Chủ nhật 26/07/2026 06:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về hộ tịch với yêu cầu cải cách hành chính

Tóm tắt: Bài viết nêu những thành tựu về lập pháp của Luật Hộ tịch năm 2014 trên phương diện đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chính, đồng thời, trao đổi về một số vấn đề cần quan tâm để những thành tựu này được phát huy trong đời sống thực tiễn.

Abstract: The paper brings out legislative achievements of the Law on civil status of 2014 from the aspect of meeting the demand of administrative reform, at the same time, discusses some concerned issues with a view to promote these achievements in the practice.

Luật Hộ tịch năm 2014 đã tạo ra nền tảng pháp lý đủ mạnh cho công tác hộ tịch và chấm dứt tình trạng mặc dù quy định về một nội dung quản lý nhà nước, nhưng các văn bản pháp luật lại do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành. Sau khi Luật Hộ tịch được ban hành, Chính phủ đã kịp thời có các văn bản hướng dẫn thực hiện như Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch; Thông tư số 15/2015/TT-BTP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP... Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn được ban hành trên tinh thần cải cách hành chính nhằm tạo ra những thay đổi mạnh mẽ trong công tác hộ tịch nói riêng, trong quản lý hành chính nhà nước nói chung. Theo đó, pháp luật về hộ tịch được quy định theo hướng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch, đồng thời tạo thuận lợi cho nhân dân khi tham gia vào các hoạt động hộ tịch.

Pháp luật về hộ tịch mà cụ thể là Luật Hộ tịch đã thể hiện rõ nét yêu cầu của cải cách hành chính trong quy định về thẩm quyền đăng ký hộ tịch, về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hộ tịch và bảo đảm sự liên thông giữa pháp luật hộ tịch với pháp luật về cư trú, pháp luật về căn cước công dân và các văn bản quy phạm pháp luật khác…, cụ thể:

Về thẩm quyền đăng ký hộ tịch, để bảo đảm thuận lợi cho cá nhân khi đăng ký các sự kiện hộ tịch cơ bản từ trước đến nay, thẩm quyền đăng ký hộ tịch được quy định cho cấp chính quyền gần dân nhất là Ủy ban nhân dân (UBND) xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã). Tuy nhiên, để phù hợp với thực tiễn về tình trạng cư trú của hộ gia đình, của từng cá nhân, Luật Hộ tịch đã có một số thay đổi như xác định thẩm quyền đăng ký khai sinh thuộc UBND cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ mà không ưu tiên nơi cư trú của người mẹ như trước đây. Cũng về xác định thẩm quyền của cơ quan trực tiếp đăng ký việc hộ tịch, Luật quy định UBND thực hiện đăng ký giám hộ, nhận con nuôi có thể là nơi người giám hộ hoặc người được giám hộ cư trú, người nhận con nuôi hoặc người được nhận nuôi cư trú… Quy định của Luật “thể hiện rõ quan điểm đăng ký hộ tịch là đăng ký việc dân sự, cá nhân có liên quan có quyền tự do lựa chọn, quyết định, vừa bảo đảm thuận lợi tối đa cho công dân khi đi đăng ký cũng như khi thực hiện các quyền, nghĩa vụ có liên quan đến hộ tịch sau này”[1], đồng thời, tránh cho UBND cấp xã khỏi những lúng túng trong việc xác định có hay không có thẩm quyền đăng ký hộ tịch trong những tình huống cụ thể.

Trước tình hình gia tăng nhanh chóng các việc hộ tịch có yếu tố nước ngoài, Luật Hộ tịch đã chuyển thẩm quyền đăng ký hộ tịch của Sở Tư pháp thuộc UBND cấp tỉnh về đăng ký khai sinh, khai tử, giám hộ có yếu tố nước ngoài và ghi chú vào sổ hộ tịch các việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã đăng ký trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài; cấp lại bản chính giấy khai sinh cho người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài trước đây đã đăng ký khai sinh tại Việt Nam và thẩm quyền của UBND cấp tỉnh về đăng ký việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài thường trú tại Việt Nam với nhau cho UBND cấp huyện thực hiện, trừ các việc hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới do UBND cấp xã thực hiện. Luật Hộ tịch bổ sung thẩm quyền ghi vào sổ hộ tịch của UBND cấp huyện việc hủy kết hôn, giám hộ và thay đổi hộ tịch, khai tử, là những sự kiện hộ tịch quan trọng chưa được pháp luật quy định trước đó. Có thể thấy, các quy định về thẩm quyền đăng ký hộ tịch của UBND cấp huyện đã thể hiện tinh thần “phân cấp mạnh mẽ việc thực hiện các công việc hộ tịch cho cấp chính quyền địa phương gần dân nhằm giảm bớt phiền hà cho nhân dân khi thực hiện các công việc hộ tịch”[2], theo đúng phương châm của cải cách hành chính trong hoạt động của bộ máy nhà nước, trong việc phục vụ nhân dân.

Một trong những quy định có tính đột phá của Luật Hộ tịch là về ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký, quản lý hộ tịch, cụ thể tại Mục 1 chương V Luật Hộ tịch có quy định về Cơ sở dữ liệu hộ tịch, bao gồm: Sổ hộ tịch và Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử. Theo đó, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử là cơ sở dữ liệu ngành, được lập trên cơ sở tin học hóa công tác đăng ký hộ tịch[3]. Trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin, thì toàn bộ thông tin về các sự kiện hộ tịch của mỗi cá nhân được đăng ký tại cơ quan đăng ký hộ tịch được cập nhật chính xác, đầy đủ từ Sổ hộ tịch vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử. Quy định của Luật Hộ tịch tạo nền tảng pháp lý quan trọng để triển khai mạnh mẽ ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác đăng ký và quản lý hộ tịch theo đúng tinh thần của cải cách hành chính là “ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong quy trình xử lý công việc của từng cơ quan hành chính nhà nước, giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau và trong giao dịch với tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong hoạt động dịch vụ hành chính công, dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công”[4].

Việc xây dựng và vận hành Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo quy định của Luật Hộ tịch và các văn bản có liên quan tạo ra những ưu điểm vượt trội mà cách đăng ký và quản lý dữ liệu hộ tịch thủ công theo cách truyền thống trước đây không có được. Từ trước đến nay, đăng ký và quản lý hộ tịch vẫn dựa vào hệ thống sổ sách, biểu mẫu viết tay hoặc in và được lưu giữ dưới dạng văn bản bằng giấy. “Việc lưu trữ hệ thống sổ hộ tịch giấy tuy có ưu điểm là bảo đảm an ninh thông tin nhưng lại có nhiều hạn chế, như: Cồng kềnh, tốn diện tích; bảo quản khó khăn, dễ rủi ro (do thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, mối mọt); dữ liệu hộ tịch cá nhân bị phân tán, thiếu đồng bộ, không xâu chuỗi, kết nối được với nhau; cơ quan đăng ký hộ tịch không quản lý được đầy đủ các dữ liệu hộ tịch cá nhân; khả năng tra cứu, khai thác phục vụ yêu cầu của người dân rất hạn chế; khi cần chứng minh tình trạng hộ tịch thì người dân phải nộp cùng lúc nhiều loại giấy tờ, gây khó khăn, phiền hà...”[5]. Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử có những ưu điểm vượt trội mà cách thức lưu các thông tin hộ tịch bằng Sổ theo kiểu truyền thống không có được đó là:

Thứ nhất, cho phép kết nối các sự kiện hộ tịch của cá nhân. Hộ tịch là các vấn đề liên quan đến cá nhân trong suốt cuộc đời của họ vì thế các việc hộ tịch không phải lúc nào cũng được đăng ký cùng một thời điểm và ở cùng một cơ quan đăng ký. Các sự kiện hộ tịch mà cá nhân phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền gồm: Khai sinh, kết hôn, nhận cha, mẹ, con, xác định cha, mẹ, con, giám hộ, thay đổi, cải chính hộ tịch, thay đổi quốc tịch, xác định lại giới tính, nuôi con nuôi, ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn, tuyên bố công nhận hoặc hủy tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự… Nếu theo cách thức cũ, các việc hộ tịch phát sinh vào thời điểm nào sẽ được ghi vào sổ ở thời điểm đó và việc ghi sổ được thực hiện tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Mặt khác, pháp luật Việt Nam không quy định về việc ghi sổ và sử dụng sổ hộ tịch của cá nhân vì vậy các thông tin về tình trạng nhân thân của cá nhân là các thông tin rời rạc. Khi ứng dụng công nghệ thông tin, các thông tin về hộ tịch của cá nhân được kết nối và xử lý đồng bộ.

Thứ hai, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử cho phép các thông tin hộ tịch của từng cá nhân sẽ được cung cấp đầy đủ, nhanh chóng và chính xác khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khi cá nhân đó cần sử dụng. Các thông tin về hộ tịch của cá nhân là thông tin “biết nói” về tình trạng của cá nhân đó trong từng giai đoạn của cuộc đời nên việc ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ cho phép kết nối mà còn rất thuận lợi khi đối chiếu, trích xuất dữ liệu phục vụ cho công tác quản lý hay phục vụ cho các nhu cầu chính đáng của cá nhân. Sử dụng thông tin từ Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử không chỉ rút ngắn đáng kể thời gian tìm, xử lý thông tin về hộ tịch mà còn cho phép trích xuất thông tin ở bất kỳ đâu nếu ở đó có kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.

Ứng dụng cộng nghệ thông tin cũng là tiền đề để Luật Hộ tịch quy định cá nhân có thể lựa chọn cách thức đăng ký hộ tịch phù hợp nhất. Luật quy định cá nhân có thể yêu cầu đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch bằng các cách thức là nộp hồ sơ trực tiếp cho cơ quan có thẩm quyền, gửi hồ sơ qua đường bưu chính hoặc đăng ký hộ tịch trực tuyến. Với hình thức đăng ký hộ tịch trực tuyến, cá nhân không cần trực tiếp đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cũng không nhất thiết phải đăng ký trong giờ làm việc hành chính. Việc cấp bản sao trích lục hộ tịch về sự kiện hộ tịch đã đăng ký, bao gồm cả bản sao trích lục hộ tịch từ Cơ sở dữ liệu hộ tịch và bản sao trích lục hộ tịch từ bản chính, Luật quy định: “Cá nhân không phụ thuộc vào nơi cư trú có quyền yêu cầu Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch cấp bản sao trích lục về sự kiện hộ tịch của mình đã được đăng ký” (Điều 63). Tuy nhiên, để thực hiện được đăng ký hộ tịch trực tuyến hay cấp bản sao trích lục về sự kiện hộ tịch đòi hỏi việc quản lý thông tin hộ tịch phải được kết nối liên thông thống nhất trong phạm vi cả nước trên cơ sở ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin.

Cải cách hành chính không chỉ thực hiện đơn lẻ trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước mà phải bảo đảm sự kết nối, phối hợp giữa các hoạt động quản lý với nhau. Một trong những điểm ưu việt của pháp luật về hộ tịch là Luật đã được ban hành đặt trong mối quan hệ với các hoạt động hành chính khác của Nhà nước, biểu hiện rõ rệt nhất là sự liên kết các quy định về hộ tịch với các quy định về căn cước công dân trong Luật Căn cước công dân. Luật Hộ tịch quy định khi đăng ký khai sinh mỗi công dân sẽ được cấp Số định danh cá nhân. Số định danh cá nhân là mã số được cấp khi đăng ký khai sinh (Điều 14). Đây là mã số được dùng để thống nhất xác định thông tin nhân thân của công dân được xác lập từ Cơ sở dữ liệu dân cư và được cấp cho mỗi công dân một lần duy nhất không lặp lại với công dân khác và sử dụng cho đến khi người đó chết. Mã số định danh từ sau ngày 01/01/2016 cũng chính là số Thẻ căn cước công dân, mã số này có thể được tích hợp là mã số thuế, mã bảo hiểm xã hội… Việc ứng dụng công nghệ thông tin liên thông giữa việc quản lý thông tin hộ tịch với quản lý dân cư và các hoạt động quản lý khác đã đưa lại hiệu quả vượt trội cho quản lý nhà nước và làm cho các thông tin hộ tịch là các thông tin có giá trị trong cuộc sống hàng ngày của mỗi cá nhân.

Bên cạnh những mặt tích cực thì những điểm mới trong pháp luật về hộ tịch cũng đặt ra những yêu cầu không nhỏ cho việc triển khai thực hiện trên thực tế. Những khó khăn trong triển khai thực hiện pháp luật về hộ tịch tập trung vào những vấn đề cơ bản như là:

Thứ nhất, việc triển khai đăng ký các sự kiện hộ tịch được quy định cho chính quyền cấp xã và cấp huyện làm gia tăng số lượng các cơ quan có thẩm quyền đăng ký hộ tịch kéo theo việc gia tăng yêu cầu về nhân sự và cơ sở vật chất cho hoạt động này. Số liệu thống kê của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho thấy: Tính đến ngày 30/6/2015, đang có 1.446 công chức được giao làm công tác hộ tịch tại 704 đơn vị hành chính cấp huyện; 16.734 công chức tư pháp - hộ tịch tại 11.227 đơn vị hành chính cấp xã. Tổng hợp trên cả nước cũng còn trên dưới 20% số lượng công chức (cấp xã, cấp huyện) chưa đáp ứng tiêu chuẩn cần có của công chức thực hiện hoạt động tư pháp hộ tịch[6]. Như vậy, đến năm 2020 là thời điểm triển khai đồng bộ các quy định của Luật Hộ tịch trên phạm vi toàn quốc thì việc đào tạo, bồi dưỡng để các công chức thực hiện công tác hộ tịch có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật là khó khăn. Tại các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội chưa phát triển như các tỉnh miền núi phía bắc, các tỉnh khu vực Tây Nguyên, Tây Nam Bộ… cũng là những địa phương có tỉ lệ công chức chưa đạt chuẩn cao nhất thì các khó khăn đặt ra trong việc đào tạo, bồi dưỡng càng cao.

Thứ hai, việc ứng dụng công nghệ thông tin là công việc vừa đòi đầu tư lớn về cơ sở vật chất và yêu cầu cao với người thực hiện. Theo thống kê của Bộ Tư pháp đến tháng 01/2016 (thời điểm triển khai thi hành Luật Hộ tịch), chỉ có 40/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tin học hóa công tác đăng ký hộ tịch và triển khai xây dựng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, có 05 tỉnh, thành phố đang xây dựng và triển khai ứng dụng phần mềm trong đăng ký và quản lý hộ tịch. Có 8 địa phương trang bị phần mềm chuyên dụng về hộ tịch, ứng dụng trên địa bàn toàn tỉnh, kết nối liên thông 3 cấp là Bạc Liêu, Bắc Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Phú Yên, Bà Rịa - Vũng Tàu và TP. Hồ Chí Minh và 10 địa phương đã có phần mềm chuyên dùng về hộ tịch trên toàn tỉnh nhưng chưa kết nối 3 cấp với nhau[7]. Tuy nhiên, đến tháng 01/2016 là thời điểm Luật Hộ tịch có hiệu lực, chỉ có 14/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã trang bị cho 100% công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã máy tính có kết nối Internet phục vụ riêng công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và 11 tỉnh đã trang bị cho trên 55% số công chức tư pháp - hộ tịch máy tính có kết nối Internet phục vụ riêng cho công tác đăng ký, quản lý hộ tịch.

Có thể thấy, để tiến tới xây dựng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc, các công việc chuẩn bị về cơ sở vật chất còn rất nhiều, không chỉ có phương tiện, cơ sở vật chất, mà còn nền tảng công nghệ phần mềm. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin cũng có yêu cầu cao về con người. Các công chức trực tiếp làm công tác đăng ký hộ tịch là người vận hành hệ thống khi nhập các dữ liệu hộ tịch vào hệ thống, nhưng để hệ thống vận hành trơn tru và an toàn, lại cần có các chuyên gia công nghệ thông tin. Như vậy, ngoài đào tạo, bồi dưỡng để có đội ngũ nhân lực đạt chuẩn để làm công tác tư pháp - hộ tịch, còn phải đảm bảo cho đội ngũ này vận hành thành thạo Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử trong đăng ký và quản lý hộ tịch. Mặc dù ứng dụng công nghệ thông tin không là vấn đề mới, nhưng do đăng ký hộ tịch là công việc diễn ra hàng ngày trên khắp cả nước, nên cần có những bước chuẩn bị thích hợp trước khi bắt đầu triển khai. Để có bước chuẩn bị tốt khi triển khai đại trà trên phạm vi toàn quốc, hai Bộ Tư pháp và Bộ Công an đã thống nhất triển khai thí điểm Phân hệ đăng ký khai sinh và cấp số định danh cá nhân từ ngày 01/01/2016 tại 5 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thí điểm cấp số định danh cá nhân cho dữ liệu đăng ký khai sinh mới phát sinh tại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An, đến nay việc thí điểm đã thu được kết quả tốt.

TS. Nguyễn Ngọc Bích

Đại học Luật Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

* Bài viết thuộc Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Quản lý hộ tịch - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Đại học Luật Hà Nội, năm 2017.

[1]. Xem: Nguyễn Ngọc Bích, Thẩm quyền đăng ký hộ tịch theo Luật Hộ tịch và vấn đề thực hiện, Tạp chí Luật học số 8/2016.

[2]. Xem: Nguyễn Ngọc Bích, Thẩm quyền đăng ký hộ tịch theo Luật Hộ tịch và vấn đề thực hiện, Tạp chí Luật học số 8/2016.

[3]. Xem Điều 4 Luật Hộ tịch.

[4]. Xem Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 ban hành kèm theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ.

[5]. Xem Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc có gì đặc biệt, Báo Pháp luật, số ra ngày 28/7/2015.

[6]. Bộ Tư pháp, Báo cáo chuyên đề: Tình hình triển khai thi hành Luật Hộ tịch (Tài liệu phục vụ Hội nghị trực tuyến triển khai thi hành công tác tư pháp năm 2016 và định hướng nhiệm kỳ 2016 - 2020, ngày 08/01/2016).

[7]. Bộ Tư pháp, Báo cáo chuyên đề: Tình hình triển khai thi hành Luật Hộ tịch (Tài liệu phục vụ Hội nghị trực tuyến triển khai thi hành công tác tư pháp năm 2016 và định hướng nhiệm kỳ 2016 - 2020, ngày 08/01/2016).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: