Thứ năm 12/03/2026 06:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về hộ tịch với yêu cầu cải cách hành chính

Tóm tắt: Bài viết nêu những thành tựu về lập pháp của Luật Hộ tịch năm 2014 trên phương diện đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chính, đồng thời, trao đổi về một số vấn đề cần quan tâm để những thành tựu này được phát huy trong đời sống thực tiễn.

Abstract: The paper brings out legislative achievements of the Law on civil status of 2014 from the aspect of meeting the demand of administrative reform, at the same time, discusses some concerned issues with a view to promote these achievements in the practice.

Luật Hộ tịch năm 2014 đã tạo ra nền tảng pháp lý đủ mạnh cho công tác hộ tịch và chấm dứt tình trạng mặc dù quy định về một nội dung quản lý nhà nước, nhưng các văn bản pháp luật lại do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành. Sau khi Luật Hộ tịch được ban hành, Chính phủ đã kịp thời có các văn bản hướng dẫn thực hiện như Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch; Thông tư số 15/2015/TT-BTP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP... Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn được ban hành trên tinh thần cải cách hành chính nhằm tạo ra những thay đổi mạnh mẽ trong công tác hộ tịch nói riêng, trong quản lý hành chính nhà nước nói chung. Theo đó, pháp luật về hộ tịch được quy định theo hướng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch, đồng thời tạo thuận lợi cho nhân dân khi tham gia vào các hoạt động hộ tịch.

Pháp luật về hộ tịch mà cụ thể là Luật Hộ tịch đã thể hiện rõ nét yêu cầu của cải cách hành chính trong quy định về thẩm quyền đăng ký hộ tịch, về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hộ tịch và bảo đảm sự liên thông giữa pháp luật hộ tịch với pháp luật về cư trú, pháp luật về căn cước công dân và các văn bản quy phạm pháp luật khác…, cụ thể:

Về thẩm quyền đăng ký hộ tịch, để bảo đảm thuận lợi cho cá nhân khi đăng ký các sự kiện hộ tịch cơ bản từ trước đến nay, thẩm quyền đăng ký hộ tịch được quy định cho cấp chính quyền gần dân nhất là Ủy ban nhân dân (UBND) xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã). Tuy nhiên, để phù hợp với thực tiễn về tình trạng cư trú của hộ gia đình, của từng cá nhân, Luật Hộ tịch đã có một số thay đổi như xác định thẩm quyền đăng ký khai sinh thuộc UBND cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ mà không ưu tiên nơi cư trú của người mẹ như trước đây. Cũng về xác định thẩm quyền của cơ quan trực tiếp đăng ký việc hộ tịch, Luật quy định UBND thực hiện đăng ký giám hộ, nhận con nuôi có thể là nơi người giám hộ hoặc người được giám hộ cư trú, người nhận con nuôi hoặc người được nhận nuôi cư trú… Quy định của Luật “thể hiện rõ quan điểm đăng ký hộ tịch là đăng ký việc dân sự, cá nhân có liên quan có quyền tự do lựa chọn, quyết định, vừa bảo đảm thuận lợi tối đa cho công dân khi đi đăng ký cũng như khi thực hiện các quyền, nghĩa vụ có liên quan đến hộ tịch sau này”[1], đồng thời, tránh cho UBND cấp xã khỏi những lúng túng trong việc xác định có hay không có thẩm quyền đăng ký hộ tịch trong những tình huống cụ thể.

Trước tình hình gia tăng nhanh chóng các việc hộ tịch có yếu tố nước ngoài, Luật Hộ tịch đã chuyển thẩm quyền đăng ký hộ tịch của Sở Tư pháp thuộc UBND cấp tỉnh về đăng ký khai sinh, khai tử, giám hộ có yếu tố nước ngoài và ghi chú vào sổ hộ tịch các việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã đăng ký trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài; cấp lại bản chính giấy khai sinh cho người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài trước đây đã đăng ký khai sinh tại Việt Nam và thẩm quyền của UBND cấp tỉnh về đăng ký việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài thường trú tại Việt Nam với nhau cho UBND cấp huyện thực hiện, trừ các việc hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới do UBND cấp xã thực hiện. Luật Hộ tịch bổ sung thẩm quyền ghi vào sổ hộ tịch của UBND cấp huyện việc hủy kết hôn, giám hộ và thay đổi hộ tịch, khai tử, là những sự kiện hộ tịch quan trọng chưa được pháp luật quy định trước đó. Có thể thấy, các quy định về thẩm quyền đăng ký hộ tịch của UBND cấp huyện đã thể hiện tinh thần “phân cấp mạnh mẽ việc thực hiện các công việc hộ tịch cho cấp chính quyền địa phương gần dân nhằm giảm bớt phiền hà cho nhân dân khi thực hiện các công việc hộ tịch”[2], theo đúng phương châm của cải cách hành chính trong hoạt động của bộ máy nhà nước, trong việc phục vụ nhân dân.

Một trong những quy định có tính đột phá của Luật Hộ tịch là về ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký, quản lý hộ tịch, cụ thể tại Mục 1 chương V Luật Hộ tịch có quy định về Cơ sở dữ liệu hộ tịch, bao gồm: Sổ hộ tịch và Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử. Theo đó, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử là cơ sở dữ liệu ngành, được lập trên cơ sở tin học hóa công tác đăng ký hộ tịch[3]. Trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin, thì toàn bộ thông tin về các sự kiện hộ tịch của mỗi cá nhân được đăng ký tại cơ quan đăng ký hộ tịch được cập nhật chính xác, đầy đủ từ Sổ hộ tịch vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử. Quy định của Luật Hộ tịch tạo nền tảng pháp lý quan trọng để triển khai mạnh mẽ ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác đăng ký và quản lý hộ tịch theo đúng tinh thần của cải cách hành chính là “ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong quy trình xử lý công việc của từng cơ quan hành chính nhà nước, giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau và trong giao dịch với tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong hoạt động dịch vụ hành chính công, dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công”[4].

Việc xây dựng và vận hành Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo quy định của Luật Hộ tịch và các văn bản có liên quan tạo ra những ưu điểm vượt trội mà cách đăng ký và quản lý dữ liệu hộ tịch thủ công theo cách truyền thống trước đây không có được. Từ trước đến nay, đăng ký và quản lý hộ tịch vẫn dựa vào hệ thống sổ sách, biểu mẫu viết tay hoặc in và được lưu giữ dưới dạng văn bản bằng giấy. “Việc lưu trữ hệ thống sổ hộ tịch giấy tuy có ưu điểm là bảo đảm an ninh thông tin nhưng lại có nhiều hạn chế, như: Cồng kềnh, tốn diện tích; bảo quản khó khăn, dễ rủi ro (do thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, mối mọt); dữ liệu hộ tịch cá nhân bị phân tán, thiếu đồng bộ, không xâu chuỗi, kết nối được với nhau; cơ quan đăng ký hộ tịch không quản lý được đầy đủ các dữ liệu hộ tịch cá nhân; khả năng tra cứu, khai thác phục vụ yêu cầu của người dân rất hạn chế; khi cần chứng minh tình trạng hộ tịch thì người dân phải nộp cùng lúc nhiều loại giấy tờ, gây khó khăn, phiền hà...”[5]. Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử có những ưu điểm vượt trội mà cách thức lưu các thông tin hộ tịch bằng Sổ theo kiểu truyền thống không có được đó là:

Thứ nhất, cho phép kết nối các sự kiện hộ tịch của cá nhân. Hộ tịch là các vấn đề liên quan đến cá nhân trong suốt cuộc đời của họ vì thế các việc hộ tịch không phải lúc nào cũng được đăng ký cùng một thời điểm và ở cùng một cơ quan đăng ký. Các sự kiện hộ tịch mà cá nhân phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền gồm: Khai sinh, kết hôn, nhận cha, mẹ, con, xác định cha, mẹ, con, giám hộ, thay đổi, cải chính hộ tịch, thay đổi quốc tịch, xác định lại giới tính, nuôi con nuôi, ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn, tuyên bố công nhận hoặc hủy tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự… Nếu theo cách thức cũ, các việc hộ tịch phát sinh vào thời điểm nào sẽ được ghi vào sổ ở thời điểm đó và việc ghi sổ được thực hiện tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Mặt khác, pháp luật Việt Nam không quy định về việc ghi sổ và sử dụng sổ hộ tịch của cá nhân vì vậy các thông tin về tình trạng nhân thân của cá nhân là các thông tin rời rạc. Khi ứng dụng công nghệ thông tin, các thông tin về hộ tịch của cá nhân được kết nối và xử lý đồng bộ.

Thứ hai, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử cho phép các thông tin hộ tịch của từng cá nhân sẽ được cung cấp đầy đủ, nhanh chóng và chính xác khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khi cá nhân đó cần sử dụng. Các thông tin về hộ tịch của cá nhân là thông tin “biết nói” về tình trạng của cá nhân đó trong từng giai đoạn của cuộc đời nên việc ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ cho phép kết nối mà còn rất thuận lợi khi đối chiếu, trích xuất dữ liệu phục vụ cho công tác quản lý hay phục vụ cho các nhu cầu chính đáng của cá nhân. Sử dụng thông tin từ Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử không chỉ rút ngắn đáng kể thời gian tìm, xử lý thông tin về hộ tịch mà còn cho phép trích xuất thông tin ở bất kỳ đâu nếu ở đó có kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.

Ứng dụng cộng nghệ thông tin cũng là tiền đề để Luật Hộ tịch quy định cá nhân có thể lựa chọn cách thức đăng ký hộ tịch phù hợp nhất. Luật quy định cá nhân có thể yêu cầu đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch bằng các cách thức là nộp hồ sơ trực tiếp cho cơ quan có thẩm quyền, gửi hồ sơ qua đường bưu chính hoặc đăng ký hộ tịch trực tuyến. Với hình thức đăng ký hộ tịch trực tuyến, cá nhân không cần trực tiếp đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cũng không nhất thiết phải đăng ký trong giờ làm việc hành chính. Việc cấp bản sao trích lục hộ tịch về sự kiện hộ tịch đã đăng ký, bao gồm cả bản sao trích lục hộ tịch từ Cơ sở dữ liệu hộ tịch và bản sao trích lục hộ tịch từ bản chính, Luật quy định: “Cá nhân không phụ thuộc vào nơi cư trú có quyền yêu cầu Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch cấp bản sao trích lục về sự kiện hộ tịch của mình đã được đăng ký” (Điều 63). Tuy nhiên, để thực hiện được đăng ký hộ tịch trực tuyến hay cấp bản sao trích lục về sự kiện hộ tịch đòi hỏi việc quản lý thông tin hộ tịch phải được kết nối liên thông thống nhất trong phạm vi cả nước trên cơ sở ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin.

Cải cách hành chính không chỉ thực hiện đơn lẻ trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước mà phải bảo đảm sự kết nối, phối hợp giữa các hoạt động quản lý với nhau. Một trong những điểm ưu việt của pháp luật về hộ tịch là Luật đã được ban hành đặt trong mối quan hệ với các hoạt động hành chính khác của Nhà nước, biểu hiện rõ rệt nhất là sự liên kết các quy định về hộ tịch với các quy định về căn cước công dân trong Luật Căn cước công dân. Luật Hộ tịch quy định khi đăng ký khai sinh mỗi công dân sẽ được cấp Số định danh cá nhân. Số định danh cá nhân là mã số được cấp khi đăng ký khai sinh (Điều 14). Đây là mã số được dùng để thống nhất xác định thông tin nhân thân của công dân được xác lập từ Cơ sở dữ liệu dân cư và được cấp cho mỗi công dân một lần duy nhất không lặp lại với công dân khác và sử dụng cho đến khi người đó chết. Mã số định danh từ sau ngày 01/01/2016 cũng chính là số Thẻ căn cước công dân, mã số này có thể được tích hợp là mã số thuế, mã bảo hiểm xã hội… Việc ứng dụng công nghệ thông tin liên thông giữa việc quản lý thông tin hộ tịch với quản lý dân cư và các hoạt động quản lý khác đã đưa lại hiệu quả vượt trội cho quản lý nhà nước và làm cho các thông tin hộ tịch là các thông tin có giá trị trong cuộc sống hàng ngày của mỗi cá nhân.

Bên cạnh những mặt tích cực thì những điểm mới trong pháp luật về hộ tịch cũng đặt ra những yêu cầu không nhỏ cho việc triển khai thực hiện trên thực tế. Những khó khăn trong triển khai thực hiện pháp luật về hộ tịch tập trung vào những vấn đề cơ bản như là:

Thứ nhất, việc triển khai đăng ký các sự kiện hộ tịch được quy định cho chính quyền cấp xã và cấp huyện làm gia tăng số lượng các cơ quan có thẩm quyền đăng ký hộ tịch kéo theo việc gia tăng yêu cầu về nhân sự và cơ sở vật chất cho hoạt động này. Số liệu thống kê của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho thấy: Tính đến ngày 30/6/2015, đang có 1.446 công chức được giao làm công tác hộ tịch tại 704 đơn vị hành chính cấp huyện; 16.734 công chức tư pháp - hộ tịch tại 11.227 đơn vị hành chính cấp xã. Tổng hợp trên cả nước cũng còn trên dưới 20% số lượng công chức (cấp xã, cấp huyện) chưa đáp ứng tiêu chuẩn cần có của công chức thực hiện hoạt động tư pháp hộ tịch[6]. Như vậy, đến năm 2020 là thời điểm triển khai đồng bộ các quy định của Luật Hộ tịch trên phạm vi toàn quốc thì việc đào tạo, bồi dưỡng để các công chức thực hiện công tác hộ tịch có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật là khó khăn. Tại các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội chưa phát triển như các tỉnh miền núi phía bắc, các tỉnh khu vực Tây Nguyên, Tây Nam Bộ… cũng là những địa phương có tỉ lệ công chức chưa đạt chuẩn cao nhất thì các khó khăn đặt ra trong việc đào tạo, bồi dưỡng càng cao.

Thứ hai, việc ứng dụng công nghệ thông tin là công việc vừa đòi đầu tư lớn về cơ sở vật chất và yêu cầu cao với người thực hiện. Theo thống kê của Bộ Tư pháp đến tháng 01/2016 (thời điểm triển khai thi hành Luật Hộ tịch), chỉ có 40/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tin học hóa công tác đăng ký hộ tịch và triển khai xây dựng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, có 05 tỉnh, thành phố đang xây dựng và triển khai ứng dụng phần mềm trong đăng ký và quản lý hộ tịch. Có 8 địa phương trang bị phần mềm chuyên dụng về hộ tịch, ứng dụng trên địa bàn toàn tỉnh, kết nối liên thông 3 cấp là Bạc Liêu, Bắc Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Phú Yên, Bà Rịa - Vũng Tàu và TP. Hồ Chí Minh và 10 địa phương đã có phần mềm chuyên dùng về hộ tịch trên toàn tỉnh nhưng chưa kết nối 3 cấp với nhau[7]. Tuy nhiên, đến tháng 01/2016 là thời điểm Luật Hộ tịch có hiệu lực, chỉ có 14/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã trang bị cho 100% công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã máy tính có kết nối Internet phục vụ riêng công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và 11 tỉnh đã trang bị cho trên 55% số công chức tư pháp - hộ tịch máy tính có kết nối Internet phục vụ riêng cho công tác đăng ký, quản lý hộ tịch.

Có thể thấy, để tiến tới xây dựng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc, các công việc chuẩn bị về cơ sở vật chất còn rất nhiều, không chỉ có phương tiện, cơ sở vật chất, mà còn nền tảng công nghệ phần mềm. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin cũng có yêu cầu cao về con người. Các công chức trực tiếp làm công tác đăng ký hộ tịch là người vận hành hệ thống khi nhập các dữ liệu hộ tịch vào hệ thống, nhưng để hệ thống vận hành trơn tru và an toàn, lại cần có các chuyên gia công nghệ thông tin. Như vậy, ngoài đào tạo, bồi dưỡng để có đội ngũ nhân lực đạt chuẩn để làm công tác tư pháp - hộ tịch, còn phải đảm bảo cho đội ngũ này vận hành thành thạo Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử trong đăng ký và quản lý hộ tịch. Mặc dù ứng dụng công nghệ thông tin không là vấn đề mới, nhưng do đăng ký hộ tịch là công việc diễn ra hàng ngày trên khắp cả nước, nên cần có những bước chuẩn bị thích hợp trước khi bắt đầu triển khai. Để có bước chuẩn bị tốt khi triển khai đại trà trên phạm vi toàn quốc, hai Bộ Tư pháp và Bộ Công an đã thống nhất triển khai thí điểm Phân hệ đăng ký khai sinh và cấp số định danh cá nhân từ ngày 01/01/2016 tại 5 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thí điểm cấp số định danh cá nhân cho dữ liệu đăng ký khai sinh mới phát sinh tại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An, đến nay việc thí điểm đã thu được kết quả tốt.

TS. Nguyễn Ngọc Bích

Đại học Luật Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

* Bài viết thuộc Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Quản lý hộ tịch - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Đại học Luật Hà Nội, năm 2017.

[1]. Xem: Nguyễn Ngọc Bích, Thẩm quyền đăng ký hộ tịch theo Luật Hộ tịch và vấn đề thực hiện, Tạp chí Luật học số 8/2016.

[2]. Xem: Nguyễn Ngọc Bích, Thẩm quyền đăng ký hộ tịch theo Luật Hộ tịch và vấn đề thực hiện, Tạp chí Luật học số 8/2016.

[3]. Xem Điều 4 Luật Hộ tịch.

[4]. Xem Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 ban hành kèm theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ.

[5]. Xem Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc có gì đặc biệt, Báo Pháp luật, số ra ngày 28/7/2015.

[6]. Bộ Tư pháp, Báo cáo chuyên đề: Tình hình triển khai thi hành Luật Hộ tịch (Tài liệu phục vụ Hội nghị trực tuyến triển khai thi hành công tác tư pháp năm 2016 và định hướng nhiệm kỳ 2016 - 2020, ngày 08/01/2016).

[7]. Bộ Tư pháp, Báo cáo chuyên đề: Tình hình triển khai thi hành Luật Hộ tịch (Tài liệu phục vụ Hội nghị trực tuyến triển khai thi hành công tác tư pháp năm 2016 và định hướng nhiệm kỳ 2016 - 2020, ngày 08/01/2016).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: