Thứ bảy 02/05/2026 00:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về quyền của người khuyết tật ở một số quốc gia và kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam

Hoàn thiện quy định của pháp luật về quyền của người khuyết tật là yêu cầu đặt ra từ thực tiễn cần phải được Nhà nước quan tâm trên cơ sở thu thập các thông tin, ý kiến từ xã hội. Bên cạnh đó, để bảo đảm rằng quyền của người khuyết tật được thực hiện trên thực tiễn thì Nhà nước cần tiếp tục đánh giá để bổ sung, sửa đổi các nội dung pháp luật cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp lý và bảo đảm thực hiện về quyền của người khuyết tật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khuyết tật, đặc biệt là trong những vấn đề liên quan đến pháp lý.

1. Pháp luật về quyền của người khuyết tật tại Malaysia, Indonesia và Romania

1.1. Quyền của người khuyết tật tại Malaysia

Năm 2010, Malaysia là một trong những quốc gia đầu tiên phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2006 (Convention on the Rights of Persons with Disabilities - CRPD) được thông qua bởi Đại hội đồng Liên Hợp Quốc và Chính phủ Malaysia cũng đã ban hành Đạo luật Người khuyết tật năm 2008 (Persons with Disabilities Act 2008 (Act 685) - Đạo luật 685) với những quy định nổi bật, cụ thể:

- Điều 2 Đạo luật 685 đã quy định về khái niệm của người khuyết tật với nhiều điểm tương đồng với Điều 1 CRPD năm 2006[1]. Tuy nhiên, ở CRPD năm 2006 khái niệm này dựa trên nguyên tắc bình đẳng khi người khuyết tật tham gia đầy đủ và hiệu quả vào xã hội, còn ở Đạo luật năm 2008 vẫn chưa thể hiện nguyên tắc bình đẳng thông qua khái niệm đã đưa ra. Ngoài ra, điểm f khoản 1 Điều 9 và Điều 13 Đạo luật 685 cũng quy định rõ nhiệm vụ của Hội đồng Người khuyết tật quốc gia[2], cho thấy Chính phủ Malaysia đề cao trách nhiệm của Hội đồng Người khuyết tật quốc gia trong việc xây dựng, đóng góp, sửa đổi những văn bản quy phạm pháp luật và những chính sách phù hợp với cộng đồng người khuyết tật, quan tâm hỗ trợ, giúp đỡ, xóa bỏ mọi rào cản, tạo cơ hội để người khuyết tật được bảo đảm về quyền lợi và hòa nhập với cộng đồng.

- Điều 30 và 40 Đạo luật 685 đề cập đến việc bảo đảm cho người khuyết tật được thực hiện các quyền cơ bản của mình trên thực tiễn. Trong đó, Chính phủ Malaysia đã đề ra một số các biện pháp để từ đó bảo đảm cho người khuyết tật có thể tiếp cận công nghệ thông tin và truyền thông trên thực tế, quy định về hỗ trợ pháp lý bảo vệ quyền của người khuyết tật trong một số tình huống và trường hợp khẩn cấp[3]. Cụ thể, Chính phủ Malaysia nhấn mạnh công tác truyền thông về trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật một cách đầy đủ, phù hợp với từng đặc điểm khuyết tật của người được trợ giúp pháp lý là vấn đề đặt ra trong thời gian tới của ngành tư pháp. Hội đồng Người khuyết tật quốc gia cũng phối hợp với các cơ quan, ban, ngành có liên quan thông tin, phổ biến về các chính sách đối với người khuyết tật trên nhiều mặt phương tiện truyền thông; tổ chức những buổi tuyên truyền pháp luật cho người khuyết tật thông qua những tình huống pháp luật gần gũi và có liên quan thiết thực đối với người khuyết tật (hỗ trợ các trợ lý pháp lý cả về mặt ngôn ngữ cũng như về mặt âm thanh cho người khuyết tật)…

Việc ban hành và thi hành Đạo luật Người khuyết tật năm 2008 của Chính phủ Malaysia là: (i) Nhằm cung cấp các dịch vụ bảo trợ xã hội trong các lĩnh vực như y tế, phục hồi chức năng và giáo dục cho trẻ em khuyết tật theo hướng dẫn của Ủy ban Quốc gia và chính sách dành cho người khuyết tật và Kế hoạch hành động quốc gia về người khuyết tật; (ii) Thúc đẩy sự phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống cũng như quyền lợi của người khuyết tật, thúc đẩy khả năng tiếp cận tốt hơn với các cơ sở chung bao gồm dịch vụ, tòa nhà, phương tiện giao thông công cộng và các tiện ích công cộng; (iii) Khuyến khích và đặc biệt hỗ trợ bất kỳ biện pháp hỗ trợ pháp lý thích hợp ở những tình huống khẩn cấp để công nhận các quyền lợi của người khuyết tật từ đó đưa việc tiếp cận đời sống xã hội nói chung và tiếp cận công lý được đảm bảo việc thực hiện diễn ra một cách công bằng, thực tế[4].

1.2. Quyền của người khuyết tật tại Indonesia

Indonesia đã từng ban hành Đạo luật Người khuyết tật (Law No. 4 of 1997 concerning Persons with Disabilities - Luật số 4 năm 1997) và đã được thay thế bởi Luật số 8 năm 2016 (Law on Disabilities - No. 8/2016)[5] nhằm thể hiện sự nghiêm túc của Chính phủ Indonesia trong việc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện các quyền của người khuyết tật trên tinh thần tôn trọng văn bản quốc tế, cụ thể:

(i) Luật số 8 năm 2016 đã nhấn mạnh Chính phủ và chính quyền địa phương có nghĩa vụ đảm bảo và bảo vệ quyền của người khuyết tật với tư cách là chủ thể hợp pháp để thực hiện các hành động pháp lý giống như những người khác[6]. Mục đích của quyền tiếp cận công lý cho người khuyết tật là đảm bảo và bảo vệ quyền của người khuyết tật để thực hiện các hành động pháp lý giống như những người khác. Pháp luật Indonesia đã đảm bảo sẽ xây dựng dựa trên nền tảng Công ước CRPD; nhằm có được khung pháp lý vững chắc cho người khuyết tật, nên yếu tố “sự bảo vệ pháp lý” gần như được đảm bảo.

(ii) Luật số 8 năm 2016 dành một sự quan tâm đặc biệt đến khía cạnh liên quan đến khả năng đòi hỏi và theo đuổi vụ việc của người khuyết tật với một số biện pháp nhằm thúc đẩy sự hiểu biết của nhóm người khuyết tật về quyền lợi của chính mình. Cụ thể: Chính phủ và Chính quyền khu vực được yêu cầu cung cấp hỗ trợ pháp lý cho Người khuyết tật trong mọi cuộc kiểm tra tại mọi cơ quan thực thi pháp luật về các vấn đề dân sự và/hoặc hình sự theo quy định của pháp luật[7]. Bên cạnh đó, Luật số 8 năm 2016 đã đề cập đến một số dịch vụ trợ giúp trong bảo trợ xã hội bao gồm trợ giúp pháp lý, vận động xã hội, trợ giúp xã hội tại Điều 95 và ghi nhận những cách thức tư vấn ở các ngành khác nhau: Ngành giáo dục ghi nhận Đơn vị dịch vụ Người khuyết tật với những chức năng tại khoản 4 Điều 42[8]; tư vấn tôn giáo quy định tại Điều 79[9]; tư vấn tâm lý xã hội nhằm phục hồi chức năng xã hội quy định tại Điều 92[10]...

(iii) Luật số 8 năm 2016 đã rất quan tâm với việc đề cao giá trị của người khuyết tật với hai quyền quan trọng được đề cập đầu tiên tại Điều 9: “a. Được đối xử bình đẳng trước pháp luật; b. Được công nhận là chủ thể pháp lý”. Cụ thể, các quyền này được thể hiện ở rất nhiều điều luật khác, ví dụ như: Tôn trọng quyền sống của người khuyết tật (Điều 6); tôn trọng quyền riêng tư của người khuyết tật (Điều 8); quyền giáo dục (Điều 10); quyền văn hóa, du lịch (Điều 16); gia đình của người khuyết tật có quyền chỉ định người đại diện cho quyền lợi của họ khi người khuyết tật bị tòa án quận xác định là không đủ năng lực (khoản 3 Điều 33); người khuyết tật sẽ được cung cấp công cụ hỗ trợ pháp lý trong công cuộc kiểm tra (Điều 29)[11]; được kiểm tra về mặt sức khỏe và tinh thần (Điều 30)[12]; người khuyết tật có thể tham gia với những ngành nghề mà không bị cản trở về tiêu chuẩn mà họ khiếm khuyết như đảm nhận chức vụ công (Điều 76); được tham gia quản lý thiên tai (khoản 3 Điều 109)...

Nhìn chung, Luật số 8 năm 2016 đã có những quy định cơ bản nhằm đảm bảo quyền tiếp cận công lý cho người khuyết tật, có đưa ra một số biện pháp có tính khả thi và có những yếu tố kế thừa từ CRPD năm 2006. Tuy nhiên, vẫn có những khía cạnh mà pháp luật về người khuyết tật của Indonesia vẫn chưa nhắc đến, chưa quy định rõ, nhưng việc tham gia công ước quốc tế và có sửa đổi luật để theo đuổi những tiêu chuẩn hiện đại mà vẫn đảm bảo lợi ích cho người khuyết tật ở Indonesia cũng là một bước tiến mới để một quốc gia tiếp tục phát triển.

1.3. Quyền của người khuyết tật tại Romania

Quyền của người khuyết tật tại Romania được thể hiện chủ yếu thông qua Luật số 448 năm 2006 về bảo vệ và thúc đẩy quyền của người khuyết tật (Law no. 448/2006 Regarding the Protection and Promotion of the Rights of Disabled Persons), cụ thể:

(i) Luật bảo vệ và thúc đẩy quyền của người khuyết tật Romania (Luật số 448 năm 2006) tuy không đề cập trực tiếp đến quyền tham gia vào việc thực thi công lý của người khuyết tật nhưng lại có những quy định về giáo dục và định hướng việc làm với tinh thần hướng đến việc đảm bảo quyền được làm việc với vai trò là thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư, trợ giúp viên pháp lý của người khuyết tật. Xét về những quy định về giáo dục, Luật số 448 năm 2006 của Romania có những quy định đặc thù nhằm hỗ trợ cho người khuyết tật được hưởng sự giáo dục bình đẳng nhất (Điều 15[13]) bởi các biện pháp cụ thể (Điều 19[14]). Xét về quy định liên quan đến công việc dành cho người khuyết tật, Luật số 448 năm 2006 đã dành riêng một chương để quy định: Người khuyết tật được quyền được lựa chọn công việc và làm việc (khoản 1 Điều 75); người khuyết tật có thể được tuyển dụng tùy theo trình độ chuyên môn của họ và khả năng lao động (Điều 78)...

(ii) Luật số 448 năm 2006 cũng quy định khá chi tiết nhóm quyền được trợ giúp pháp lý. Ví dụ: Người khuyết tật có thể có người đại diện theo pháp luật để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với tài sản cá nhân (Điều 25). Đại điện này phải nộp báo cáo hằng năm để đảm bảo sự minh bạch, đồng thời đây cũng là cách để chính quyền địa phương cập nhật, bảo đảm về quyền lợi của người khuyết tật nhằm loại bỏ rủi ro về sự chủ quan trong quản lý của người đại diện khi quản lý tài sản của người khuyết tật trong thời gian dài. Không chỉ được đại diện trước bên thứ 3 và cơ quan có thẩm quyền tại địa phương về tài sản, người khuyết tật còn được hỗ trợ pháp lý trong quá trình tố tụng thông qua người thân của họ, người đại diện theo pháp luật… Người khuyết tật còn được hưởng các phúc lợi về dịch vụ xã hội cần thiết cùng chế định chuyên viên hỗ trợ (khoản 4 Điều 31).

Nhìn chung, những quy định của pháp luật Romania đã thể hiện được sự công nhận của hệ thống pháp luật đất nước này đối với quyền của người khuyết tật. Đặc biệt, pháp luật Romania đã xây dựng thành công những quy định khá ấn tượng và hiệu quả qua những biện pháp thúc đẩy quyền của người khuyết tật thật sự có khả năng thực hiện trên thực tế hay qua những quy định cụ thể về các quyền thuộc quyền tiếp cận công lý của người khuyết tật. Qua nghiên cứu những quy định của pháp luật Romania, nhóm tác giả nhận thấy hệ thống pháp luật của đất nước này có rất nhiều điểm có thể tham khảo để hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận pháp luật của người khuyết tật tại Việt Nam phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện tại của đất nước.

Tổng quát, từ những phân tích trên có thể đi đến một số đánh giá liên quan đến pháp luật về quyền của người khuyết tật tại Malaysia, Indonesia và Romania như sau:

Thứ nhất, về ưu điểm:

- Khung pháp lý của các đạo luật nằm trong khuôn khổ của CRPD năm 2006.

- Hầu hết các đạo luật về người khuyết tật đều quy định (hoặc hướng đến quy định) hạn mức bắt buộc các tổ chức công nhận người khuyết tật vào làm việc.

- Quyền bình đẳng trước pháp luật quy định khá đầy đủ (thể hiện sự tôn trọng, đối xử công bằng); quyền tiếp cận hệ thống tư pháp quy định quy định chi tiết ở nhiều lĩnh vực.

- Có sự ghi nhận đối với “quyền tiếp cận công lý” và quy định liên quan đến quyền tham gia vào việc thực thi công lý của người khuyết tật.

- Quy định chủ yếu về các dịch vụ pháp lý cho người khuyết tật hướng đến việc thông qua các quy định này để bình thường hóa các hoạt động xã hội của người khuyết tật, thích hợp với tinh thần của quyền được trợ giúp pháp lý.

Riêng Malaysia có một cơ quan về người khuyết tật rất khác biệt và hiệu quả đó là Hội đồng quốc gia về người khuyết tật.

Thứ hai, về hạn chế:

- Các khái niệm về người khuyết tật ở các đạo luật tuy có sự tương đồng với CRPD nhưng lại thiếu đi cơ sở bình đẳng.

- Gần như chưa có điều khoản về chế tài trong các đạo luật về người khuyết tật (nếu có chỉ là một sự lựa chọn). Do đó, các quyền khó có thể thực hiện và các vi phạm về quyền khó khắc phục hậu quả.

- Có đạo luật thu hẹp phạm vi chủ thể thực thi quyền tiếp cận công lý cho người khuyết tật (Indonesia).

- Hầu hết các đạo luật chưa được đề cập hoặc ghi nhận chưa đầy đủ các nhóm quyền tiếp cận hệ thống tư pháp, cũng như chưa có sự ghi nhận trực tiếp đối với quyền tiếp cận công lý của người khuyết tật.

- Hạn chế trong việc thực thi các chính sách trên chủ yếu là do nguồn lực kinh tế còn hạn chế, luật quy định các chính sách ưu đãi thì nhiều nhưng kinh phí thực thi thì ít hơn so với nhu cầu thực tế.

2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền của người khuyết tật và một số kiến nghị hoàn thiện

2.1. Thực trạng pháp luật về quyền của người khuyết tại tại Việt Nam

2.1.1. Về thành tựu

Một là, Luật Người khuyết tật năm 2010 đã điều chỉnh đầy đủ hơn và có nhiều cơ sở thuận lợi cho người khuyết tật. Ví dụ: Về lĩnh vực văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch được quy định từ Điều 36 tới Điều 38. Mới đây nhất là Quyết định số 1190/QĐ-TTg ngày 05/8/2020 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2021 - 2030. Đây là dự án nhằm tạo điều kiện để người khuyết tật tham gia bình đẳng vào các hoạt động của xã hội; xây dựng môi trường không rào cản bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người khuyết tật và hỗ trợ người khuyết tật phát huy khả năng của mình. Dự án trên đề ra các công việc cần làm ở các lĩnh vực, giải pháp, kinh phí, phân công một cách chi tiết và tích cực. Ngoài ra, về đường lối, chính sách của Đảng, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 39-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật. Chỉ thị chỉ ra ưu điểm và thiếu sót và nguyên nhân trong công tác dành cho người khuyết tật, đồng thời vạch ra nhiệm vụ để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đối với công tác người khuyết tật. Ngoài ra, Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội còn quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, quy định đối tượng bảo trợ xã hội là người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng.

Hai là, tại điểm d khoản 1 Điều 4 Luật Người khuyết tật năm 2010 trao cho người khuyết tật quyền được trợ giúp pháp lý cùng với các văn bản quy phạm pháp luật liên quan như: Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, Quyết định số 28/QĐ-BTP ngày 10/01/2023 của Bộ Tư pháp về việc ban hành kế hoạch triển khai thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật, người khuyết tật có khó khăn về tài chính năm 2023,... Tại các địa phương, quyền được trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật cũng đã được quan tâm nhiều hơn, từng địa phương đã có các văn bản hướng dẫn để quy định rõ hơn về việc trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật như: Quyết định số 476/QĐ-UBND ngày 02/3/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa về ban hành kế hoạch triển khai thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật, người khuyết tật có khó khăn về tài chính năm 2023 trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, Quyết định số 1820/QĐ-UBND ngày 16/10/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên về việc phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật tỉnh Phú Yên giai đoạn 2021 - 2030,... Điều này tạo điều kiện đáng kể cho người khuyết tật khi đứng trước cơ quan tư pháp[15].

Ba là, ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền được tiếp cận hệ thống tư pháp và quyền tham gia vào việc thực thi công lý. Quyền được tiếp cận hệ thống tư pháp được trao cho người khuyết tật thông qua điểm a khoản 1 Điều 40 Luật Người khuyết tật hiện hành. Theo đó, người khuyết tật được bảo đảm điều kiện tiếp cận với các trụ sở làm việc của Nhà nước, tạo ra tiền đề để người khuyết tật có đủ cơ sở để tiếp xúc với cơ quan tư pháp, hòa giải khi muốn tìm kiếm sự đền bù. Mặt khác, Việt Nam đã và đang cố gắng nội luật hóa CRPD của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, đồng thời, thực hiện các cam kết với ILO về đảm bảo việc làm cho người khuyết tật. Theo đó, Chính phủ sẽ bảo trợ, trợ giúp người khuyết tật trong vấn đề giáo dục, dạy nghề, việc làm nhằm kéo gần hơn khoảng cách về quyền con người của người khuyết tật so với người bình thường được quy định tại khoản 3 Điều 5 Luật Người khuyết tật năm 2010. Vậy nên, việc người khuyết tật được hỗ trợ học tập và hành nghề về luật là quyền mà người khuyết tật có thể được nhận nếu phù hợp với thể chất, tinh thần của mình.

Bốn là, đã có quy định các biện pháp chế tài với trường hợp xâm phạm quyền và lợi ích của người khuyết tật. Cùng với các quy định bảo vệ quyền và lợi ích của người khuyết tật, thì cần có các chế tài nhằm răn đe để đảm bảo việc thực hiện các quy định của pháp luật. Trong lĩnh vực hình sự (Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: Về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình là người khuyết tật (điểm b khoản 2 Điều 185); về tội cưỡng bức lao động là người khuyết tật (điểm c khoản 2 Điều 297); về tội dùng nhục hình đối với người khuyết tật (điểm d khoản 2 Điều 373); về tội bức cung đối với người khuyết tật (điểm c khoản 2 Điều 374); về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người khuyết tật trái pháp luật (điểm d khoản 2 Điều 377). Trong lĩnh vực hành chính, các chế tài được áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về quyền của người khuyết tật, cụ thể: Nếu có hành vi phân biệt đối xử về khuyết tật có thể bị phạt từ 5 - 10 triệu đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 25 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ; nếu có hành vi bị nghiêm cấm đối với người khuyết tật tại Điều 11 đến Điều 17 Nghị định số 130/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em thì bị phạt tiền tùy theo từng trường hợp; nếu từ chối tuyển dụng người có đủ tiêu chuẩn hoặc đặt ra tiêu chuẩn trái pháp luật nhằm hạn chế cơ hội việc làm của người khuyết tật thì bị phạt từ 5 - 10 triệu đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số 144/2013/NĐ-CP ngày 29/10/2014 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em…

2.1.2. Hạn chế và nguyên nhân

Một là, mặc dù đã có những quy định cơ bản giúp con người nhận ra nội dung và hậu quả khi phân biệt đối xử người khuyết tật, nhưng nhóm tác giả vẫn nhận thấy một số rủi ro: (i) Dù đã đưa ra các định nghĩa nhưng mới chỉ là các định nghĩa chung, chưa chỉ ra những dấu hiệu cụ thể xác định hành vi thế nào là phân biệt đối xử. (ii) Mặc dù pháp luật Việt Nam hiện tại quy định hình thức xử lý là phạt hành chính hoặc chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trong Bộ luật Hình sự mới nhất, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định ở điểm k khoản 1 Điều 52 chỉ quy định phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng. Với đối tượng người khuyết tật nhẹ (khi được Hội đồng giám định y khoa kết luận có khả năng tự phục vụ sinh hoạt hoặc suy giảm khả năng lao động dưới 61%)[16] nếu bị tổn thương, người phạm tội có thể không áp dụng tình tiết tăng nặng[17].

Hai là, có một số quy định pháp luật vẫn chưa theo kịp tiến trình phát triển của xã hội, từ đó cuộc sống của người khuyết tật sẽ gặp nhiều khó khăn và khó có cơ hội phát triển hơn so với mọi người. Ví dụ: Luật Giao thông đường bộ năm 2008 vẫn chưa rõ ràng trong quy định về cấp bằng lái và phương tiện cho người khuyết tật khi tham gia giao thông (theo từng dạng và mức độ khuyết tật). Đồng quan điểm, ông Đặng Văn Thanh - Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp Hội về người khuyết tật Việt Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp của thương binh và người khuyết tật Việt Nam cho rằng: “Việc tiếp cận giao thông, đi lại vẫn là rào cản lớn nhất hiện nay, nhất là ở những vùng khó khăn, vùng nông thôn; các công trình xây dựng trước đây không được quan tâm cải tạo bảo đảm tiếp cận cho người khuyết tật”[18].

Ba là, việc đảm bảo thực hiện quyền bình đẳng trước pháp luật của người khuyết tật chưa thực sự hoàn chỉnh. Rào cản lớn nhất đối với người khuyết tật là phân biệt đối xử, kỳ thị. Bởi vì, có một số cá thể cảm thấy khó chịu hoặc bài trừ khi làm việc hoặc giúp đỡ người khuyết tật, thậm chí có thể lợi dụng họ. Ví dụ như: Có một bài báo đưa tin về vụ việc một người đàn ông khuyết tật bị bốn chiếc xe buýt đi qua, đến khi có người giúp đỡ vẫy gọi mới có thể bắt được xe[19]. Nhóm tác giả nhận thấy, một số bộ phận trong xã hội đang có những hành động chưa phù hợp, không tôn trọng đến cộng đồng người khuyết tật, dẫn đến việc họ có những trải nghiệm tiêu cực, không được quan tâm và không có được những quyền lợi như bao người khác. Do vậy, cần xem xét và điều chỉnh các dịch vụ, cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải thực thi pháp luật đúng đắn và ứng xử có đạo đức thì người khuyết tật mới có thể được tham gia vào cộng đồng, hưởng quyền lợi và có cuộc sống như bao người khác.

Như vậy, những quy định pháp luật hiện hành vẫn chưa thật sự chặt chẽ. Mặc dù, Nhà nước đã có sự quan tâm nhất định đến nhóm người khuyết tật và luôn thúc đẩy việc thực hiện quyền của người khuyết tật nhưng cơ sở pháp lý vẫn còn rất nhiều lỗ hổng hoặc đã “hết hạn” dẫn đến việc áp dụng ngày càng khó khăn và sai lệch. Nguyên nhân chính xuất phát từ thực trạng, tuy văn bản quy phạm pháp luật đã nêu tên được các quyền của người khuyết tật nhưng việc thiếu đi những định nghĩa cụ thể, rõ ràng về người khuyết tật, về các loại khuyết tật đã khiến cho những quy định bị lý giải lệch lạc, dẫn đến quyền của người khuyết tật cũng bị ảnh hưởng.

2.2. Một số kiến nghị hoàn thiện

Thứ nhất, cần nghiên cứu sửa đổi định nghĩa về người khuyết tật theo hướng toàn diện hơn, phù hợp hơn với định nghĩa người khuyết tật của CRPD về người khuyết tật quy định. Theo đó, người khuyết tật cần được định nghĩa từ cả khía cạnh y tế; khía cạnh xã hội và quyền, áp dụng theo mô hình xã hội thay vì mô hình y tế đang áp dụng hiện nay, để đảm bảo tất cả các dạng khuyết tật đều được xác định và có thể cấp giấy xác nhận người khuyết tật từ đó người khuyết tật có thể tiếp cận các dịch vụ thiết yếu. Nhóm tác giả cho rằng, chúng ta hoàn toàn có thể xem quy định tại Điều 2 Đạo luật Người khuyết tật Malaysia năm 2008 là một hình mẫu tham khảo. Điều luật này bám sát vào quy định của CRPD, nêu được đầy đủ các dạng khuyết tật.

Thứ hai, cần có một điều luật riêng ghi nhận quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật với ba đầy đủ ba chức năng là được tư vấn pháp luật, được đại diện ngoài tố tụng và được hỗ trợ trong quá trình tham gia tố tụng. Luật Người khuyết tật năm 2010 và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đều đã có sự ghi nhận về quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật. Tuy nhiên, các quy định về nội dung quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật lại rất rời rạc và khó có thể tiếp cận đầy đủ và trọn vẹn. Đồng thời, khi xem xét trên khía cạnh pháp luật quốc tế, nhóm tác giả nhận thấy chúng ta có thể tham khảo từ những quy định của pháp luật Romania khi quốc gia này quy định có phần thiết thực và gần gũi với khái niệm quyền được trợ giúp pháp lý thuộc quyền tiếp cận công lý của người khuyết tật hơn.

Thứ ba, cần có thêm một quy định ghi nhận trực tiếp quyền tiếp cận công lý của người khuyết tật. Thủ tục và cơ quan có thẩm quyền xác nhận người khuyết tật cần đảm bảo sự tiếp cận đầy đủ cho tất cả người khuyết tật, không phụ thuộc vào địa phương hay mức độ khuyết tật. Về vấn đề này, chúng ta có thể học hỏi sự ghi nhận chung về quyền tiếp cận công lý như cách Romania đã quy định. Bởi vì sự ghi nhận của pháp luật là một yếu tố quan trọng, một nền tảng hiệu quả nhất để mọi người và đặc biệt là người khuyết tật nắm được quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ tư, sửa đổi bổ sung khoản 1 Điều 4 Luật Người khuyết tật hiện hành để bảo đảm người khuyết tật có tất cả các quyền và tự do mà CRPD bảo vệ, không có sự phân biệt dưới bất kỳ hình thức nào. Thêm vào đó, cần đưa ra định nghĩa cụ thể về phân biệt đối xử, quy định một số hành vi cụ thể được xem là phân biệt đối xử, mở rộng khái niệm này bao gồm cả phân biệt đối xử trực tiếp cũng như phân biệt đối xử gián tiếp và bổ sung hành vi phân biệt đối xử do tổ chức thực hiện bên cạnh các hành vi phân biệt đối xử do cá nhân thực hiện. Như vậy, các chế tài xử phạt phải nghiêm khắc hơn và cần được quy định rõ ràng, bổ sung thêm quy định về trách nhiệm pháp lý của các tổ chức khi vi phạm các nghĩa vụ đã được luật quy định trong Luật Người khuyết tật và các văn bản khác có liên quan, cùng với việc xây dựng các cơ chế thực thi và biện pháp khắc phục hậu quả cho nạn nhân của sự phân biệt đối xử. Ngoài ra, việc phạm tội đối với người khuyết tật nên được xem là tình tiết tăng nặng.

Thứ năm, cần xây dựng thêm một quy định tiếp nối trong Hiến pháp, ghi nhận nhóm quyền tiếp cận hệ thống tư pháp, tương tự như quy định về quyền bình đẳng trước pháp luật của mọi người tại Điều 16 Hiến pháp năm 2013./.

ThS. Huỳnh Thị Hồng Nhiên - Giảng viên

& nhóm sinh viên Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh


[1] Điều 2 Đạo luật 685: Người khuyết tật bao gồm những người bị khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tinh thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở họ tham gia đầy đủ và hiệu quả vào xã hội. Điều 1 CRPD năm 2006: Người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác.

[2] Điểm f khoản 1 Điều 9 Đạo luật 685: Hội đồng Quốc gia về Người khuyết tật đề xuất với Chính phủ những thay đổi đối với luật hiện hành cũng như đề xuất luật mới nhằm đảm bảo sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội, bao gồm cả việc tạo điều kiện thuận lợi cho khả năng tiếp cận. Điều 13 Đạo luật 685: Hội đồng quốc gia về người khuyết tật đề nghị thay đổi luật: Khi thực hiện các nhiệm vụ của mình theo Đạo luật này, Hội đồng có trách nhiệm đề xuất với Chính phủ những thay đổi cần thiết đối với bất kỳ luật nào hoặc đề xuất quy định của luật mới để đảm bảo sự tham gia đầy đủ và hiệu quả trong xã hội của người khuyết tật, bao gồm cả việc tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận hoặc bất kỳ vấn đề nào khác khi xét thấy cần thiết hoặc phù hợp...

[3] Điều 40 Đạo luật năm 2008: Chính phủ sẽ thực hiện mọi biện pháp cần thiết để đảm bảo người khuyết tật có quyền được hỗ trợ trong các tình huống rủi ro và khẩn cấp nhân đạo bằng các hình thức pháp lý cũng như cơ chế hành chính.

[4] International Journal for Studies on Children, Women, Elderly And Disabled, “The Rights Of Persons With Disabilities In Malaysia: The Underlying Reasons For Ineffectiveness Of Persons With Disabilities Act 2008”, Vol. 1, p. 130, https://www.ijcwed.com/wp-content/uploads/2016/12/IJCWED-165.pdf, accessed on 6 Sep 2023.

[5] Sự thay đổi này nhờ sự kiện Indonesia gia nhập vào CRPD năm 2006 vào ngày 30/11/2023.

[6] Điều 28 Luật số 8 năm 2016.

[7] Điều 29 Luật số 8 năm 2016.

[8] Đơn vị Dịch vụ Người khuyết tật như được đề cập trong đoạn (i) có chức năng: a. Nâng cao năng lực của các nhà giáo và cán bộ giáo dục ở các trường phổ thông trong việc ứng xử với học sinh khuyết tật; b. Cung cấp hỗ trợ cho học sinh khuyết tật để hỗ trợ quá trình học tập suôn sẻ; c. Phát triển các chương trình học bù; d. Cung cấp phương tiện và công cụ học tập cần thiết cho học sinh khuyết tật; e. Phát hiện sớm, can thiệp sớm cho học sinh, sinh viên khuyết tật tương lai; f. Cung cấp dữ liệu và thông tin về khuyết tật; j. Cung cấp dịch vụ tư vấn; h. Phát triển hợp tác với các bên hoặc tổ chức khác nhằm nỗ lực cải thiện chất lượng giáo dục cho học sinh khuyết tật.

[9] Chính phủ và Chính quyền địa phương được yêu cầu thực hiện hướng dẫn và tư vấn tôn giáo cho người khuyết tật.

[10] Phục hồi xã hội như được đề cập trong Điều 91 được Chính phủ và chính quyền khu vực cung cấp dưới hình thức: (...) f. Hướng dẫn xã hội và tư vấn tâm lý xã hội.

[11] Chính phủ và chính quyền khu vực được yêu cầu cung cấp hỗ trợ pháp lý cho người khuyết tật trong mọi cuộc kiểm tra tại bất kỳ cơ quan thực thi pháp luật nào về các vấn đề dân sự và/hoặc hình sự theo quy định của pháp luật.

[12] Chính phủ và chính quyền khu vực được yêu cầu cung cấp hỗ trợ pháp lý cho người khuyết tật trong mọi cuộc kiểm tra tại bất kỳ cơ quan thực thi pháp luật nào về các vấn đề dân sự và/hoặc hình sự theo quy định của pháp luật.

[13] Điều 15 Luật số 448 năm 2006: (1) Người khuyết tật được tiếp cận tự do và bình đẳng với mọi hình thức giáo dục, không phân biệt tuổi tác, tùy theo dạng khuyết tật, mức độ và nhu cầu giáo dục của họ; (2) Người khuyết tật được đảm bảo giáo dục thường xuyên và đào tạo nghề nghiệp trong suốt cuộc đời của họ; (3) Người khuyết tật hoặc, tùy từng trường hợp, gia đình hoặc người đại diện hợp pháp sẽ là yếu tố quyết định chính trong việc lựa chọn hình thức, loại hình đào tạo và đơn vị giáo dục.

[14] Khuyến khích và đảm bảo khả năng tiếp cận giáo dục và đào tạo chuyên nghiệp cũng như các đơn vị và cơ sở giáo dục của người khuyết tật; đảm bảo giáo dục tại trường học cho người khuyết tật về di chuyển trong thời gian giai đoạn đi học bắt buộc, và chuẩn bị đi học; đảm bảo khả năng tiếp cận các hình thức giáo dục lâu dài, điều chỉnh phù hợp với mục tiêu giáo dục của người khuyết tật...

[15] Quyền này hiện đã được thực hiện trên thực tế, có thể kể đến như Bản án số 35/2021/HSST ngày 05/03/2021 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Tại vụ án này, người bị hại là ông Bùi Xuân C là người khuyết tật, khi bị xâm hại quyền và lợi ích của mình đã thực hiện quyền được trợ giúp pháp lý khi bà Vũ Thùy D - trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại.

[16] Điều 4 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật.

[17] Tham khảo bản án Bản án số 35/2021/HS-ST về cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai: Bị cáo Đoàn Hữu L có hành vi cướp giật số tiền 330.000 đồng (ba trăm ba mươi nghìn đồng) và 70 (bảy mươi) tờ vé số kiến thiết Bình Dương của ông C, là người khuyết tật ở chân, không có khả năng đi lại, rồi nhanh chóng tẩu thoát. Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo L phạm tội “Cướp giật tài sản”, không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[18] Mai Hoa (2022), “Nhiều người khuyết tật chưa được tiếp cận đầy đủ ưu đãi về y tế, giáo dục…”, Tạp chí điện tử Hòa nhập, https://hoanhap.vn/chi-tiet/hoa-nhap-cho-nguoi-khuyet-tat1670030769.html, truy cập ngày 07/9/2023.

[19] Bảo Hân (2022), “Từ vụ việc người đàn ông khuyết tật bị xe buýt “bỏ qua” ở Nghệ An?”, Báo lao động, https://laodong.vn/ban-doc/tu-vu-viec-nguoi-dan-ong-khuyet-tat-bi-xe-buyt-bo-qua-o-nghe-an-1076771.ld, truy cập vào ngày 08/9/2023).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: