 (sau đây gọi là Luật Giáo dục đại học), theo đó, cơ sở GDĐH được phân tầng nhằm ba mục đích: (i) Phục vụ công tác quy hoạch mạng lưới cơ sở GDĐH phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; (ii) Xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển, nâng cao năng lực đào tạo và nghiên cứu khoa học của cơ sở GDĐH; (iii) Thực hiện quản lý nhà nước.

Cơ sở GDĐH được phân tầng theo 05 tiêu chí, đó là: (i) Vị trí, vai trò trong hệ thống GDĐH; (ii) Quy mô, ngành nghề và các trình độ đào tạo; (iii) Cơ cấu các hoạt động đào tạo và khoa học công nghệ; (iv) Chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học; (v) Kết quả kiểm định chất lượng GDĐH.

Dựa vào các tiêu chí này, các cơ sở GDĐH được phân tầng thành ba loại gồm: (i) Cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu; (ii) Cơ sở GDĐH định hướng ứng dụng; (iii) Cơ sở GDĐH định hướng thực hành. Luật cũng quy định rõ ở mỗi tầng có xếp hạng các cơ sở GDĐH để ưu tiên đầu tư từ ngân sách nhà nước cho GDĐH.

Trên cơ sở thẩm quyền theo Luật Giáo dục đại học, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 73/2015/NĐ-CP ngày 08/9/2015 quy định tiêu chuẩn phân tầng, khung xếp hạng và tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học để làm cơ sở xác định các cơ sở GDĐH đạt chuẩn của từng tầng. Tuy nhiên, sau 05 năm kể từ khi Luật Giáo dục đại học có hiệu lực, trên thực tế, quy định về phân tầng đến nay vẫn chưa được triển khai một cách hiệu quả, chưa hình thành các tầng cơ sở GDĐH, chưa có cơ sở GDĐH đạt chuẩn trường định hướng nghiên cứu theo quy định, trong khi phần lớn các trường đều xác định sứ mệnh của mình là trường định hướng nghiên cứu. Thực trạng này xuất phát từ các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, bất cập xuất phát từ thuật ngữ “phân tầng”. Theo Từ điển Tiếng Việt, tầng là “mặt phẳng ngang ngăn chia không gian thành những phần trên dưới khác nhau về độ cao”[1]. Vì thế, cách gọi phân tầng tạo ra quan niệm về tầng trên, tầng dưới nên các cơ sở GDĐH liệu có trường nào muốn ở tầng thấp? Mặc dù gọi là phân tầng, nhưng trong Điều 9 Luật Giáo dục đại học lại không chỉ rõ tính cao, thấp mà khoản 4 Điều này lại quy định các cơ sở GDĐH được phân tầng thành cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu, định hướng ứng dụng, định hướng thực hành, có nghĩa giống việc phân loại các trường hơn là phân tầng. Nếu hiểu theo nghĩa tầng cao, thấp thì trường định hướng nghiên cứu sẽ ở tầng cao hơn các tầng khác, điều này dẫn đến hệ quả vô hình chung khuyến khích các trường trở thành trường định hướng nghiên cứu. Bản thân các cơ sở GDĐH đều muốn là trường nghiên cứu (ở tầng trên) để hưởng ưu tiên đầu tư nhiều hơn từ ngân sách nhà nước, mặc dù hiện nay đào tạo theo định hướng ứng dụng có xu hướng gia tăng và gắn liền với nhu cầu xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế, định hướng nào cũng đều cần cho sự phát triển của xã hội, tạo nên thế “kiềng ba chân” của GDĐH.

Thứ hai, tiêu chuẩn của cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu quy định hiện hành quá cao so với mặt bằng chung các cơ sở GDĐH hiện nay ở Việt Nam. Vì vậy, chưa có cơ sở nào đáp ứng các tiêu chuẩn để chính thức được công nhận là trường định hướng nghiên cứu. Những tiêu chí khó đạt nhất là: (i) Quy mô đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ chiếm trên 30% tổng quy mô đào tạo ngành, chuyên ngành định hướng nghiên cứu, trong khi thực tế cho thấy quy mô đào tạo trình độ sau đại học bị giới hạn bởi tỷ lệ giáo sư, phó giáo sư và tiến sĩ theo Thông tư số 32/2015/TT-BGDĐT[2] nên quy mô đào tạo trình độ đại học bao gồm hệ chính quy, vừa làm vừa học, từ xa của nhiều trường đang lấn át mạnh, vẫn là nguồn chủ yếu đảm bảo tài chính cho cơ sở, vượt xa con số tối đa cho phép đối với cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu; (ii) Tỷ lệ chi cho hoạt động nghiên cứu khoa học chiếm ít nhất 20% tổng chi cho hoạt động hàng năm của cơ sở GDĐH. Đây là thách thức lớn đối với tất cả các trường khi nghiên cứu chưa đủ sức mang lại nguồn thu để bù đắp phần nào các chi phí phải có cho hoạt động nghiên cứu khoa học; (iii) Tỷ lệ giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ không thấp hơn 30% tổng số giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu; đối với các ngành, chuyên ngành định hướng nghiên cứu phải đảm bảo tỷ lệ không thấp hơn 50%; (iv) Tỷ lệ sinh viên/giảng viên của các chương trình định hướng nghiên cứu không quá 15. Đây là khó khăn khó vượt qua nhất vì tỷ lệ 15 so với tiêu chuẩn là tỷ lệ 25 khiến nguồn thu từ học phí các chương trình định hướng nghiên cứu của các trường sẽ giảm sút nghiêm trọng (giảm 40%), ảnh hưởng đến tình hình tài chính mà ít cơ sở GDĐH dám mạo hiểm. Ngoài ra, các tiêu chí khác theo quy định hiện hành cũng không dễ dàng đối với nhiều cơ sở GDĐH.

Thứ ba, chưa xác định tổ chức phân tầng, xếp hạng cơ sở GDĐH. Theo Nghị định số 73/2015/NĐ-CP ngày 08/9/2015 của Chính phủ quy định tiêu chuẩn phân tầng, khung xếp hạng và tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học, các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ thực hiện phân tầng, xếp hạng. Tuy nhiên, đến nay, quy định này chưa được hiện thực hoá.

Thứ tư, theo quy định hiện hành, loại cơ sở GDĐH định hướng thực hành có mục đích áp dụng cho các trường cao đẳng, nhưng hiện nay, các trường loại này đã chuyển sang giáo dục nghề nghiệp, hoạt động theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, không còn thuộc đối tượng áp dụng của Luật Giáo dục đại học.

Vì các lý do trên, các quy định hiện hành về phân tầng chưa đi vào cuộc sống, chưa đạt được mục tiêu và những kỳ vọng đặt ra khi xây dựng Luật Giáo dục đại học năm 2012. Bởi vậy, nhu cầu hoàn thiện các quy định về phân tầng cơ sở GDĐH trong Luật Giáo dục đại học năm 2012 là rất cấp thiết nhằm tạo cơ sở pháp lý có tính khả thi và phù hợp với thông lệ quốc tế cho việc phân tầng các cơ sở GDĐH (nếu cần).

2. Kinh nghiệm của một số quốc gia về phân tầng cơ sở giáo dục đại học

Qua nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia đại diện điển hình cho các truyền thống pháp luật và các nền giáo dục trên thế giới như: Hoa Kỳ, Úc, Pháp, Đức, Liên bang Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, có thể thấy rằng, các nước không phân tầng trong văn bản luật về GDĐH, nếu có chỉ quy định về phân loại. Ở Đức, GDĐH thuộc thẩm quyền của các bang. Luật Giáo dục đại học của bang Hessen có liệt kê các trường đại học của bang tại Điều 2, gồm đại học tổng hợp, đại học nghệ thuật và các đại học chuyên ngành. Trong đó, trường đại học là trường nghiên cứu, có nhiệm vụ phát triển, nâng cao các ngành khoa học thông qua nghiên cứu và đào tạo các ngành khoa học; đào tạo đội ngũ khoa học và nghệ thuật kế cận[3]. Như vậy, pháp luật của bang Hessen không có phân tầng, mà chỉ có quy định về các loại cơ sở GDĐH. Luật Giáo dục đại học và nghề nghiệp sau đại học của Liên bang Nga[4] có các loại và tên các trường đại học (Điều 9) nhưng Luật này hiện đã hết hiệu lực và trong Luật Giáo dục hiện hành không có quy định về vấn đề này[5]. Bộ luật liên quan đến các đại học và các trường đại học ở Vương quốc Na Uy có quy định tại Điều 2 về phạm vi áp dụng là các đại học, trường đại học chuyên biệt và trường đại học. Việc trường thuộc phân loại nào sẽ do Quốc vương quyết định[6].

Vậy phân tầng trong ngôn ngữ các nước này thể hiện như thế nào? Thuật ngữ được giới khoa học sử dụng chỉ phân tầng chính là “classification” trong tiếng Anh, tiếng Pháp, “классификация” trong tiếng Nga đều mang ý nghĩa “phân loại”. Theo hiểu biết của tác giả, trong Luật Giáo dục đại học của Trung Quốc[7] có xuất hiện thuật ngữ “phân tầng”, khi Điều 26 quy định: “Thành lập trường đại học cần căn cứ theo phân tầng, loại hình, các chuyên ngành khoa học, quy mô, trình độ giảng viên và nghiên cứu viên khoa học để sử dụng tên gọi tương ứng”. Tuy nhiên, từ “phân tầng” trong văn bản này không hẳn là tầng cao thấp. Từ phân tầng ở đây nghĩa là tầng lớp, phân loại, nhưng xét từ này trong ngữ cảnh các từ liên quan như “loại hình”, “các chuyên ngành khoa học”, “quy mô”, thì từ này có nghĩa là phân loại theo loại hình chứ không phải phân tầng cao thấp về mức độ danh tiếng, trình độ đào tạo của các cơ sở đào tạo đại học. Hơn nữa, trong Luật Giáo dục đại học của Trung Quốc cũng không có bất cứ quy định nào về các tầng mà chỉ chia thành các loại trường như trường nghiên cứu - đại học tổng hợp và trường chuyên ngành - thiên về đào tạo ứng dụng và các trường khác, ví dụ trường hàm thụ, trường đào tạo qua phát thanh, truyền hình (từ xa)... Ở Trung Quốc, Chính phủ chú trọng đến việc tạo ra các trường đại học chất lượng cao bằng các dự án khác nhau. Ngay từ năm 1995, dự án xây dựng 100 trường đại học đẳng cấp quốc tế với các ngành học then chốt trong thế kỷ XXI đã được triển khai với tên gọi “Dự án 211”. Mục tiêu của dự án là xây dựng nhóm 100 các trường đại học được tài trợ đặc biệt để nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu, quản lý và hiệu quả, với hy vọng là từ nhóm các trường đại học này xây dựng các tiêu chuẩn về chất lượng các trường đại học. Chính phủ đầu tư mạnh cho Dự án 211, Kế hoạch 05 năm lần thứ 10 đã tăng đầu tư cho dự án 211 với nguồn kinh phí tổng thể là 18,4 tỷ NDT (tương đương 1,66 tỷ euro)[8]. Dự án 985 được triển khai từ năm 1998 nhằm mục đích phát triển từ 10 đến 12 trường đại học đạt đẳng cấp thế giới, có khả năng cạnh tranh với các tổ chức giáo dục đại học đứng đầu thế giới cộng với một số tổ chức nghiên cứu cao cấp nổi tiếng thế giới. Đại học Bắc Kinh và Đại học Thanh Hoa được ưu tiên đầu tiên cùng với 39 trường đại học khác. Các trường này được hưởng nguồn kinh phí hỗ trợ đặc biệt cùng với nguồn tài trợ thường xuyên để tạo thành một nhóm các trường đẳng cấp cao ở Trung Quốc. Trong năm 2017, Trung Quốc lại có bước tiến mới trong việc xây dựng các trường đẳng cấp cao. Ngày 21/8/2017, Thông tư số 2 năm 2017 của Bộ Giáo dục, Bộ Tài chính, Ủy ban cải cách quốc gia Trung Quốc được ban hành, công bố danh sách các trường đại học song nhất (hai hàng đầu) được đầu tư để trở thành những trường hàng đầu thế giới và có những chuyên ngành đào tạo hàng đầu thế giới. Theo đó, có 42 trường ưu tú lọt vào danh sách này, bao gồm các trường từ Dự án 985 và một số trường từ Dự án 211. Như vậy, ở Trung Quốc có các trường thuộc các đẳng cấp khác nhau nhưng không xuất phát từ luật mà xuất phát từ chính sách đầu tư của Nhà nước thông qua các dự án, chương trình để hình thành các trường đẳng cấp cao. Năm 2017 mới có Thông tư liên tịch xác định danh mục 42 trường ưu tú sau cả quá trình dài đầu tư và sàng lọc (từ năm 1995).

3. Sửa đổi Luật Giáo dục đại học năm 2012 về phân tầng cơ sở giáo dục đại học như thế nào?

Ở một số quốc gia, thuật ngữ “phân tầng” có ý nghĩa là phân loại. “Phân tầng” mang nhiều tính hàn lâm, thường chỉ “tầng tinh hoa” và “tầng đại chúng” của các cơ sở GDĐH, phù hợp với các công trình khoa học hơn là quy định trong các văn bản pháp luật. Trung Quốc là quốc gia có sự phân tầng rõ rệt, tầng tinh hoa cao nhất gồm những trường xuất sắc nhất hình thành trên cơ sở chính sách đầu tư của Nhà nước mà không cần quy định cụ thể trong luật. Vấn đề phân tầng đã từng gây tranh luận khi xây dựng Luật Giáo dục đại học năm 2012 và cuộc tranh luận vẫn chưa kết thúc cho đến tận bây giờ. Các trường tốp trên muốn giữ phân tầng để khẳng định đẳng cấp của mình và tiếp tục được Nhà nước đầu tư, các trường tốp dưới lại không muốn phân tầng vì tạo ra sự khác biệt. Những ý kiến trái chiều vẫn đang tiếp tục tác động đến quá trình dự thảo Luật Giáo dục đại học sửa đổi. Theo chúng tôi, liên quan đến vấn đề này có 03 nội dung cần chú ý:

Thứ nhất, cần phân biệt xây dựng văn bản luật về giáo dục đại học với xây dựng chính sách đầu tư cho giáo dục đại học. Việc hình thành các trường đẳng cấp quốc tế, các trường hàng đầu là rất cần thiết, nhưng có nhất thiết phải quy định trong luật hay không? Ví dụ của Trung Quốc cho thấy, họ thành công trong việc xây dựng các trường đẳng cấp quốc tế từ chính sách đầu tư của Nhà nước thông qua các dự án; văn bản ghi nhận các trường ưu tú để tiếp tục đầu tư cũng chỉ là Thông tư liên tịch.

Thứ hai, nếu không quy định về phân tầng thì ảnh hưởng thế nào đến việc phát triển GDĐH ở nước ta? Thực tế cho thấy, không có quy định về phân tầng, thì các mục đích theo Luật Giáo dục đại học hiện hành vẫn đạt được, đó là: (i) Quy hoạch mạng lưới vẫn thực hiện được vì trong Luật đã có Điều 11 về quy hoạch mạng lưới cơ sở GDĐH với các tiêu chí rõ ràng (trong đó không có tiêu chí về phân tầng). (ii) Kế hoạch đầu tư vẫn xây dựng và triển khai vì trong Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học trình Quốc hội xem xét ở kỳ hợp thứ 5 Quốc hội khoá XIV đã bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 12 như sau: “Nhà nước có chính sách về đất đai, thuế, tín dụng và các chính sách khác để phát triển giáo dục đại học; ưu tiên đầu tư ngân sách để phát triển một số cơ sở giáo dục đại học, ngành đào tạo mang tầm khu vực, quốc tế và cơ sở đào tạo giáo viên chất lượng cao; phát triển một số ngành, vùng đặc thù để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Nhà nước có cơ chế phân bổ nguồn lực cho giáo dục đại học theo nguyên tắc cạnh tranh, bình đẳng, hiệu quả”. Với quy định này, nếu muốn phát triển các trường đẳng cấp quốc tế thì ngân sách nhà nước vẫn đầu tư nhưng thông qua đề án, dự án, chương trình, trong đó, ưu tiên các ngành đào tạo mang tầm khu vực và quốc tế, đào tạo giáo viên chất lượng cao. Điều đó có nghĩa là, các cơ sở GDĐH mạnh, đủ điều kiện để phát triển thành các trường “tinh hoa” hàng đầu vẫn có cơ sở pháp lý để Nhà nước đầu tư phát triển. (iii) Việc quản lý nhà nước vẫn được thực hiện đối với các cơ sở GDĐH một cánh hiệu quả, không phụ thuộc vào việc có được phân tầng hay không.

Thứ ba, Luật Giáo dục đại học nên quy định theo thông lệ quốc tế để dễ dàng hội nhập. Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI để đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, nhằm tăng cường hội nhập quốc tế trong lĩnh vực giáo dục để phát triển đất nước, quan điểm nhất quán khi thực hiện sửa đổi, bổ sung Luật lần này là phải phù hợp với thông lệ quốc tế để GDĐH Việt Nam sớm bắt kịp với các cơ sở GDĐH tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.

Từ những lập luận trên, tác giả đề xuất hai phương án:

Phương án thứ nhất: Tách Điều 9 thành 2 điều riêng biệt. Điều 9 về các loại cơ sở GDĐH, Điều 9a về xếp hạng, vì hiện nay đây là 2 vấn đề độc lập, không còn có điểm chung như Luật hiện hành (về tiêu chí, cơ quan có thẩm quyền)... Điều 9 có thể được quy định như sau:

“Điều 9. Các loại cơ sở giáo dục đại học

1. Các cơ sở giáo dục đại học bao gồm: (i) Cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu; (ii) Cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng.

2. Cơ sở giáo dục đại học tự xác định sứ mạng, mục tiêu phát triển theo định hướng nghiên cứu hoặc định hướng ứng dụng phù hợp với điều kiện của cơ sở giáo dục đại học và nhu cầu của xã hội”.

Tuy nhiên, phương án này có hạn chế là phải bổ sung một điều, trong khi đó, việc xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học bị giới hạn bởi số điều được sửa đổi, bổ sung. Ban soạn thảo phải cân nhắc từng điều cần sửa đổi hay bổ sung để đưa vào Dự thảo cho thuyết phục, vì thế việc bổ sung thêm 01 điều là hết sức khó khăn.

Phương án thứ hai: Đưa những nội dung về các loại cơ sở GDĐH theo sứ mệnh vào Điều 7 và có thể được quy định như sau::

“Điều 7. Cơ sở giáo dục đại học

3. Các cơ sở giáo dục đại học hoạt động theo các định hướng sau: (i) Cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu; (ii) Cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng. Cơ sở giáo dục đại học tự xác định sứ mạng, mục tiêu phát triển theo định hướng nghiên cứu hoặc định hướng ứng dụng phù hợp với điều kiện của cơ sở giáo dục đại học và nhu cầu xã hội. Chính phủ quy định tiêu chí công nhận cơ sở giáo dục đại học theo định hướng nghiên cứu trên cơ sở kết quả đào tạo, nghiên cứu”.

Phương án này khắc phục được hạn chế của phương án thứ nhất (không phát sinh điều luật bổ sung), đồng thời hợp logic, vì Điều 7 quy định về hệ thống các cơ sở GDĐH nên các loại trường theo định hướng khác nhau được quy định ở Điều này là phù hợp. Đồng thời quy định về tiêu chí công nhận trường theo định hướng nghiên cứu cũng được tối giản theo thông lệ quốc tế (theo kết quả đào tạo, nghiên cứu), có tính khả thi cao, giúp các trường có thể dễ dàng hơn khi phấn đấu trở thành trường định hướng nghiên cứu.

Theo tác giả, phương án thứ hai là phù hợp trong bối cảnh hiện tại và nếu được Quốc hội xem xét thông qua sẽ tạo cơ sở pháp lý phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam và thông lệ quốc tế trong việc xác định định hướng các cơ sở GDĐH có sự quản lý của Nhà nước. Công việc tiếp theo sẽ là trên cơ sở Điều 7, Điều 11, đặc biệt Điều 12 của Luật này, Chính phủ xây dựng chiến lược, kế hoạch, dự án, chương trình nhằm triển khai việc hình thành nhóm các trường và các ngành đào tạo mang tầm khu vực và quốc tế.

PGS.TS. Vũ Thị Lan Anh

Đại học Luật Hà Nội





[1]. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê (Chủ biên), Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, Hà Nội ngày 16/12/2015 - Đà Nẵng, 1997, tr. 868.

[2]. Thông tư số 32/2015/TT-BGDĐT ngày 16/12/2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh đối với các cơ sở giáo dục đại học. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/02/2016.

[3]. Luật Giáo dục đại học Bang Hessen được ban hành năm 1998, đã sửa đổi, bổ sung vào các năm 1999, 2000. Xem bản dịch thuộc Đề án xây dựng Luật Giáo dục đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012).

[4]. Федеральный закон “О высшем и послевузовском профессиональном образовании” от 22.08.1996 N 125-ФЗ Luật Liên bang về giáo dục đại học và nghề nghiệp sau đại học. Luật số 125-PZ ngày 22/8/1996, hiện đã hết hiệu lực và thay thế bởi Luật Liên bang về Giáo dục ở Liên bang Nga.

[5]. Федеральный закон “Об образовании в Российской Федерации” N 273-ФЗ от 29 декабря 2012 года. Luật Liên bang về Giáo dục ở Liên bang Nga. Luật số 273-PZ ngày 29/12/2012, có hiệu lực từ ngày 01/9/2013, đã được sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2015, 2016, 2017.

[6]. Bộ luật liên quan đến các đại học và các trường đại học Vương quốc Na Uy. Xem bản dịch Bộ luật thuộc Đề án xây dựng Luật Giáo dục đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012).

[7]. Luật Giáo dục đại học Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thông qua ngày 29/8/1998, có hiệu lực từ ngày 01/01/1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015. Xem bản dịch của Vũ Thuỳ Trang. Đề án khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục đại học 2012” thuộc Chương trình khoa học giáo dục quốc gia.

[8]. Xem thêm Vũ Thuỳ Trang, Chuyên đề “Kinh nghiệm giáo dục đại học ở Trung Quốc”, Đề án Đề án khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục đại học 2012” thuộc Chương trình khoa học giáo dục quốc gia.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: