Thứ năm 01/10/2026 05:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính dưới góc độ bảo đảm quyền con người

Bài viết phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính trên cơ sở đối chiếu, so sánh với các văn bản pháp luật quốc tế về quyền con người. Trên cơ sở đó, đánh giá các kết quả đạt được của Nhà nước ta trong thực hiện và bảo đảm các cam kết quốc tế về quyền con người.

Tóm tắt: Bài viết phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính trên cơ sở đối chiếu, so sánh với các văn bản pháp luật quốc tế về quyền con người. Trên cơ sở đó, đánh giá các kết quả đạt được của Nhà nước ta trong thực hiện và bảo đảm các cam kết quốc tế về quyền con người.

Abstract: The article analyzes the current legal provisions on the application of administrative handling measures on the basis of collation, comparison with international legal documents on human rights. On that basis, it evaluates the results achieved by our State in implementing and ensuring international commitments on human rights.

1. Nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý hành chính
Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Xử lý vi phạm hành chính) quy định: Biện pháp xử lý hành chính là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân là công dân Việt Nam vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Nguyên tắc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính được hiểu là hệ thống các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và xuyên suốt quá trình áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Khoản 2 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định 04 nguyên tắc khi áp dụng các biện pháp xử lý hành chính là: (i) Cá nhân chỉ bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nếu thuộc một trong các đối tượng được quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính; (ii) Việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật; (iii) Việc quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân người vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng; (iv) Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính.
Bên cạnh mục tiêu bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính, các nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý hành chính nêu trên đã bảo đảm được mục tiêu của Nhà nước trong bảo đảm quyền con người, quyền công dân, thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, các biện pháp xử lý hành chính đều là các biện pháp tác động trực tiếp đến quyền tự do, quyền con người và quyền công dân của đối tượng bị áp dụng. Vì vậy, nguyên tắc cá nhân chỉ bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nếu thuộc một trong các đối tượng được quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính đã tránh được sự tùy tiện và lạm quyền của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền khi áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.
Thứ hai, nguyên tắc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đòi hỏi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục luật định bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và đúng quy định của pháp luật. Khi quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính cần căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân người vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng. Điều này, bảo đảm được quyền bình đẳng trước pháp luật và không phân biệt đối xử của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (UDHR) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR).
Thứ ba, quy định nguyên tắc trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính thuộc về người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã khẳng định trách nhiệm của người có thẩm quyền trong việc thu thập hồ sơ, chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm. Việc thực hiện nguyên tắc này cũng chính là bảo đảm sự khách quan, công bằng, đúng pháp luật của việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, tránh được những sai sót và sự áp đặt ý chí chủ quan của người có thẩm quyền trong xử lý vi phạm hành chính. Đồng thời, Luật Xử lý vi phạm hành chính cũng quy định cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính. Qua đó, quyền của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cũng được bảo đảm và không bị xâm phạm.
2. Đối tượng áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
2.1. Đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được quy định cụ thể tại Điều 90 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Theo đó, biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được áp dụng đối với 06 nhóm đối tượng, trong đó, chủ yếu được áp dụng đối với nhóm đối tượng là người chưa thành niên vi phạm hành chính với lỗi cố ý, bao gồm: Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản, đánh bạc, lừa đảo, đua xe trái phép…
2.2. Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
Đưa vào trường giáo dưỡng là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính nhằm mục đích giúp họ học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường. Đây là biện pháp cách ly người chưa thành niên khỏi môi trường gia đình và xã hội. Do đó, đối tượng bị áp dụng biện pháp này cũng hạn chế hơn so với biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, bao gồm:
- Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự.
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự, trừ những tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật Hình sự.
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 90 Luật Xử lý vi phạm hành chính và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 4 Điều 90 Luật Xử lý vi phạm hành chính nhưng không phải là tội phạm và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Để phù hợp với nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính và chính sách nhân đạo của Nhà nước, Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định 03 trường hợp không áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đó là: Người không có năng lực trách nhiệm hành chính; người đang mang thai, có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên; phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.
2.3. Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc
Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính để lao động, học văn hóa, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở giáo dục bắt buộc.
Khoản 1 Điều 94 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc gồm:
- Người từ đủ 18 tuổi trở lên đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi quy định tại khoản 6 Điều 90 Luật Xử lý vi phạm hành chính nhưng không phải là tội phạm và không có nơi cư trú ổn định;
- Người từ đủ 18 tuổi trở lên thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 6 Điều 90 Luật Xử lý vi phạm hành chính nhưng không phải là tội phạm và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
2.4. Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên thuộc các trường hợp: (i) Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện; (ii) Trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy; (iii) Người nghiện ma túy các chất dạng thuốc phiện không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế hoặc bị chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế do vi phạm quy định về điều trị nghiện; (iv) Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện (Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021).
Có thể thấy rằng, quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính hiện hành về đối tượng áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đã bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch. Nhìn từ khía cạnh bảo đảm quyền con người, có thể thấy, việc quy định đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính là kết quả của quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật của Nhà nước ta về cơ chế bảo đảm quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là những quy định đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính. Có thể kể đến một số kết quả sau:
Thứ nhất, Luật Xử lý vi phạm hành chính đã quy định cụ thể các nhóm đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, các đối tượng không được áp dụng biện pháp xử lý hành chính làm căn cứ để người có thẩm quyền quyết định áp dụng từng biện pháp xử lý hành chính trong từng trường hợp cụ thể, những quy định này đã tạo ra sự công khai, minh bạch và tránh sự tùy tiện, lạm quyền của cơ quan nhà nước, người thi hành công vụ.
Thứ hai, pháp luật về áp dụng biện pháp xử lý hành chính (từ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 đến Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2020) đã thu hẹp dần các trường hợp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với đối tượng là người từ đủ 12 tuổi. Những thay đổi trong chính sách áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi là sự tiến bộ của pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong việc bảo đảm quyền của trẻ em vì độ tuổi từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi là độ tuổi còn quá nhỏ để có thể nhận thức và chịu trách nhiệm về hành vi mà mình gây ra. Trong đa số trường hợp các em ở độ tuổi từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi vi phạm hành chính là các em có hoàn cảnh gia đình đặc biệt, thiếu sự quan tâm, chăm sóc, dạy dỗ của cha mẹ, là nạn nhân của bạo lực gia đình hoặc điều kiện kinh tế, xã hội quá khó khăn… Vì vậy, việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng hoặc người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy là chưa thực sự cần thiết.
3. Thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Như vậy, trong 04 biện pháp xử lý hành chính, chỉ có biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn - biện pháp xử lý hành chính duy nhất mà đối tượng bị áp dụng không bị cách ly khỏi cộng đồng, thẩm quyền quyết định áp dụng được trao cho người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã), 03 biện pháp còn lại (đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc) là những biện pháp hạn chế trực tiếp quyền tự do của đối tượng bị áp dụng, thẩm quyền được trao cho Tòa án nhân dân cấp huyện. Nội dung này được quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, bởi vì việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án sẽ tạo điều kiện cho đương sự, luật sư, người bào chữa được tham gia bảo vệ quyền lợi của đương sự cũng như bảo đảm tính khách quan, dân chủ trong giải quyết vụ việc[1].
4. Thủ tục lập hồ sơ, xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
Thủ tục lập hồ sơ, xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính được quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 120/2021/NĐ-CP ngày 24/12/2021 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Nghị định số 140/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc (Nghị định số 140/2021/NĐ-CP); Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Dưới góc độ bảo đảm quyền con người, các quy định của pháp luật về nội dung này có một số điểm tiến bộ sau:
Thứ nhất, các quy định của pháp luật hiện hành đã bảo đảm được sự tham gia của người bị đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên phải có nhận xét của nhà trường, cơ quan, tổ chức nơi người chưa thành niên đang học tập, làm việc (nếu có), ý kiến của cha mẹ, người giám hộ. Cơ quan lập hồ sơ đề nghị phải thông báo cho người bị áp dụng, cha mẹ hoặc người đại diện của họ về việc lập hồ sơ để những người này đọc hồ sơ và ghi chép những nội dung cần thiết. Trên cơ sở xem xét các tài liệu trong hồ sơ, người bị đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính có thể chuẩn bị ý kiến để tự bảo vệ quyền, lợi ích của mình trong cuộc họp tư vấn trong trường hợp bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và trước Tòa án trong trường hợp bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Thứ hai, Luật Xử lý vi phạm hành chính đã quy định rõ quyền khiếu nại, tố cáo và khởi kiện của cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Theo đó, cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, khởi kiện các quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật về khiếu nại và tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật trong áp dụng các biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật về tố cáo[2]. Ngoài ra, cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Những quy định này đã bảo đảm đầy đủ các quyền của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thực thi công vụ.
5. Quy định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi. Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em quy định: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi; trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Ở Việt Nam, khái niệm trẻ em được quy định tại Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016, theo đó, trẻ em là người dưới 16 tuổi.
Trong 04 biện pháp xử lý hành chính, thì có 02 biện pháp được áp dụng đối với người chưa thành niên là biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Trong đó, 05/06 đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là người chưa thành niên và tất cả các đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là người chưa thành niên.
Về mặt khoa học, người chưa thành niên là người chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi còn hạn chế, khả năng chịu trách nhiệm trước pháp luật của họ không thể so sánh với người trưởng thành và vì vậy, hệ thống tư pháp đối với người chưa thành niên cũng phải có những quy định đặc thù.
Về mặt pháp lý, Điều 70 Luật Trẻ em năm 2016 quy định các yêu cầu bảo vệ trẻ em trong quá trình tố tụng, xử lý vi phạm hành chính, phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng như: Bảo đảm trẻ em được đối xử công bằng, bình đẳng, tôn trọng, phù hợp với độ tuổi và mức độ trưởng thành của trẻ em; bảo đảm sự hỗ trợ của cha, mẹ, người giám hộ, người đại diện hợp pháp khác đối với trẻ em trong suốt quá trình tố tụng, xử lý vi phạm hành chính để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em…
Chính sách xử lý đối với người chưa thành niên vi phạm trong pháp luật quốc tế, đặc biệt là các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia và các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành cũng thể hiện rõ các quan điểm bảo đảm quyền con người, quyền của người chưa thành niên, cụ thể là:
- Mọi hoạt động liên quan đến trẻ em, dù được thực hiện bởi cơ quan phúc lợi xã hội của Nhà nước hay tư nhân, bởi Tòa án, các nhà chức trách hành chính hay cơ quan pháp luật thì lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu[3]. Bởi vậy, trong quá trình xem xét xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên. Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng chỉ được áp dụng khi xét thấy không có biện pháp xử lý khác phù hợp hơn[4].
- Mục tiêu xử lý đối với người chưa thành niên phải hướng vào giáo dục hơn là trừng phạt. Theo đó, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã khẳng định nguyên tắc: Việc xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính chỉ được thực hiện trong trường hợp cần thiết nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Trên cơ sở mục tiêu này, Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2020 đã bổ sung các biện pháp thay thế xử lý hành chính đối với người chưa thành niên từ 02 biện pháp lên 03 biện pháp (bao gồm: Nhắc nhở; quản lý tại gia đình; giáo dục dựa vào cộng đồng). Các biện pháp thay thế xử lý hành chính phải được xem xét áp dụng khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật và việc áp dụng xử lý vi phạm hành chính không được coi là đã bị xử lý vi phạm hành chính. Đây được xem là chính sách nhân đạo của Nhà nước trong xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính, nhằm mục đích cho các em có cơ hội sửa chữa sai lầm trong một môi trường bình thường.
- Trong quá trình xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính, bí mật riêng tư của người chưa thành niên phải được tôn trọng và bảo vệ. Điều 40 Công ước quốc tế về quyền trẻ em cũng khẳng định, mọi điều riêng tư của trẻ em phải được hoàn toàn tôn trọng trong mọi giai đoạn tố tụng.
Trên cơ sở quan điểm về chính sách xử lý đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính nêu trên, Nghị định số 140/2021/NĐ-CP đã quy định chế độ quản lý, giáo dục đối với học sinh trong các trường giáo dưỡng. Theo đó, Nghị định này đã quy định cụ thể các chế độ về ăn, ở, trang phục, y tế, vui chơi, giải trí, học tập… của học sinh. Đặc biệt, sau khi hết thời hạn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, Nhà nước còn thực hiện các biện pháp tái hòa nhập cộng đồng cho người bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng như: Thông tin, truyền thông giáo dục nhằm định hướng, khuyến khích, động viên việc giáo dục, giúp đỡ, xóa bỏ sự định kiến, kỳ thị, phân biệt đối xử với người chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, giúp họ ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng. Những quy định này là hoàn toàn phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em.
Nhìn chung, các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đã từng bước được hoàn thiện trên cơ sở các nguyên tắc bảo đảm quyền con người, quyền công dân và dần tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người. Tuy nhiên, để các quy định này đi vào cuộc sống phụ thuộc rất nhiều vào trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình áp dụng pháp luật.

ThS. Nguyễn Thị Tiệp
Trường Cao đẳng Luật miền Bắc



[1]. Điều 9 Công ước quốc tế về quyền trẻ em quy định: “Các quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng trẻ em không bị cách ly cha mẹ trái ý muốn của họ, trừ khi những nhà chức trách có thẩm quyền chịu sự xem xét, quyết định của Tòa án”.
[2]. Điều 15 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
[3]. Điều 3 Công ước quốc tế về quyền trẻ em.
[4]. Khoản 1 Điều 134 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: