Chủ nhật 14/06/2026 17:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phân tầng cơ sở giáo dục đại học và đề xuất sửa đổi Luật Giáo dục đại học năm 2012

Trong quá trình xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2012, đã có những ý kiến khác nhau về việc nên hay không nên quy định phân tầng cơ sở giáo dục đại học. Bài viết dưới đây nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này và có đối chiếu với kinh nghiệm nước ngoài để từ đó đề xuất giải pháp sửa đổi Luật Giáo dục đại học 2012, tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho giáo dục đại học phát triển.


1. Quy định hiện hành và việc thực hiện phân tầng cơ sở giáo dục đại học

Các quy định phân tầng, xếp hạng cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) được quy định tại Điều 9 Luật Giáo dục đại học năm 2012 (sau đây gọi là Luật Giáo dục đại học), theo đó, cơ sở GDĐH được phân tầng nhằm ba mục đích: (i) Phục vụ công tác quy hoạch mạng lưới cơ sở GDĐH phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; (ii) Xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển, nâng cao năng lực đào tạo và nghiên cứu khoa học của cơ sở GDĐH; (iii) Thực hiện quản lý nhà nước.

Cơ sở GDĐH được phân tầng theo 05 tiêu chí, đó là: (i) Vị trí, vai trò trong hệ thống GDĐH; (ii) Quy mô, ngành nghề và các trình độ đào tạo; (iii) Cơ cấu các hoạt động đào tạo và khoa học công nghệ; (iv) Chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học; (v) Kết quả kiểm định chất lượng GDĐH.

Dựa vào các tiêu chí này, các cơ sở GDĐH được phân tầng thành ba loại gồm: (i) Cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu; (ii) Cơ sở GDĐH định hướng ứng dụng; (iii) Cơ sở GDĐH định hướng thực hành. Luật cũng quy định rõ ở mỗi tầng có xếp hạng các cơ sở GDĐH để ưu tiên đầu tư từ ngân sách nhà nước cho GDĐH.

Trên cơ sở thẩm quyền theo Luật Giáo dục đại học, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 73/2015/NĐ-CP ngày 08/9/2015 quy định tiêu chuẩn phân tầng, khung xếp hạng và tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học để làm cơ sở xác định các cơ sở GDĐH đạt chuẩn của từng tầng. Tuy nhiên, sau 05 năm kể từ khi Luật Giáo dục đại học có hiệu lực, trên thực tế, quy định về phân tầng đến nay vẫn chưa được triển khai một cách hiệu quả, chưa hình thành các tầng cơ sở GDĐH, chưa có cơ sở GDĐH đạt chuẩn trường định hướng nghiên cứu theo quy định, trong khi phần lớn các trường đều xác định sứ mệnh của mình là trường định hướng nghiên cứu. Thực trạng này xuất phát từ các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, bất cập xuất phát từ thuật ngữ “phân tầng”. Theo Từ điển Tiếng Việt, tầng là “mặt phẳng ngang ngăn chia không gian thành những phần trên dưới khác nhau về độ cao”[1]. Vì thế, cách gọi phân tầng tạo ra quan niệm về tầng trên, tầng dưới nên các cơ sở GDĐH liệu có trường nào muốn ở tầng thấp? Mặc dù gọi là phân tầng, nhưng trong Điều 9 Luật Giáo dục đại học lại không chỉ rõ tính cao, thấp mà khoản 4 Điều này lại quy định các cơ sở GDĐH được phân tầng thành cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu, định hướng ứng dụng, định hướng thực hành, có nghĩa giống việc phân loại các trường hơn là phân tầng. Nếu hiểu theo nghĩa tầng cao, thấp thì trường định hướng nghiên cứu sẽ ở tầng cao hơn các tầng khác, điều này dẫn đến hệ quả vô hình chung khuyến khích các trường trở thành trường định hướng nghiên cứu. Bản thân các cơ sở GDĐH đều muốn là trường nghiên cứu (ở tầng trên) để hưởng ưu tiên đầu tư nhiều hơn từ ngân sách nhà nước, mặc dù hiện nay đào tạo theo định hướng ứng dụng có xu hướng gia tăng và gắn liền với nhu cầu xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế, định hướng nào cũng đều cần cho sự phát triển của xã hội, tạo nên thế “kiềng ba chân” của GDĐH.

Thứ hai, tiêu chuẩn của cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu quy định hiện hành quá cao so với mặt bằng chung các cơ sở GDĐH hiện nay ở Việt Nam. Vì vậy, chưa có cơ sở nào đáp ứng các tiêu chuẩn để chính thức được công nhận là trường định hướng nghiên cứu. Những tiêu chí khó đạt nhất là: (i) Quy mô đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ chiếm trên 30% tổng quy mô đào tạo ngành, chuyên ngành định hướng nghiên cứu, trong khi thực tế cho thấy quy mô đào tạo trình độ sau đại học bị giới hạn bởi tỷ lệ giáo sư, phó giáo sư và tiến sĩ theo Thông tư số 32/2015/TT-BGDĐT[2] nên quy mô đào tạo trình độ đại học bao gồm hệ chính quy, vừa làm vừa học, từ xa của nhiều trường đang lấn át mạnh, vẫn là nguồn chủ yếu đảm bảo tài chính cho cơ sở, vượt xa con số tối đa cho phép đối với cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu; (ii) Tỷ lệ chi cho hoạt động nghiên cứu khoa học chiếm ít nhất 20% tổng chi cho hoạt động hàng năm của cơ sở GDĐH. Đây là thách thức lớn đối với tất cả các trường khi nghiên cứu chưa đủ sức mang lại nguồn thu để bù đắp phần nào các chi phí phải có cho hoạt động nghiên cứu khoa học; (iii) Tỷ lệ giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ không thấp hơn 30% tổng số giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu; đối với các ngành, chuyên ngành định hướng nghiên cứu phải đảm bảo tỷ lệ không thấp hơn 50%; (iv) Tỷ lệ sinh viên/giảng viên của các chương trình định hướng nghiên cứu không quá 15. Đây là khó khăn khó vượt qua nhất vì tỷ lệ 15 so với tiêu chuẩn là tỷ lệ 25 khiến nguồn thu từ học phí các chương trình định hướng nghiên cứu của các trường sẽ giảm sút nghiêm trọng (giảm 40%), ảnh hưởng đến tình hình tài chính mà ít cơ sở GDĐH dám mạo hiểm. Ngoài ra, các tiêu chí khác theo quy định hiện hành cũng không dễ dàng đối với nhiều cơ sở GDĐH.

Thứ ba, chưa xác định tổ chức phân tầng, xếp hạng cơ sở GDĐH. Theo Nghị định số 73/2015/NĐ-CP ngày 08/9/2015 của Chính phủ quy định tiêu chuẩn phân tầng, khung xếp hạng và tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học, các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ thực hiện phân tầng, xếp hạng. Tuy nhiên, đến nay, quy định này chưa được hiện thực hoá.

Thứ tư, theo quy định hiện hành, loại cơ sở GDĐH định hướng thực hành có mục đích áp dụng cho các trường cao đẳng, nhưng hiện nay, các trường loại này đã chuyển sang giáo dục nghề nghiệp, hoạt động theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, không còn thuộc đối tượng áp dụng của Luật Giáo dục đại học.

Vì các lý do trên, các quy định hiện hành về phân tầng chưa đi vào cuộc sống, chưa đạt được mục tiêu và những kỳ vọng đặt ra khi xây dựng Luật Giáo dục đại học năm 2012. Bởi vậy, nhu cầu hoàn thiện các quy định về phân tầng cơ sở GDĐH trong Luật Giáo dục đại học năm 2012 là rất cấp thiết nhằm tạo cơ sở pháp lý có tính khả thi và phù hợp với thông lệ quốc tế cho việc phân tầng các cơ sở GDĐH (nếu cần).

2. Kinh nghiệm của một số quốc gia về phân tầng cơ sở giáo dục đại học

Qua nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia đại diện điển hình cho các truyền thống pháp luật và các nền giáo dục trên thế giới như: Hoa Kỳ, Úc, Pháp, Đức, Liên bang Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, có thể thấy rằng, các nước không phân tầng trong văn bản luật về GDĐH, nếu có chỉ quy định về phân loại. Ở Đức, GDĐH thuộc thẩm quyền của các bang. Luật Giáo dục đại học của bang Hessen có liệt kê các trường đại học của bang tại Điều 2, gồm đại học tổng hợp, đại học nghệ thuật và các đại học chuyên ngành. Trong đó, trường đại học là trường nghiên cứu, có nhiệm vụ phát triển, nâng cao các ngành khoa học thông qua nghiên cứu và đào tạo các ngành khoa học; đào tạo đội ngũ khoa học và nghệ thuật kế cận[3]. Như vậy, pháp luật của bang Hessen không có phân tầng, mà chỉ có quy định về các loại cơ sở GDĐH. Luật Giáo dục đại học và nghề nghiệp sau đại học của Liên bang Nga[4] có các loại và tên các trường đại học (Điều 9) nhưng Luật này hiện đã hết hiệu lực và trong Luật Giáo dục hiện hành không có quy định về vấn đề này[5]. Bộ luật liên quan đến các đại học và các trường đại học ở Vương quốc Na Uy có quy định tại Điều 2 về phạm vi áp dụng là các đại học, trường đại học chuyên biệt và trường đại học. Việc trường thuộc phân loại nào sẽ do Quốc vương quyết định[6].

Vậy phân tầng trong ngôn ngữ các nước này thể hiện như thế nào? Thuật ngữ được giới khoa học sử dụng chỉ phân tầng chính là “classification” trong tiếng Anh, tiếng Pháp, “классификация” trong tiếng Nga đều mang ý nghĩa “phân loại”. Theo hiểu biết của tác giả, trong Luật Giáo dục đại học của Trung Quốc[7] có xuất hiện thuật ngữ “phân tầng”, khi Điều 26 quy định: “Thành lập trường đại học cần căn cứ theo phân tầng, loại hình, các chuyên ngành khoa học, quy mô, trình độ giảng viên và nghiên cứu viên khoa học để sử dụng tên gọi tương ứng”. Tuy nhiên, từ “phân tầng” trong văn bản này không hẳn là tầng cao thấp. Từ phân tầng ở đây nghĩa là tầng lớp, phân loại, nhưng xét từ này trong ngữ cảnh các từ liên quan như “loại hình”, “các chuyên ngành khoa học”, “quy mô”, thì từ này có nghĩa là phân loại theo loại hình chứ không phải phân tầng cao thấp về mức độ danh tiếng, trình độ đào tạo của các cơ sở đào tạo đại học. Hơn nữa, trong Luật Giáo dục đại học của Trung Quốc cũng không có bất cứ quy định nào về các tầng mà chỉ chia thành các loại trường như trường nghiên cứu - đại học tổng hợp và trường chuyên ngành - thiên về đào tạo ứng dụng và các trường khác, ví dụ trường hàm thụ, trường đào tạo qua phát thanh, truyền hình (từ xa)... Ở Trung Quốc, Chính phủ chú trọng đến việc tạo ra các trường đại học chất lượng cao bằng các dự án khác nhau. Ngay từ năm 1995, dự án xây dựng 100 trường đại học đẳng cấp quốc tế với các ngành học then chốt trong thế kỷ XXI đã được triển khai với tên gọi “Dự án 211”. Mục tiêu của dự án là xây dựng nhóm 100 các trường đại học được tài trợ đặc biệt để nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu, quản lý và hiệu quả, với hy vọng là từ nhóm các trường đại học này xây dựng các tiêu chuẩn về chất lượng các trường đại học. Chính phủ đầu tư mạnh cho Dự án 211, Kế hoạch 05 năm lần thứ 10 đã tăng đầu tư cho dự án 211 với nguồn kinh phí tổng thể là 18,4 tỷ NDT (tương đương 1,66 tỷ euro)[8]. Dự án 985 được triển khai từ năm 1998 nhằm mục đích phát triển từ 10 đến 12 trường đại học đạt đẳng cấp thế giới, có khả năng cạnh tranh với các tổ chức giáo dục đại học đứng đầu thế giới cộng với một số tổ chức nghiên cứu cao cấp nổi tiếng thế giới. Đại học Bắc Kinh và Đại học Thanh Hoa được ưu tiên đầu tiên cùng với 39 trường đại học khác. Các trường này được hưởng nguồn kinh phí hỗ trợ đặc biệt cùng với nguồn tài trợ thường xuyên để tạo thành một nhóm các trường đẳng cấp cao ở Trung Quốc. Trong năm 2017, Trung Quốc lại có bước tiến mới trong việc xây dựng các trường đẳng cấp cao. Ngày 21/8/2017, Thông tư số 2 năm 2017 của Bộ Giáo dục, Bộ Tài chính, Ủy ban cải cách quốc gia Trung Quốc được ban hành, công bố danh sách các trường đại học song nhất (hai hàng đầu) được đầu tư để trở thành những trường hàng đầu thế giới và có những chuyên ngành đào tạo hàng đầu thế giới. Theo đó, có 42 trường ưu tú lọt vào danh sách này, bao gồm các trường từ Dự án 985 và một số trường từ Dự án 211. Như vậy, ở Trung Quốc có các trường thuộc các đẳng cấp khác nhau nhưng không xuất phát từ luật mà xuất phát từ chính sách đầu tư của Nhà nước thông qua các dự án, chương trình để hình thành các trường đẳng cấp cao. Năm 2017 mới có Thông tư liên tịch xác định danh mục 42 trường ưu tú sau cả quá trình dài đầu tư và sàng lọc (từ năm 1995).

3. Sửa đổi Luật Giáo dục đại học năm 2012 về phân tầng cơ sở giáo dục đại học như thế nào?

Ở một số quốc gia, thuật ngữ “phân tầng” có ý nghĩa là phân loại. “Phân tầng” mang nhiều tính hàn lâm, thường chỉ “tầng tinh hoa” và “tầng đại chúng” của các cơ sở GDĐH, phù hợp với các công trình khoa học hơn là quy định trong các văn bản pháp luật. Trung Quốc là quốc gia có sự phân tầng rõ rệt, tầng tinh hoa cao nhất gồm những trường xuất sắc nhất hình thành trên cơ sở chính sách đầu tư của Nhà nước mà không cần quy định cụ thể trong luật. Vấn đề phân tầng đã từng gây tranh luận khi xây dựng Luật Giáo dục đại học năm 2012 và cuộc tranh luận vẫn chưa kết thúc cho đến tận bây giờ. Các trường tốp trên muốn giữ phân tầng để khẳng định đẳng cấp của mình và tiếp tục được Nhà nước đầu tư, các trường tốp dưới lại không muốn phân tầng vì tạo ra sự khác biệt. Những ý kiến trái chiều vẫn đang tiếp tục tác động đến quá trình dự thảo Luật Giáo dục đại học sửa đổi. Theo chúng tôi, liên quan đến vấn đề này có 03 nội dung cần chú ý:

Thứ nhất, cần phân biệt xây dựng văn bản luật về giáo dục đại học với xây dựng chính sách đầu tư cho giáo dục đại học. Việc hình thành các trường đẳng cấp quốc tế, các trường hàng đầu là rất cần thiết, nhưng có nhất thiết phải quy định trong luật hay không? Ví dụ của Trung Quốc cho thấy, họ thành công trong việc xây dựng các trường đẳng cấp quốc tế từ chính sách đầu tư của Nhà nước thông qua các dự án; văn bản ghi nhận các trường ưu tú để tiếp tục đầu tư cũng chỉ là Thông tư liên tịch.

Thứ hai, nếu không quy định về phân tầng thì ảnh hưởng thế nào đến việc phát triển GDĐH ở nước ta? Thực tế cho thấy, không có quy định về phân tầng, thì các mục đích theo Luật Giáo dục đại học hiện hành vẫn đạt được, đó là: (i) Quy hoạch mạng lưới vẫn thực hiện được vì trong Luật đã có Điều 11 về quy hoạch mạng lưới cơ sở GDĐH với các tiêu chí rõ ràng (trong đó không có tiêu chí về phân tầng). (ii) Kế hoạch đầu tư vẫn xây dựng và triển khai vì trong Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học trình Quốc hội xem xét ở kỳ hợp thứ 5 Quốc hội khoá XIV đã bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 12 như sau: “Nhà nước có chính sách về đất đai, thuế, tín dụng và các chính sách khác để phát triển giáo dục đại học; ưu tiên đầu tư ngân sách để phát triển một số cơ sở giáo dục đại học, ngành đào tạo mang tầm khu vực, quốc tế và cơ sở đào tạo giáo viên chất lượng cao; phát triển một số ngành, vùng đặc thù để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Nhà nước có cơ chế phân bổ nguồn lực cho giáo dục đại học theo nguyên tắc cạnh tranh, bình đẳng, hiệu quả”. Với quy định này, nếu muốn phát triển các trường đẳng cấp quốc tế thì ngân sách nhà nước vẫn đầu tư nhưng thông qua đề án, dự án, chương trình, trong đó, ưu tiên các ngành đào tạo mang tầm khu vực và quốc tế, đào tạo giáo viên chất lượng cao. Điều đó có nghĩa là, các cơ sở GDĐH mạnh, đủ điều kiện để phát triển thành các trường “tinh hoa” hàng đầu vẫn có cơ sở pháp lý để Nhà nước đầu tư phát triển. (iii) Việc quản lý nhà nước vẫn được thực hiện đối với các cơ sở GDĐH một cánh hiệu quả, không phụ thuộc vào việc có được phân tầng hay không.

Thứ ba, Luật Giáo dục đại học nên quy định theo thông lệ quốc tế để dễ dàng hội nhập. Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI để đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, nhằm tăng cường hội nhập quốc tế trong lĩnh vực giáo dục để phát triển đất nước, quan điểm nhất quán khi thực hiện sửa đổi, bổ sung Luật lần này là phải phù hợp với thông lệ quốc tế để GDĐH Việt Nam sớm bắt kịp với các cơ sở GDĐH tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.

Từ những lập luận trên, tác giả đề xuất hai phương án:

Phương án thứ nhất: Tách Điều 9 thành 2 điều riêng biệt. Điều 9 về các loại cơ sở GDĐH, Điều 9a về xếp hạng, vì hiện nay đây là 2 vấn đề độc lập, không còn có điểm chung như Luật hiện hành (về tiêu chí, cơ quan có thẩm quyền)... Điều 9 có thể được quy định như sau:

“Điều 9. Các loại cơ sở giáo dục đại học

1. Các cơ sở giáo dục đại học bao gồm: (i) Cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu; (ii) Cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng.

2. Cơ sở giáo dục đại học tự xác định sứ mạng, mục tiêu phát triển theo định hướng nghiên cứu hoặc định hướng ứng dụng phù hợp với điều kiện của cơ sở giáo dục đại học và nhu cầu của xã hội”.

Tuy nhiên, phương án này có hạn chế là phải bổ sung một điều, trong khi đó, việc xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học bị giới hạn bởi số điều được sửa đổi, bổ sung. Ban soạn thảo phải cân nhắc từng điều cần sửa đổi hay bổ sung để đưa vào Dự thảo cho thuyết phục, vì thế việc bổ sung thêm 01 điều là hết sức khó khăn.

Phương án thứ hai: Đưa những nội dung về các loại cơ sở GDĐH theo sứ mệnh vào Điều 7 và có thể được quy định như sau::

“Điều 7. Cơ sở giáo dục đại học

3. Các cơ sở giáo dục đại học hoạt động theo các định hướng sau: (i) Cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu; (ii) Cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng. Cơ sở giáo dục đại học tự xác định sứ mạng, mục tiêu phát triển theo định hướng nghiên cứu hoặc định hướng ứng dụng phù hợp với điều kiện của cơ sở giáo dục đại học và nhu cầu xã hội. Chính phủ quy định tiêu chí công nhận cơ sở giáo dục đại học theo định hướng nghiên cứu trên cơ sở kết quả đào tạo, nghiên cứu”.

Phương án này khắc phục được hạn chế của phương án thứ nhất (không phát sinh điều luật bổ sung), đồng thời hợp logic, vì Điều 7 quy định về hệ thống các cơ sở GDĐH nên các loại trường theo định hướng khác nhau được quy định ở Điều này là phù hợp. Đồng thời quy định về tiêu chí công nhận trường theo định hướng nghiên cứu cũng được tối giản theo thông lệ quốc tế (theo kết quả đào tạo, nghiên cứu), có tính khả thi cao, giúp các trường có thể dễ dàng hơn khi phấn đấu trở thành trường định hướng nghiên cứu.

Theo tác giả, phương án thứ hai là phù hợp trong bối cảnh hiện tại và nếu được Quốc hội xem xét thông qua sẽ tạo cơ sở pháp lý phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam và thông lệ quốc tế trong việc xác định định hướng các cơ sở GDĐH có sự quản lý của Nhà nước. Công việc tiếp theo sẽ là trên cơ sở Điều 7, Điều 11, đặc biệt Điều 12 của Luật này, Chính phủ xây dựng chiến lược, kế hoạch, dự án, chương trình nhằm triển khai việc hình thành nhóm các trường và các ngành đào tạo mang tầm khu vực và quốc tế.

PGS.TS. Vũ Thị Lan Anh

Đại học Luật Hà Nội





[1]. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê (Chủ biên), Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, Hà Nội ngày 16/12/2015 - Đà Nẵng, 1997, tr. 868.

[2]. Thông tư số 32/2015/TT-BGDĐT ngày 16/12/2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh đối với các cơ sở giáo dục đại học. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/02/2016.

[3]. Luật Giáo dục đại học Bang Hessen được ban hành năm 1998, đã sửa đổi, bổ sung vào các năm 1999, 2000. Xem bản dịch thuộc Đề án xây dựng Luật Giáo dục đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012).

[4]. Федеральный закон “О высшем и послевузовском профессиональном образовании” от 22.08.1996 N 125-ФЗ Luật Liên bang về giáo dục đại học và nghề nghiệp sau đại học. Luật số 125-PZ ngày 22/8/1996, hiện đã hết hiệu lực và thay thế bởi Luật Liên bang về Giáo dục ở Liên bang Nga.

[5]. Федеральный закон “Об образовании в Российской Федерации” N 273-ФЗ от 29 декабря 2012 года. Luật Liên bang về Giáo dục ở Liên bang Nga. Luật số 273-PZ ngày 29/12/2012, có hiệu lực từ ngày 01/9/2013, đã được sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2015, 2016, 2017.

[6]. Bộ luật liên quan đến các đại học và các trường đại học Vương quốc Na Uy. Xem bản dịch Bộ luật thuộc Đề án xây dựng Luật Giáo dục đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012).

[7]. Luật Giáo dục đại học Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thông qua ngày 29/8/1998, có hiệu lực từ ngày 01/01/1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015. Xem bản dịch của Vũ Thuỳ Trang. Đề án khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục đại học 2012” thuộc Chương trình khoa học giáo dục quốc gia.

[8]. Xem thêm Vũ Thuỳ Trang, Chuyên đề “Kinh nghiệm giáo dục đại học ở Trung Quốc”, Đề án Đề án khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục đại học 2012” thuộc Chương trình khoa học giáo dục quốc gia.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: