Thứ tư 20/05/2026 10:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính dưới góc độ bảo đảm quyền con người

Bài viết phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính trên cơ sở đối chiếu, so sánh với các văn bản pháp luật quốc tế về quyền con người. Trên cơ sở đó, đánh giá các kết quả đạt được của Nhà nước ta trong thực hiện và bảo đảm các cam kết quốc tế về quyền con người.

Tóm tắt: Bài viết phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính trên cơ sở đối chiếu, so sánh với các văn bản pháp luật quốc tế về quyền con người. Trên cơ sở đó, đánh giá các kết quả đạt được của Nhà nước ta trong thực hiện và bảo đảm các cam kết quốc tế về quyền con người.

Abstract: The article analyzes the current legal provisions on the application of administrative handling measures on the basis of collation, comparison with international legal documents on human rights. On that basis, it evaluates the results achieved by our State in implementing and ensuring international commitments on human rights.

1. Nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý hành chính
Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Xử lý vi phạm hành chính) quy định: Biện pháp xử lý hành chính là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân là công dân Việt Nam vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Nguyên tắc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính được hiểu là hệ thống các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và xuyên suốt quá trình áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Khoản 2 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định 04 nguyên tắc khi áp dụng các biện pháp xử lý hành chính là: (i) Cá nhân chỉ bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nếu thuộc một trong các đối tượng được quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính; (ii) Việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật; (iii) Việc quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân người vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng; (iv) Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính.
Bên cạnh mục tiêu bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính, các nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý hành chính nêu trên đã bảo đảm được mục tiêu của Nhà nước trong bảo đảm quyền con người, quyền công dân, thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, các biện pháp xử lý hành chính đều là các biện pháp tác động trực tiếp đến quyền tự do, quyền con người và quyền công dân của đối tượng bị áp dụng. Vì vậy, nguyên tắc cá nhân chỉ bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nếu thuộc một trong các đối tượng được quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính đã tránh được sự tùy tiện và lạm quyền của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền khi áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.
Thứ hai, nguyên tắc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đòi hỏi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục luật định bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và đúng quy định của pháp luật. Khi quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính cần căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân người vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng. Điều này, bảo đảm được quyền bình đẳng trước pháp luật và không phân biệt đối xử của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (UDHR) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR).
Thứ ba, quy định nguyên tắc trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính thuộc về người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã khẳng định trách nhiệm của người có thẩm quyền trong việc thu thập hồ sơ, chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm. Việc thực hiện nguyên tắc này cũng chính là bảo đảm sự khách quan, công bằng, đúng pháp luật của việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, tránh được những sai sót và sự áp đặt ý chí chủ quan của người có thẩm quyền trong xử lý vi phạm hành chính. Đồng thời, Luật Xử lý vi phạm hành chính cũng quy định cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính. Qua đó, quyền của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cũng được bảo đảm và không bị xâm phạm.
2. Đối tượng áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
2.1. Đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được quy định cụ thể tại Điều 90 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Theo đó, biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được áp dụng đối với 06 nhóm đối tượng, trong đó, chủ yếu được áp dụng đối với nhóm đối tượng là người chưa thành niên vi phạm hành chính với lỗi cố ý, bao gồm: Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản, đánh bạc, lừa đảo, đua xe trái phép…
2.2. Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
Đưa vào trường giáo dưỡng là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính nhằm mục đích giúp họ học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường. Đây là biện pháp cách ly người chưa thành niên khỏi môi trường gia đình và xã hội. Do đó, đối tượng bị áp dụng biện pháp này cũng hạn chế hơn so với biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, bao gồm:
- Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự.
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự, trừ những tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật Hình sự.
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 90 Luật Xử lý vi phạm hành chính và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 4 Điều 90 Luật Xử lý vi phạm hành chính nhưng không phải là tội phạm và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Để phù hợp với nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính và chính sách nhân đạo của Nhà nước, Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định 03 trường hợp không áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đó là: Người không có năng lực trách nhiệm hành chính; người đang mang thai, có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên; phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.
2.3. Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc
Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính để lao động, học văn hóa, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở giáo dục bắt buộc.
Khoản 1 Điều 94 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc gồm:
- Người từ đủ 18 tuổi trở lên đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi quy định tại khoản 6 Điều 90 Luật Xử lý vi phạm hành chính nhưng không phải là tội phạm và không có nơi cư trú ổn định;
- Người từ đủ 18 tuổi trở lên thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 6 Điều 90 Luật Xử lý vi phạm hành chính nhưng không phải là tội phạm và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
2.4. Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên thuộc các trường hợp: (i) Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện; (ii) Trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy; (iii) Người nghiện ma túy các chất dạng thuốc phiện không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế hoặc bị chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế do vi phạm quy định về điều trị nghiện; (iv) Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện (Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021).
Có thể thấy rằng, quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính hiện hành về đối tượng áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đã bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch. Nhìn từ khía cạnh bảo đảm quyền con người, có thể thấy, việc quy định đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính là kết quả của quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật của Nhà nước ta về cơ chế bảo đảm quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là những quy định đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính. Có thể kể đến một số kết quả sau:
Thứ nhất, Luật Xử lý vi phạm hành chính đã quy định cụ thể các nhóm đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, các đối tượng không được áp dụng biện pháp xử lý hành chính làm căn cứ để người có thẩm quyền quyết định áp dụng từng biện pháp xử lý hành chính trong từng trường hợp cụ thể, những quy định này đã tạo ra sự công khai, minh bạch và tránh sự tùy tiện, lạm quyền của cơ quan nhà nước, người thi hành công vụ.
Thứ hai, pháp luật về áp dụng biện pháp xử lý hành chính (từ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 đến Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2020) đã thu hẹp dần các trường hợp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với đối tượng là người từ đủ 12 tuổi. Những thay đổi trong chính sách áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi là sự tiến bộ của pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong việc bảo đảm quyền của trẻ em vì độ tuổi từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi là độ tuổi còn quá nhỏ để có thể nhận thức và chịu trách nhiệm về hành vi mà mình gây ra. Trong đa số trường hợp các em ở độ tuổi từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi vi phạm hành chính là các em có hoàn cảnh gia đình đặc biệt, thiếu sự quan tâm, chăm sóc, dạy dỗ của cha mẹ, là nạn nhân của bạo lực gia đình hoặc điều kiện kinh tế, xã hội quá khó khăn… Vì vậy, việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng hoặc người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy là chưa thực sự cần thiết.
3. Thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Như vậy, trong 04 biện pháp xử lý hành chính, chỉ có biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn - biện pháp xử lý hành chính duy nhất mà đối tượng bị áp dụng không bị cách ly khỏi cộng đồng, thẩm quyền quyết định áp dụng được trao cho người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã), 03 biện pháp còn lại (đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc) là những biện pháp hạn chế trực tiếp quyền tự do của đối tượng bị áp dụng, thẩm quyền được trao cho Tòa án nhân dân cấp huyện. Nội dung này được quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, bởi vì việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án sẽ tạo điều kiện cho đương sự, luật sư, người bào chữa được tham gia bảo vệ quyền lợi của đương sự cũng như bảo đảm tính khách quan, dân chủ trong giải quyết vụ việc[1].
4. Thủ tục lập hồ sơ, xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
Thủ tục lập hồ sơ, xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính được quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 120/2021/NĐ-CP ngày 24/12/2021 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Nghị định số 140/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc (Nghị định số 140/2021/NĐ-CP); Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Dưới góc độ bảo đảm quyền con người, các quy định của pháp luật về nội dung này có một số điểm tiến bộ sau:
Thứ nhất, các quy định của pháp luật hiện hành đã bảo đảm được sự tham gia của người bị đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên phải có nhận xét của nhà trường, cơ quan, tổ chức nơi người chưa thành niên đang học tập, làm việc (nếu có), ý kiến của cha mẹ, người giám hộ. Cơ quan lập hồ sơ đề nghị phải thông báo cho người bị áp dụng, cha mẹ hoặc người đại diện của họ về việc lập hồ sơ để những người này đọc hồ sơ và ghi chép những nội dung cần thiết. Trên cơ sở xem xét các tài liệu trong hồ sơ, người bị đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính có thể chuẩn bị ý kiến để tự bảo vệ quyền, lợi ích của mình trong cuộc họp tư vấn trong trường hợp bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và trước Tòa án trong trường hợp bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Thứ hai, Luật Xử lý vi phạm hành chính đã quy định rõ quyền khiếu nại, tố cáo và khởi kiện của cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Theo đó, cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, khởi kiện các quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật về khiếu nại và tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật trong áp dụng các biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật về tố cáo[2]. Ngoài ra, cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Những quy định này đã bảo đảm đầy đủ các quyền của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thực thi công vụ.
5. Quy định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi. Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em quy định: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi; trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Ở Việt Nam, khái niệm trẻ em được quy định tại Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016, theo đó, trẻ em là người dưới 16 tuổi.
Trong 04 biện pháp xử lý hành chính, thì có 02 biện pháp được áp dụng đối với người chưa thành niên là biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Trong đó, 05/06 đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là người chưa thành niên và tất cả các đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là người chưa thành niên.
Về mặt khoa học, người chưa thành niên là người chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi còn hạn chế, khả năng chịu trách nhiệm trước pháp luật của họ không thể so sánh với người trưởng thành và vì vậy, hệ thống tư pháp đối với người chưa thành niên cũng phải có những quy định đặc thù.
Về mặt pháp lý, Điều 70 Luật Trẻ em năm 2016 quy định các yêu cầu bảo vệ trẻ em trong quá trình tố tụng, xử lý vi phạm hành chính, phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng như: Bảo đảm trẻ em được đối xử công bằng, bình đẳng, tôn trọng, phù hợp với độ tuổi và mức độ trưởng thành của trẻ em; bảo đảm sự hỗ trợ của cha, mẹ, người giám hộ, người đại diện hợp pháp khác đối với trẻ em trong suốt quá trình tố tụng, xử lý vi phạm hành chính để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em…
Chính sách xử lý đối với người chưa thành niên vi phạm trong pháp luật quốc tế, đặc biệt là các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia và các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành cũng thể hiện rõ các quan điểm bảo đảm quyền con người, quyền của người chưa thành niên, cụ thể là:
- Mọi hoạt động liên quan đến trẻ em, dù được thực hiện bởi cơ quan phúc lợi xã hội của Nhà nước hay tư nhân, bởi Tòa án, các nhà chức trách hành chính hay cơ quan pháp luật thì lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu[3]. Bởi vậy, trong quá trình xem xét xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên. Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng chỉ được áp dụng khi xét thấy không có biện pháp xử lý khác phù hợp hơn[4].
- Mục tiêu xử lý đối với người chưa thành niên phải hướng vào giáo dục hơn là trừng phạt. Theo đó, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã khẳng định nguyên tắc: Việc xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính chỉ được thực hiện trong trường hợp cần thiết nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Trên cơ sở mục tiêu này, Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2020 đã bổ sung các biện pháp thay thế xử lý hành chính đối với người chưa thành niên từ 02 biện pháp lên 03 biện pháp (bao gồm: Nhắc nhở; quản lý tại gia đình; giáo dục dựa vào cộng đồng). Các biện pháp thay thế xử lý hành chính phải được xem xét áp dụng khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật và việc áp dụng xử lý vi phạm hành chính không được coi là đã bị xử lý vi phạm hành chính. Đây được xem là chính sách nhân đạo của Nhà nước trong xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính, nhằm mục đích cho các em có cơ hội sửa chữa sai lầm trong một môi trường bình thường.
- Trong quá trình xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính, bí mật riêng tư của người chưa thành niên phải được tôn trọng và bảo vệ. Điều 40 Công ước quốc tế về quyền trẻ em cũng khẳng định, mọi điều riêng tư của trẻ em phải được hoàn toàn tôn trọng trong mọi giai đoạn tố tụng.
Trên cơ sở quan điểm về chính sách xử lý đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính nêu trên, Nghị định số 140/2021/NĐ-CP đã quy định chế độ quản lý, giáo dục đối với học sinh trong các trường giáo dưỡng. Theo đó, Nghị định này đã quy định cụ thể các chế độ về ăn, ở, trang phục, y tế, vui chơi, giải trí, học tập… của học sinh. Đặc biệt, sau khi hết thời hạn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, Nhà nước còn thực hiện các biện pháp tái hòa nhập cộng đồng cho người bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng như: Thông tin, truyền thông giáo dục nhằm định hướng, khuyến khích, động viên việc giáo dục, giúp đỡ, xóa bỏ sự định kiến, kỳ thị, phân biệt đối xử với người chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, giúp họ ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng. Những quy định này là hoàn toàn phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em.
Nhìn chung, các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đã từng bước được hoàn thiện trên cơ sở các nguyên tắc bảo đảm quyền con người, quyền công dân và dần tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người. Tuy nhiên, để các quy định này đi vào cuộc sống phụ thuộc rất nhiều vào trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình áp dụng pháp luật.

ThS. Nguyễn Thị Tiệp
Trường Cao đẳng Luật miền Bắc



[1]. Điều 9 Công ước quốc tế về quyền trẻ em quy định: “Các quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng trẻ em không bị cách ly cha mẹ trái ý muốn của họ, trừ khi những nhà chức trách có thẩm quyền chịu sự xem xét, quyết định của Tòa án”.
[2]. Điều 15 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
[3]. Điều 3 Công ước quốc tế về quyền trẻ em.
[4]. Khoản 1 Điều 134 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: