Thứ ba 28/07/2026 14:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phát huy vai trò của công chức trẻ Bộ Tư pháp trong công tác xây dựng pháp luật

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) đã đánh giá: “Hệ thống pháp luật đã được hoàn thiện một bước cơ bản; vai trò của pháp luật và việc thực thi pháp luật được chú trọng trong tổ chức, hoạt động của Nhà nước và xã hội”, tuy nhiên, “hệ thống pháp luật còn một số bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn”. Một trong những nhiệm vụ, giải pháp mà Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt ra là “nâng cao năng lực, trình độ, bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng và thi hành pháp luật”. Bài viết khái quát về sự tham gia của công chức trẻ Bộ Tư pháp trong công tác xây dựng pháp luật và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của công chức trẻ Bộ Tư pháp trong bối cảnh hoàn thiện thể chế đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

1. Sự tham gia của công chức trẻ Bộ Tư pháp trong công tác xây dựng pháp luật

Một trong những chức năng, nhiệm vụ chính của Bộ Tư pháp là thực hiện quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật[1]. Bên cạnh việc chủ trì xây dựng những dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được phân công và ban hành thông tư theo thẩm quyền, Bộ Tư pháp còn thực hiện chức năng, nhiệm vụ thẩm định các đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Công chức trẻ Bộ Tư pháp, nhất là công chức của những đơn vị xây dựng pháp luật (Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế, Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, Vụ Pháp luật quốc tế, Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật) có nhiều cơ hội tham gia trực tiếp vào việc xây dựng, góp ý, thẩm định các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Các công chức trẻ có thể được phân công thực hiện nhiều hoạt động, công việc như:

Một là, tham gia hoặc trực tiếp thực hiện nghiên cứu, tham mưu, xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật mà đơn vị công tác được phân công chủ trì thực hiện.

Đối với các văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo (ví dụ như: Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Phòng, chống mua bán người, Luật Luật sư, Luật Đấu giá tài sản, Luật Công chứng, Luật Giám định tư pháp, Luật Thi hành án dân sự, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Thủ đô, Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật… và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành), các công chức trẻ thường được tham gia vào quá trình xây dựng văn bản từ giai đoạn “phôi thai” - nghiên cứu, đề xuất xây dựng văn bản, đến các công đoạn tiếp theo của quá trình soạn thảo, chỉnh lý, hoàn thiện văn bản để trình cấp có thẩm quyền ban hành. Trong những công đoạn của quy trình xây dựng văn bản, công chức trẻ có thể được giao nghiên cứu những vấn đề bất cập thực tiễn để phát hiện những vướng mắc pháp lý cần giải quyết; rà soát quy định pháp luật có liên quan để phát hiện quy định có mâu thuẫn, chồng chéo, hoặc khoảng trống pháp lý; nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật nước ngoài; tham gia tổ chức khảo sát thực tiễn, hội thảo, tọa đàm, cuộc họp cho ý kiến về nội dung dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật...

Hai là, tham gia hoặc trực tiếp thực hiện nghiên cứu, tham mưu, chuẩn bị ý kiến góp ý, thẩm định đối với các hồ sơ đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Đây là hoạt động thường xuyên và trọng tâm của Bộ Tư pháp, trong đó, chức năng thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Trình tự, thủ tục, hồ sơ thẩm định và các tiêu chí thẩm định được thực hiện chặt chẽ theo quy định của Luật và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020). Số lượng các văn bản thẩm định hàng năm của Bộ Tư pháp là rất lớn, trách nhiệm thẩm định ngày càng nặng nề. Từ năm 2021 đến ngày 31/5/2023, Bộ Tư pháp đã thẩm định 533 dự án, dự thảo và 71 đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật[2]. Công chức trẻ được giao tổ chức các cuộc họp hội đồng thẩm định hoặc hội đồng tư vấn thẩm định các đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; thực hiện nghiên cứu, chuẩn bị ý kiến thẩm định, xây dựng dự thảo báo cáo thẩm định…

Ba là, công chức trẻ cũng được giao tham gia hoặc trực tiếp thực hiện nghiên cứu, tham mưu, chuẩn bị ý kiến đối với các vấn đề pháp lý phát sinh trong thực tiễn theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, ngành, địa phương (ví dụ như: Nghiên cứu, tham mưu giải quyết những vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình phòng, chống đại dịch Covid-19); rà soát văn bản quy phạm pháp luật, đánh giá về tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, đề xuất các giải pháp, giải quyết vướng mắc, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật (ví dụ như: Tham gia giúp việc cho Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản quy phạm pháp luật; rà soát quy định pháp luật liên quan đến quản lý dân cư theo Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 được ban hành kèm theo Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030).

Bên cạnh những nỗ lực, phấn đấu hàng ngày trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của từng công chức trẻ, Ban chấp hành Đoàn thanh niên Bộ Tư pháp cũng tổ chức nhiều hoạt động thiết thực để huy động sự tham gia và trí tuệ của công chức trẻ vào các sự kiện chính trị - pháp lý quan trọng của đất nước (như hoạt động tổ chức nghiên cứu, góp ý dự thảo Hiến pháp sửa đổi) và đóng góp ý kiến vào các dự án luật quan trọng, ví dụ như tổ chức diễn đàn “Phổ biến, lấy ý kiến thanh niên về dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)[3], diễn đàn “Lấy ý kiến góp ý dự thảo Luật Thanh niên (sửa đổi)”[4]… Những hoạt động mang tính chất chuyên môn của thanh niên Bộ Tư pháp cũng là một kênh hiệu quả để công chức trẻ được trau dồi, thảo luận và chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức thực tiễn, huy động sự tham gia của công chức trẻ Bộ Tư pháp trong các sự kiện chính trị - pháp lý quan trọng của đất nước.

2. Một số nhận xét

Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp nói chung và của từng đơn vị nói riêng, công chức trẻ Bộ Tư pháp có điều kiện tham gia nhiều hoạt động xây dựng pháp luật. Tùy theo năng lực, kinh nghiệm công tác mà công chức trẻ được phân công những nhiệm vụ, công việc phù hợp.

Các công việc chủ yếu mà công chức trẻ thường được giao là: Nghiên cứu, rà soát các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến vấn đề cần giải quyết và nội dung chính sách được đề xuất; nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về các vấn đề có liên quan; tham gia xây dựng một số văn bản trong hồ sơ văn bản (như tờ trình, báo cáo đánh giá tác động chính sách, báo cáo thực trạng pháp luật và thực tiễn, báo cáo tổng hợp ý kiến của các cơ quan…), tổng hợp ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức các cuộc họp, hội thảo, tọa đàm... Đối với những văn bản khó, phức tạp, công chức trẻ thường được giao chuẩn bị nội dung sơ thảo trên cơ sở hướng dẫn của cấp trên hoặc của công chức có nhiều năm kinh nghiệm hơn. Đối với những dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan khác chủ trì, công chức trẻ có thể được Bộ Tư pháp cử tham gia với vai trò là thành viên tổ biên tập (ví dụ như: Tổ biên tập xây dựng nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ).

Quá trình tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là quá trình các công chức trẻ được trau dồi tư duy pháp lý, kiến thức chuyên môn, kỹ năng phân tích, đánh giá tác động chính sách, kỹ năng soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, kỹ năng tổ chức cuộc họp, làm việc nhóm… Về cơ bản, Lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp rất quan tâm, chú trọng và tạo điều kiện để công chức trẻ được rèn luyện và trưởng thành trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao. Thực tiễn cho thấy, đội ngũ công chức trẻ đã có đóng góp quan trọng vào thành tựu chung của cơ quan, đơn vị, phối hợp và hỗ trợ hiệu quả trong việc triển khai các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn của đơn vị, của Bộ và Ngành Tư pháp, nhất là nhiệm vụ xây dựng, góp ý, thẩm định, rà soát văn bản quy phạm pháp luật.

Đội ngũ công chức trẻ có ưu điểm và lợi thế là năng động, sáng tạo; được tiếp cận với nguồn thông tin đa chiều; ham học hỏi; có nhiều cơ hội học tập, trau dồi, rèn luyện. Tuy nhiên, xuất phát từ tuổi đời và tuổi nghề còn trẻ nên công chức trẻ có những hạn chế nhất định, ví dụ như: Thiếu kinh nghiệm, kỹ năng, kiến thức thực tiễn, kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực pháp luật được giao phụ trách, theo dõi; tầm nhìn thiếu bao quát, vĩ mô; khả năng phân tích, đánh giá tác động chính sách đôi khi chưa toàn diện và sâu sắc.

3. Kiến nghị giải pháp nhằm phát huy vai trò của công chức trẻ Bộ Tư pháp trong công tác xây dựng pháp luật

Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt ra mục tiêu xây dựng “hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, mở đường cho đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán”. Ngày 14/8/2023, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 126/NQ-CP về một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật nhằm ngăn ngừa tình trạng tham nhũng, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ, trong đó nhấn mạnh quan điểm “siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác xây dựng pháp luật; thực hiện nghiêm Quy định số 69-QĐ/TW ngày 06/7/2022 của Ban chấp hành Trung ương quy định về tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Tăng cường công tác thẩm định, kiểm tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm trong xây dựng và thi hành pháp luật.

Bối cảnh và yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện nay đặt ra nhiều cơ hội và thách thức đối với đội ngũ công chức trẻ Bộ Tư pháp. Để bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, chuyên môn, phát huy được thế mạnh của đội ngũ công chức trẻ, góp phần xây dựng nền tảng cho một thế hệ công chức bản lĩnh và trình độ cao của Bộ Tư pháp trong tương lai thì cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Tác giả đề xuất 03 giải pháp chính sau đây:

Thứ nhất, tăng cường hơn nữa công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị của các công chức trẻ; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức trẻ, phát huy truyền thống “truyền nghề” giữa các thế hệ cán bộ, công chức của Bộ; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị trong việc sử dụng công chức trẻ, tạo điều kiện để công chức trẻ học hỏi qua thực tiễn công việc và phát huy được năng lực, sở trường; xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, dân chủ, công bằng, văn minh, hiệu quả.

Thứ hai, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cần đổi mới phương pháp, nội dung bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ. Về vấn đề này, có thể nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài để thiết kế các chương trình bồi dưỡng hiệu quả, thiết thực, có tính thực hành và ứng dụng cao. Ví dụ như: Tại Nhật Bản, Học viện Hành chính quốc gia có tổ chức khóa bồi dưỡng ngắn hạn cho công chức lãnh đạo cấp phòng, trong đó nội dung trọng tâm là thực hành việc tổ chức thảo luận, thuyết trình về vấn đề chính sách và giải pháp hoàn thiện pháp luật; mỗi người tham gia cần chuẩn bị 03 vấn đề chính sách, với mỗi vấn đề cần xác định rõ bất cập thực tiễn, giải pháp chính sách và đánh giá tác động của các giải pháp để lựa chọn phương án tối ưu; trong mỗi phiên thảo luận, người tham gia phải thuyết trình về vấn đề của mình và lắng nghe ý kiến phản biện của những người tham gia. Quá trình này giúp rèn luyện tư duy và kỹ năng phân tích, phản biện chính sách của những người tham gia khóa bồi dưỡng.

Thứ ba, bản thân mỗi công chức trẻ cần nhận thức được đầy đủ trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao; chú trọng nghiên cứu, tìm hiểu các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng để thể chế hóa trong xây dựng pháp luật. Việc nghiên cứu kỹ lưỡng các nội dung chủ trương, chính sách của Đảng, nhất là những văn kiện có tính chiến lược (như Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết đại hội Đảng, nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương) và các văn kiện mới ban hành liên quan trực tiếp đến lĩnh vực pháp luật được giao phụ trách, theo dõi sẽ giúp công chức trẻ nâng cao chất lượng tham mưu, bảo đảm thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn các chủ trương, đường lối của Đảng. Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, công chức trẻ cần lưu ý tiếp cận các thông tin chính thống và bảo đảm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bên cạnh đó, công chức trẻ cần không ngừng học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện lời dạy của Bác về nêu cao gương “phụng công, thủ pháp, chí công vô tư”; thay đổi lề lối làm việc, bảo đảm khoa học, chuyên nghiệp, trách nhiệm; chủ động trau dồi trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức thực tiễn; tích cực tham gia các cuộc họp, hội thảo, tọa đàm trong quá trình theo dõi việc xây dựng, chỉnh lý dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; tiếp cận đầy đủ, đa dạng các nguồn thông tin, kiến thức liên quan đến lĩnh vực pháp luật nói chung và văn bản cụ thể nói riêng… Quá trình tham mưu, chuẩn bị các ý kiến, văn bản để trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định, công chức trẻ cần nghiên cứu kỹ lưỡng, thấu đáo, bám sát các nguyên tắc cơ bản của xây dựng pháp luật, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận.

Quá trình học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn và kinh nghiệm là quá trình tích lũy bền bỉ, lâu dài, do đó, các công chức trẻ Bộ Tư pháp cần có quyết tâm cao, vượt qua những thử thách và áp lực công việc để đóng góp vào sự nghiệp chung của Bộ, Ngành Tư pháp, “góp phần làm cho luật pháp của ta tốt hơn, càng ngày càng phong phú hơn. Phải cố gắng làm cho luật pháp dân chủ ngày càng nhiều hơn, tốt hơn”[5].

ThS. Đỗ Thị Huệ

Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, Bộ Tư pháp

[1]. Điều 1 Nghị định số 98/2023/NĐ-CP ngày 29/11/2023 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp.

[2]. Theo Báo cáo số 255/BC-BTP ngày 10/8/2023 của Bộ Tư pháp khái quát một số nội dung cơ bản về các nhóm vấn đề chất vấn tại Phiên họp thứ 25 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[3]. Huy động trí tuệ, đề cao trách nhiệm của thanh niên vào việc xây dựng dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi), https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/hoat-dong-cua-lanh-dao-bo.aspx?ItemID=2366, truy cập ngày 10/10/2023.

[4]. Diễn đàn “Lấy ý kiến góp ý dự thảo Luật Thanh niên (sửa đổi)”, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/hoat-dong-cua-cac-to-chuc-chinh-tri-xh.aspx?ItemID=1506, truy cập ngày 10/10/2023.

[5]. Tạ Tự Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh với Ngành Tư pháp Việt Nam, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=634, truy cập ngày 10/10/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 391), tháng 10/2023)

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) đã đánh giá: “Hệ thống pháp luật đã được hoàn thiện một bước cơ bản; vai trò của pháp luật và việc thực thi pháp luật được chú trọng trong tổ chức, hoạt động của Nhà nước và xã hội”, tuy nhiên, “hệ thống pháp luật còn một số bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn”. Một trong những nhiệm vụ, giải pháp mà Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt ra là “nâng cao năng lực, trình độ, bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng và thi hành pháp luật”. Bài viết khái quát về sự tham gia của công chức trẻ Bộ Tư pháp trong công tác xây dựng pháp luật và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của công chức trẻ Bộ Tư pháp trong bối cảnh hoàn thiện thể chế đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

1. Sự tham gia của công chức trẻ Bộ Tư pháp trong công tác xây dựng pháp luật

Một trong những chức năng, nhiệm vụ chính của Bộ Tư pháp là thực hiện quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật[1]. Bên cạnh việc chủ trì xây dựng những dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được phân công và ban hành thông tư theo thẩm quyền, Bộ Tư pháp còn thực hiện chức năng, nhiệm vụ thẩm định các đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Công chức trẻ Bộ Tư pháp, nhất là công chức của những đơn vị xây dựng pháp luật (Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế, Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, Vụ Pháp luật quốc tế, Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật) có nhiều cơ hội tham gia trực tiếp vào việc xây dựng, góp ý, thẩm định các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Các công chức trẻ có thể được phân công thực hiện nhiều hoạt động, công việc như:

Một là, tham gia hoặc trực tiếp thực hiện nghiên cứu, tham mưu, xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật mà đơn vị công tác được phân công chủ trì thực hiện.

Đối với các văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo (ví dụ như: Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Phòng, chống mua bán người, Luật Luật sư, Luật Đấu giá tài sản, Luật Công chứng, Luật Giám định tư pháp, Luật Thi hành án dân sự, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Thủ đô, Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật… và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành), các công chức trẻ thường được tham gia vào quá trình xây dựng văn bản từ giai đoạn “phôi thai” - nghiên cứu, đề xuất xây dựng văn bản, đến các công đoạn tiếp theo của quá trình soạn thảo, chỉnh lý, hoàn thiện văn bản để trình cấp có thẩm quyền ban hành. Trong những công đoạn của quy trình xây dựng văn bản, công chức trẻ có thể được giao nghiên cứu những vấn đề bất cập thực tiễn để phát hiện những vướng mắc pháp lý cần giải quyết; rà soát quy định pháp luật có liên quan để phát hiện quy định có mâu thuẫn, chồng chéo, hoặc khoảng trống pháp lý; nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật nước ngoài; tham gia tổ chức khảo sát thực tiễn, hội thảo, tọa đàm, cuộc họp cho ý kiến về nội dung dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật...

Hai là, tham gia hoặc trực tiếp thực hiện nghiên cứu, tham mưu, chuẩn bị ý kiến góp ý, thẩm định đối với các hồ sơ đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Đây là hoạt động thường xuyên và trọng tâm của Bộ Tư pháp, trong đó, chức năng thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Trình tự, thủ tục, hồ sơ thẩm định và các tiêu chí thẩm định được thực hiện chặt chẽ theo quy định của Luật và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020). Số lượng các văn bản thẩm định hàng năm của Bộ Tư pháp là rất lớn, trách nhiệm thẩm định ngày càng nặng nề. Từ năm 2021 đến ngày 31/5/2023, Bộ Tư pháp đã thẩm định 533 dự án, dự thảo và 71 đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật[2]. Công chức trẻ được giao tổ chức các cuộc họp hội đồng thẩm định hoặc hội đồng tư vấn thẩm định các đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; thực hiện nghiên cứu, chuẩn bị ý kiến thẩm định, xây dựng dự thảo báo cáo thẩm định…

Ba là, công chức trẻ cũng được giao tham gia hoặc trực tiếp thực hiện nghiên cứu, tham mưu, chuẩn bị ý kiến đối với các vấn đề pháp lý phát sinh trong thực tiễn theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, ngành, địa phương (ví dụ như: Nghiên cứu, tham mưu giải quyết những vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình phòng, chống đại dịch Covid-19); rà soát văn bản quy phạm pháp luật, đánh giá về tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, đề xuất các giải pháp, giải quyết vướng mắc, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật (ví dụ như: Tham gia giúp việc cho Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản quy phạm pháp luật; rà soát quy định pháp luật liên quan đến quản lý dân cư theo Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 được ban hành kèm theo Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030).

Bên cạnh những nỗ lực, phấn đấu hàng ngày trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của từng công chức trẻ, Ban chấp hành Đoàn thanh niên Bộ Tư pháp cũng tổ chức nhiều hoạt động thiết thực để huy động sự tham gia và trí tuệ của công chức trẻ vào các sự kiện chính trị - pháp lý quan trọng của đất nước (như hoạt động tổ chức nghiên cứu, góp ý dự thảo Hiến pháp sửa đổi) và đóng góp ý kiến vào các dự án luật quan trọng, ví dụ như tổ chức diễn đàn “Phổ biến, lấy ý kiến thanh niên về dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)[3], diễn đàn “Lấy ý kiến góp ý dự thảo Luật Thanh niên (sửa đổi)”[4]… Những hoạt động mang tính chất chuyên môn của thanh niên Bộ Tư pháp cũng là một kênh hiệu quả để công chức trẻ được trau dồi, thảo luận và chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức thực tiễn, huy động sự tham gia của công chức trẻ Bộ Tư pháp trong các sự kiện chính trị - pháp lý quan trọng của đất nước.

2. Một số nhận xét

Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp nói chung và của từng đơn vị nói riêng, công chức trẻ Bộ Tư pháp có điều kiện tham gia nhiều hoạt động xây dựng pháp luật. Tùy theo năng lực, kinh nghiệm công tác mà công chức trẻ được phân công những nhiệm vụ, công việc phù hợp.

Các công việc chủ yếu mà công chức trẻ thường được giao là: Nghiên cứu, rà soát các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến vấn đề cần giải quyết và nội dung chính sách được đề xuất; nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về các vấn đề có liên quan; tham gia xây dựng một số văn bản trong hồ sơ văn bản (như tờ trình, báo cáo đánh giá tác động chính sách, báo cáo thực trạng pháp luật và thực tiễn, báo cáo tổng hợp ý kiến của các cơ quan…), tổng hợp ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức các cuộc họp, hội thảo, tọa đàm... Đối với những văn bản khó, phức tạp, công chức trẻ thường được giao chuẩn bị nội dung sơ thảo trên cơ sở hướng dẫn của cấp trên hoặc của công chức có nhiều năm kinh nghiệm hơn. Đối với những dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan khác chủ trì, công chức trẻ có thể được Bộ Tư pháp cử tham gia với vai trò là thành viên tổ biên tập (ví dụ như: Tổ biên tập xây dựng nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ).

Quá trình tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là quá trình các công chức trẻ được trau dồi tư duy pháp lý, kiến thức chuyên môn, kỹ năng phân tích, đánh giá tác động chính sách, kỹ năng soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, kỹ năng tổ chức cuộc họp, làm việc nhóm… Về cơ bản, Lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp rất quan tâm, chú trọng và tạo điều kiện để công chức trẻ được rèn luyện và trưởng thành trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao. Thực tiễn cho thấy, đội ngũ công chức trẻ đã có đóng góp quan trọng vào thành tựu chung của cơ quan, đơn vị, phối hợp và hỗ trợ hiệu quả trong việc triển khai các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn của đơn vị, của Bộ và Ngành Tư pháp, nhất là nhiệm vụ xây dựng, góp ý, thẩm định, rà soát văn bản quy phạm pháp luật.

Đội ngũ công chức trẻ có ưu điểm và lợi thế là năng động, sáng tạo; được tiếp cận với nguồn thông tin đa chiều; ham học hỏi; có nhiều cơ hội học tập, trau dồi, rèn luyện. Tuy nhiên, xuất phát từ tuổi đời và tuổi nghề còn trẻ nên công chức trẻ có những hạn chế nhất định, ví dụ như: Thiếu kinh nghiệm, kỹ năng, kiến thức thực tiễn, kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực pháp luật được giao phụ trách, theo dõi; tầm nhìn thiếu bao quát, vĩ mô; khả năng phân tích, đánh giá tác động chính sách đôi khi chưa toàn diện và sâu sắc.

3. Kiến nghị giải pháp nhằm phát huy vai trò của công chức trẻ Bộ Tư pháp trong công tác xây dựng pháp luật

Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt ra mục tiêu xây dựng “hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, mở đường cho đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán”. Ngày 14/8/2023, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 126/NQ-CP về một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật nhằm ngăn ngừa tình trạng tham nhũng, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ, trong đó nhấn mạnh quan điểm “siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác xây dựng pháp luật; thực hiện nghiêm Quy định số 69-QĐ/TW ngày 06/7/2022 của Ban chấp hành Trung ương quy định về tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Tăng cường công tác thẩm định, kiểm tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm trong xây dựng và thi hành pháp luật.

Bối cảnh và yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện nay đặt ra nhiều cơ hội và thách thức đối với đội ngũ công chức trẻ Bộ Tư pháp. Để bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, chuyên môn, phát huy được thế mạnh của đội ngũ công chức trẻ, góp phần xây dựng nền tảng cho một thế hệ công chức bản lĩnh và trình độ cao của Bộ Tư pháp trong tương lai thì cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Tác giả đề xuất 03 giải pháp chính sau đây:

Thứ nhất, tăng cường hơn nữa công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị của các công chức trẻ; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức trẻ, phát huy truyền thống “truyền nghề” giữa các thế hệ cán bộ, công chức của Bộ; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị trong việc sử dụng công chức trẻ, tạo điều kiện để công chức trẻ học hỏi qua thực tiễn công việc và phát huy được năng lực, sở trường; xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, dân chủ, công bằng, văn minh, hiệu quả.

Thứ hai, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cần đổi mới phương pháp, nội dung bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ. Về vấn đề này, có thể nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài để thiết kế các chương trình bồi dưỡng hiệu quả, thiết thực, có tính thực hành và ứng dụng cao. Ví dụ như: Tại Nhật Bản, Học viện Hành chính quốc gia có tổ chức khóa bồi dưỡng ngắn hạn cho công chức lãnh đạo cấp phòng, trong đó nội dung trọng tâm là thực hành việc tổ chức thảo luận, thuyết trình về vấn đề chính sách và giải pháp hoàn thiện pháp luật; mỗi người tham gia cần chuẩn bị 03 vấn đề chính sách, với mỗi vấn đề cần xác định rõ bất cập thực tiễn, giải pháp chính sách và đánh giá tác động của các giải pháp để lựa chọn phương án tối ưu; trong mỗi phiên thảo luận, người tham gia phải thuyết trình về vấn đề của mình và lắng nghe ý kiến phản biện của những người tham gia. Quá trình này giúp rèn luyện tư duy và kỹ năng phân tích, phản biện chính sách của những người tham gia khóa bồi dưỡng.

Thứ ba, bản thân mỗi công chức trẻ cần nhận thức được đầy đủ trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao; chú trọng nghiên cứu, tìm hiểu các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng để thể chế hóa trong xây dựng pháp luật. Việc nghiên cứu kỹ lưỡng các nội dung chủ trương, chính sách của Đảng, nhất là những văn kiện có tính chiến lược (như Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết đại hội Đảng, nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương) và các văn kiện mới ban hành liên quan trực tiếp đến lĩnh vực pháp luật được giao phụ trách, theo dõi sẽ giúp công chức trẻ nâng cao chất lượng tham mưu, bảo đảm thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn các chủ trương, đường lối của Đảng. Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, công chức trẻ cần lưu ý tiếp cận các thông tin chính thống và bảo đảm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bên cạnh đó, công chức trẻ cần không ngừng học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện lời dạy của Bác về nêu cao gương “phụng công, thủ pháp, chí công vô tư”; thay đổi lề lối làm việc, bảo đảm khoa học, chuyên nghiệp, trách nhiệm; chủ động trau dồi trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức thực tiễn; tích cực tham gia các cuộc họp, hội thảo, tọa đàm trong quá trình theo dõi việc xây dựng, chỉnh lý dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; tiếp cận đầy đủ, đa dạng các nguồn thông tin, kiến thức liên quan đến lĩnh vực pháp luật nói chung và văn bản cụ thể nói riêng… Quá trình tham mưu, chuẩn bị các ý kiến, văn bản để trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định, công chức trẻ cần nghiên cứu kỹ lưỡng, thấu đáo, bám sát các nguyên tắc cơ bản của xây dựng pháp luật, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận.

Quá trình học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn và kinh nghiệm là quá trình tích lũy bền bỉ, lâu dài, do đó, các công chức trẻ Bộ Tư pháp cần có quyết tâm cao, vượt qua những thử thách và áp lực công việc để đóng góp vào sự nghiệp chung của Bộ, Ngành Tư pháp, “góp phần làm cho luật pháp của ta tốt hơn, càng ngày càng phong phú hơn. Phải cố gắng làm cho luật pháp dân chủ ngày càng nhiều hơn, tốt hơn”[5].

ThS. Đỗ Thị Huệ

Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, Bộ Tư pháp

[1]. Điều 1 Nghị định số 98/2023/NĐ-CP ngày 29/11/2023 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp.

[2]. Theo Báo cáo số 255/BC-BTP ngày 10/8/2023 của Bộ Tư pháp khái quát một số nội dung cơ bản về các nhóm vấn đề chất vấn tại Phiên họp thứ 25 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[3]. Huy động trí tuệ, đề cao trách nhiệm của thanh niên vào việc xây dựng dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi), https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/hoat-dong-cua-lanh-dao-bo.aspx?ItemID=2366, truy cập ngày 10/10/2023.

[4]. Diễn đàn “Lấy ý kiến góp ý dự thảo Luật Thanh niên (sửa đổi)”, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/hoat-dong-cua-cac-to-chuc-chinh-tri-xh.aspx?ItemID=1506, truy cập ngày 10/10/2023.

[5]. Tạ Tự Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh với Ngành Tư pháp Việt Nam, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=634, truy cập ngày 10/10/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 391), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: