Thứ ba 10/02/2026 06:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về văn hóa, gia đình ở Việt Nam hiện nay và định hướng hoàn thiện

Bài viết này đề cập nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về văn hóa, gia đình ở Việt Nam hiện nay, từ đó, đề xuất một số định hướng nhằm hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.

1. Thực trạng pháp luật về văn hóa, gia đình ở Việt Nam hiện nay

Lĩnh vực văn hóa, gia đình ở nước ta hiện nay đang có 05 luật, 01 pháp lệnh, 42 nghị định, 14 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và khoảng trên 100 thông tư, thông tư liên tịch điều chỉnh trực tiếp. Hệ thống này hiện đang điều chỉnh 10 nhiệm vụ quản lý về văn hóa, gia đình mà Chính phủ quy định tại Nghị định số 79/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Theo kết quả rà soát, đánh giá cho thấy, hệ thống văn bản pháp luật về văn hóa, gia đình hiện nay có nhiều ưu điểm, nhưng cũng tồn tại một số bất cập đòi hỏi phải được hoàn thiện trong thời gian tới.

1.1. Về ưu điểm và kết quả đạt được

Thứ nhất, hệ thống văn bản pháp luật về văn hóa, gia đình đã từng bước được hoàn thiện, bước đầu phát huy vai trò là nền tảng của sự phát triển, đã tác động sâu rộng đến đời sống của nhân dân, tích cực thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về văn hóa, gia đình, ghi nhận và cụ thể hóa các quyền và nghĩa vụ của nhân dân về văn hóa, gia đình; đồng thời cũng tạo điều kiện cho nhân dân - những chủ thể của văn hóa tham gia tích cực vào hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hóa

Quan điểm văn hóa, văn nghệ là sự nghiệp của toàn xã hội, huy động tiềm năng, nguồn lực của mọi lực lượng xã hội cùng tham gia phát triển sự nghiệp văn hóa đã dẫn đến những chuyển biến tích cực trong thực tiễn. Các công đoạn khác nhau của văn hóa trước đây chỉ thuộc trách nhiệm của Nhà nước (từ khâu sáng tạo, sản xuất đến phân phối) nay trở thành hoạt động thu hút được sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội, như cá nhân, cộng đồng, doanh nghiệp tư nhân, nhà đầu tư nước ngoài, nhà tài trợ nước ngoài, các tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận của Việt Nam và quốc tế. Sự tham gia của nhiều chủ thể văn hóa đã thúc đẩy sự đa dạng trong loại hình, ý tưởng, xu hướng và phong cách của các biểu đạt văn hóa, đem đến cho công chúng những món ăn tinh thần phong phú hơn.

Thứ hai, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, gia đình góp phần thúc đẩy các nguồn lực xã hội tham gia tích cực hơn vào lĩnh vực văn hóa, gia đình, đảm bảo để văn hóa phát triển phong phú, đa dạng hơn theo đúng các nguyên tắc, chuẩn mực pháp luật quy định

Pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, gia đình đã đóng vai trò là phương tiện để thực hiện chủ trương của Đảng về xã hội hóa hoạt động văn hóa, thu hút đầu tư cho văn hóa, gia đình, từng bước triển khai chủ trương phát triển các ngành Công nghiệp văn hóa. Vì vậy, hệ thống cơ sở vật chất về văn hóa từng bước được củng cố, phát triển; đời sống văn hóa từng bước được nâng cao; số lượng các tác phẩm văn học nghệ thuật ngày càng nhiều, năm sau cao hơn năm trước; các tác phẩm do Nhà nước đặt hàng và tài trợ về đề tài chiến tranh cách mạng, phản ánh quá khứ hào hùng của dân tộc đạt chất lượng nghề nghiệp cao, thành công về nghệ thuật và có tính nhân văn, đạt giải tại các kỳ liên hoan, hội thi, hội diễn trong nước và quốc tế.

Trên cơ sở các quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã chủ động, trách nhiệm hơn trong việc chung tay xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bảo đảm yêu cầu hội nhập và mở rộng giao lưu với các nước trên thế giới thông qua các hoạt động trao đổi, xuất nhập khẩu các sản phẩm văn hóa... đáp ứng ngày càng cao nhu cầu đời sống tinh thần của công chúng trong và ngoài nước. Các quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hóa cũng tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển quy mô, số lượng tác phẩm được xây dựng, sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu; cơ sở vật chất, kỹ thuật, nhà hát, nhà triển lãm đã từng bước được đầu tư, số lượng rạp chiếu phim đạt tiêu chuẩn quốc tế ngày càng tăng, hoạt động điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, di sản văn hóa... trong thời kỳ này đã bắt đầu hình thành các yếu tố để trở thành một bộ phận trong nền công nghiệp văn hóa. Khán giả được thưởng thức các tác phẩm điện ảnh mới đồng thời với các nước khác trên thế giới. Người đẹp, người mẫu Việt Nam được tham gia biểu diễn tại các cuộc thi, thị trường biểu diễn lớn của quốc tế. Ngày càng nhiều di sản văn hóa Việt Nam được UNESCO công nhận, vinh danh là di sản tiêu biểu của thế giới. Vấn đề thực thi bản quyền tương đối tốt, tạo uy tín cho các đối tác nước ngoài trong việc duy trì và phát triển mối quan hệ hợp tác về văn hóa... Hoạt động hợp tác quốc tế trong các hoạt động chuyên ngành đã góp phần thúc đẩy mở rộng giao lưu văn hóa với các nước, tạo được cầu nối, truyền bá văn hóa, lối sống cùng bản sắc Việt Nam và để bạn bè thế giới hiểu thêm về đất nước, con người Việt Nam.

Thứ ba, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, gia đình tương đối phù hợp với hệ thống pháp luật nói chung, công khai, minh bạch, có nhiều tiến bộ hơn trong vấn đề phân cấp và kiểm soát thủ tục hành chính

Trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống văn bản trong lĩnh vực văn hóa, gia đình đảm bảo nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đáp ứng các yêu cầu về kỹ thuật lập pháp. Các văn bản luật, nghị định, thông tư đều cơ bản bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật. Quá trình xây dựng văn bản, cơ quan chủ trì soạn thảo bám sát các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức nhiều hội thảo, xin ý kiến chuyên gia..., vì vậy, nhiều quy định chuyên sâu trong nghệ thuật vẫn được đưa vào văn bản pháp quy, giúp cho tính khả thi cao. Với tổng số 207 thủ tục hành chính, đã phân cấp về địa phương 121 thủ tục đơn giản, dễ tiếp cận, dễ thực hiện và ít thủ tục, tạo điều kiện cho người dân khi tham gia thực hiện quy định của pháp luật về văn hóa, gia đình.

Thứ tư, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, gia đình từng bước phù hợp, tương thích với pháp luật quốc tế

Trong thời gian qua, Việt Nam đã tích cực và sớm tham gia các công ước, điều ước quốc tế liên quan đến lĩnh vực văn hóa, gia đình và kịp thời thể chế hóa các nguyên tắc, chuẩn mực về các hoạt động liên quan đến ngành trong pháp luật quốc gia, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp luật cho việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

1.2. Về những tồn tại, hạn chế

Một là, hệ thống pháp luật về văn hóa, gia đình có số lượng lớn, cồng kềnh, nhiều văn bản có hiệu lực pháp lý và tính quy phạm chưa cao, thiếu những quy tắc xử sự cụ thể để các chủ thể phải thực hiện, nhiều văn bản chứa đựng những quy định mang tính tuyên ngôn hơn là quy phạm pháp luật

Hệ thống văn bản pháp luật về văn hóa, gia đình có khoảng 160 văn bản quy phạm pháp luật, gồm nhiều loại khác nhau từ luật, pháp lệnh đến thông tư (chưa tính văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành), với số lượng văn bản lớn như vậy thì việc tồn tại sự mâu thuẫn, chồng chéo là khó tránh khỏi, tính minh bạch giảm khiến cho pháp luật trở lên phức tạp, khó áp dụng. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật về văn hóa, gia đình còn thể hiện sự thiếu đồng bộ, theo đó có lĩnh vực có luật điều chỉnh, có lĩnh vực là nghị định, thậm chí, nhiều nội dung quản lý nhà nước chỉ được điều chỉnh bởi một thông tư. Đặc biệt, trong lĩnh vực văn hóa, còn rất nhiều lĩnh vực chuyên môn chưa có luật hoặc pháp lệnh điều chỉnh (nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh, xây dựng môi trường văn hóa, thiết chế văn hóa, tuyên truyền cổ động chính trị, quyền và nghĩa vụ của văn nghệ sỹ...), thậm chí, chưa có văn bản điều chỉnh (lĩnh vực văn học, quản lý hoạt động trò chơi...), điều này ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý nhà nước về từng lĩnh vực vì mỗi lĩnh vực cần hệ thống chính sách để phát triển, những chính sách này theo Hiến pháp năm 2013 chỉ có thể được xác định một cách đầy đủ, rõ ràng, áp dụng bắt buộc khi được thể chế trong văn bản luật, ngoài ra, mỗi lĩnh vực có mối liên hệ chặt chẽ với một số ngành, lĩnh vực khác như đầu tư kinh doanh, di sản, bản quyền, lao động, giáo dục đào tạo... các ngành, lĩnh vực này đều đã có luật điều chỉnh nên khi xử lý những vấn đề liên ngành thì lĩnh vực chưa có luật khó bảo vệ được nhiệm vụ đặc thù để đáp ứng yêu cầu quản lý chuyên môn.

Hai là, hệ thống pháp luật về văn hóa, gia đình chưa thể chế hóa đầy đủ, toàn diện chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban chấp hành Trung ương khóa XI, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Hiến pháp năm 2013 về phát triển văn hóa, gia đình và mục tiêu xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

Nghị quyết số 33-NQ/TW và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng xác định phương hướng, mục tiêu phát triển văn hóa, gia đình và xây dựng con người mới với nhiều nội dung có tính định hướng mới, theo đó, phương hướng, mục tiêu chung là xây dựng nền văn hóa và còn người Việt Nam phát triển toàn diện hướng đến chân - thiện -mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Với các mục tiêu định hướng nêu trên, có thể thấy rằng, hệ thống pháp luật hiện hành về văn hóa, gia đình còn nhiều hạn chế, cụ thể:

(i) Chưa thực sự tạo được nền tảng, hành lang pháp lý căn bản để xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, chất lượng. Hiệu quả hoạt động văn hóa còn chưa tương xứng với yêu cầu, điều này làm giảm đáng kể hiệu quả quản lý nhà nước của ngành, làm phát sinh nhiều bất cập trong các hoạt động thực tiễn.

(ii) Chưa triển khai đầy đủ nhiệm vụ xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế. Đây là nhiệm vụ khó khăn đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới trong việc xây dựng pháp luật và chính sách văn hóa, trong đó quan điểm về vai trò thực sự của văn hóa trong phát triển cũng như quyền văn hóa phải được đặt ra như một nền tảng thực sự.

(iii) Hệ thống pháp luật hiện hành về văn hóa, gia đình chưa cải thiện tốt môi trường kinh doanh sản phẩm, dịch vụ văn hóa để thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh; chính sách ưu đãi, khuyến khích sáng tạo, khởi nghiệp còn chưa đáp ứng được yêu cầu; cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và phân cấp quản lý hành chính cho chính quyền địa phương chưa hiệu quả.

2. Một số định hướng hoàn thiện pháp luật về văn hóa, gia đình ở Việt Nam

Với tình hình thực tiễn nêu trên, để có lộ trình cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về văn hóa, gia đình trong thời gian tới, cần dựa trên một số định hướng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, cần xây dựng Luật, pháp lệnh để điều chỉnh những lĩnh vực quan trọng nhằm cụ thể hóa các nội dung của Hiến pháp năm 2013 về văn hóa và quyền con người, quyền công dân về văn hóa, đặc biệt những lĩnh vực hiện đang được điều chỉnh bằng nghị định như: Nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, hoạt động văn hóa công cộng và kinh doanh dịch vụ văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa, quyền và nghĩa vụ của văn nghệ sỹ… Xây dựng nghị định để điều chỉnh những lĩnh vực hiện chưa có văn bản điều chỉnh hoặc đã có nhưng là điều chỉnh ở một hoặc nhiều thông tư của Bộ trưởng nên chưa có tính hệ thống cao, toàn diện, xác định quyền và nghĩa vụ chỉ ở trong phạm vi ngành, lĩnh vực, chưa điều chỉnh được những vấn đề có tính chất liên ngành như quản lý danh hiệu văn hóa, thiết chế văn hóa, quản lý hoạt động văn học, suy tôn danh nhân, quản lý di sản thế giới tại Việt Nam… Sửa đổi các quy định pháp luật ở một số lĩnh vực cho phù hợp với thực tiễn như di sản văn hóa, điện ảnh, quyền tác giả, đặt tên đường phố, quản lý hoạt động của tổ chức văn hóa nước ngoài tại Việt Nam…

Thứ hai, xây dựng, ban hành chính sách kinh tế - vǎn hóa nhằm gắn vǎn hóa với các hoạt động kinh tế, khai thác tiềm nǎng kinh tế, tài chính hỗ trợ cho phát triển vǎn hóa, đồng thời bảo đảm yêu cầu chính trị, tư tưởng của hoạt động vǎn hóa, giữ gìn bản sắc vǎn hóa dân tộc. Thực hiện cơ chế mở rộng hoạt động kinh doanh dịch vụ (hoạt động thể thao, dịch vụ vǎn hóa...), tạo nguồn thu hỗ trợ cho hoạt động sự nghiệp của các đơn vị vǎn hóa, nghệ thuật. Cải tiến chế độ tài trợ, đặt hàng đối với điện ảnh, biểu diễn nghệ thuật. Quy định cụ thể chế độ cho các doanh nghiệp đặc thù của ngành vǎn hóa (hãng phim, rạp chiếu bóng, hiệu sách, khu vui chơi giải trí, nhà xuất bản, trung tâm triển lãm, tu bổ di tích...) được hưởng mức thuế ưu đãi trong hoạt động kinh doanh (thuế đất, thuế vốn khấu hao cơ bản...). Cho phép các thành phần kinh tế, kể cả tư nhân trong nước và nước ngoài, thực hiện một số hình thức liên doanh, liên kết với một số cơ sở hoạt động vǎn hóa theo quy định của pháp luật nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ và tham gia tổ chức một số hoạt động vǎn hóa có nội dung lành mạnh, bổ ích.

Thứ ba, xây dựng, ban hành chính sách vǎn hóa trong kinh tế bảo đảm cho vǎn hóa thể hiện rõ trong các hoạt động kinh tế, đồng thời thúc đẩy các hoạt động kinh tế tạo điều kiện nhiều hơn cho sự nghiệp phát triển vǎn hóa. Việc xây dựng các mục tiêu, giải pháp kinh tế phải gắn với các mục tiêu, giải pháp vǎn hóa, chǎm lo con người, nêu cao đạo đức trong sản xuất kinh doanh. Xây dựng vǎn minh thương mại, đạo đức nghề nghiệp, vǎn hóa kinh doanh, chú ý tính thẩm mỹ, bản sắc dân tộc và tính hiện đại của kiến trúc trong xây dựng các khu dân cư, khu công nghiệp... Trong quy hoạch xây dựng các công trình lớn phải tính đến một số thiết chế vǎn hóa cần thiết nhất như thư viện, nhà thông tin, khu giải trí, bảo đảm cảnh quan môi trường cho các di tích lịch sử, vǎn hóa và danh lam thắng cảnh. Thực hiện chính sách miễn, giảm phần chịu thuế cho các khoản đầu tư, đóng góp của các doanh nghiệp vào sự nghiệp vǎn hóa. Hoàn thiện chính sách xã hội hóa hoạt động vǎn hóa nhằm động viên sức người, sức của của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội để xây dựng và phát triển vǎn hóa được tiến hành đồng thời với việc nâng cao vai trò và trách nhiệm của Nhà nước. Các cơ quan chủ quản về vǎn hóa của Nhà nước phải làm tốt chức nǎng quản lý và hướng dẫn nghiệp vụ đối với các hoạt động xã hội về vǎn hóa.

Thứ tư, xây dựng chính sách khuyến khích sáng tạo trong các hoạt động vǎn hóa đòi hỏi tǎng nguồn đầu tư thích đáng cho khu vực sáng tạo vǎn hóa, vǎn học, nghệ thuật. Chú trọng đầu tư hỗ trợ cho những tác giả có uy tín cao, những tài nǎng trẻ, đầu tư cho lực lượng chuyên nghiệp và cả cho phong trào quần chúng. Có chính sách chǎm sóc đặc biệt đối với các vǎn nghệ sĩ cao tuổi tiêu biểu, các mầm non nghệ thuật xuất sắc. Sửa đổi chế độ nhuận bút phù hợp với tình hình mới; có chính sách khuyến khích đối với lao động nghệ thuật và báo chí. Thành lập Quỹ vǎn hóa quốc gia và Quỹ sáng tác của các Hội vǎn học, nghệ thuật, tạo thêm nguồn hỗ trợ tài chính cho xây dựng các tác phẩm. Có chính sách khuyến khích các vǎn nghệ sĩ gắn bó với cơ sở, với thực tiễn lao động sản xuất.

Lê Thanh Liêm

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: