Thứ năm 12/03/2026 17:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quan niệm về sự ổn định của pháp luật ảnh hưởng đến tư duy lập pháp và hoạt động giải thích pháp luật

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích những ưu điểm, hạn chế của quan niệm luật là “sống” (tức là nó sẽ vận động, sẽ được giải thích theo sự phát triển của xã hội) hay luật là “chết

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích những ưu điểm, hạn chế của quan niệm luật là “sống” (tức là nó sẽ vận động, sẽ được giải thích theo sự phát triển của xã hội) hay luật là “chết” (tức là nó chỉ được áp dụng giống như những gì mà cơ quan có thẩm quyền đã ban hành ra nó, tại thời điểm nó ra đời) đối với hoạt động xây dựng và giải thích pháp luật.

Abstract: In this paper, the author focuses on analyzing the advantages and limitations of the concept of law as "living" (i.e., it will mobilize, it will be explained according to the development of society) or the law is "dead" (that is, it is only applied the same as what the competent authority issued it, at the time it was promulgated) to the making and interpretation of laws.

Hệ thống pháp luật Việt Nam được xây dựng dựa trên nền tảng luật thành văn, do đó, việc áp dụng pháp luật sẽ có ưu điểm là rõ ràng, thống nhất và hạn chế được sự tùy tiện. Tuy nhiên, pháp luật khi dùng để điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh tại thời điểm nó được ban hành thì quy định này trở nên “bất động”, trong khi đó, các quan hệ xã hội thì luôn “vận động”, vì vậy, lấy “cái tĩnh” để điều chỉnh “cái động” sẽ dẫn đến trường hợp một số quan hệ xã hội mới phát sinh mà pháp luật không điều chỉnh kịp hoặc khi soạn thảo, do kỹ thuật và năng lực các nhà làm luật đã không dự liệu được hết các tình huống đã phát sinh hoặc có khả năng phát sinh từ thực tiễn, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới[1]. Từ vấn đề này, nhiều ý kiến tranh luận xoay quanh việc nên quan niệm luật là “sống” tức là nó sẽ vận động, sẽ được giải thích và áp dụng theo sự phát triển của xã hội hay luật là “chết”, tức quy định đó chỉ được áp dụng giống như những gì mà cơ quan có thẩm quyền đã ban hành ra nó, tại thời điểm nó ra đời.

1. Quan điểm về sự ổn định của pháp luật ảnh hưởng đến tư duy và phương pháp lập pháp

Có nhiều ý kiến khác nhau đối với quan niệm về sự “tồn tại” của pháp luật đối với đời sống xã hội và quan niệm về sự tồn tại này ảnh hưởng lớn đến tư duy và phương thức làm việc của cơ quan lập pháp. Theo đó, nếu quan niệm luật là “chết”, tức nó phải được hiểu và vận dụng theo đúng “ý đồ của nhà làm luật” tại thời điểm quy định đó được ban hành, các chủ thể áp dụng pháp luật không được phép suy diễn hay giải thích vượt quá sự giới hạn đó, hay nói cách khác là không được phép diễn đạt khác đi so với nghĩa gốc ban đầu và như vậy, pháp luật phải được quy định một cách chi tiết. Đại diện cho quan điểm này là những người theo trường phái tầm nguyên – orginalist[2] hay trường phái câu chữ - textualism[3], dựa vào chính ngữ nghĩa của quy định đang dẫn chiếu hay còn được gọi là giải thích nguyên văn, áp dụng đúng nguyên văn. Ngược lại, một số chuyên gia pháp lý lại cho rằng, mục đích của pháp luật là để điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì trật tự và cân bằng xã hội để tạo nền tảng cho xã hội phát triển bền vững. Do đó, pháp luật phải “sống”, phải vận động cùng với sự vận động của xã hội và để làm được như vậy thì pháp luật phải được xây dựng một cách khái quát hóa, đưa ra các nguyên tắc chung và trao quyền giải thích các quy định đó cho cơ quan áp dụng pháp luật, để các cơ quan này giải thích các quy định pháp luật trong quá trình áp dụng nhằm thực thi ý chí (purpose or intent) của nhà làm luật là bảo vệ hay điều chỉnh một quan hệ xã hội, trật tự xã hội nào đó, đại diện cho quan điểm này là những người theo trường phái mục đích – purposivism[4].

Vậy, hoạt động lập pháp nên thực hiện theo phương thức khái quát hay chi tiết? Việc xây dựng các quy định pháp luật theo hướng khái quát hóa nguyên tắc chung hay quy định cụ thể đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Cụ thể:

(i) Nếu các quy định pháp luật được xây dựng dựa trên tư duy và phương pháp xem pháp luật phải là “sống” để tương thích với sự vận động, phát triển của các quan hệ xã hội, thì cơ quan soạn thảo sẽ tập trung khái quát hóa các vấn đề cụ thể để đưa ra những nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ pháp luật. Với cách làm này, “tuổi đời” của quy định pháp luật sẽ lâu hơn so với phương pháp quy định chi tiết, vì khi quy định chi tiết sẽ khó dự liệu được hết các tình huống phát sinh và sự thay đổi về quan niệm, ý thức xã hội… Tuy nhiên, với cách xây dựng pháp luật theo hướng khái quát hóa sẽ đòi hỏi khá cao về cả trình độ chuyên môn và kỹ thuật của cơ quan soạn thảo, ban hành pháp luật, đồng thời, nếu thiếu các quy định bổ trợ khác[5] thì có thể dẫn đến tình trạng áp dụng tùy tiện. Ngoài ra, pháp luật được ban hành không chỉ để các cơ quan nhà nước, Tòa án, luật sư hay các chuyên gia pháp lý áp dụng, nghiên cứu, mà đối tượng hướng đến của nó là đại chúng, tức là hướng đến làm sao mọi người đều có thể hiểu được, phải đảm bảo “dễ tiếp cận, dễ thực hiện của văn bản quy phạm pháp luật”[6]. Vì vậy, đi đôi với việc soạn thảo luật theo hướng khái quát hóa thì trình độ dân trí nói chung, kiến thức pháp luật của đông đảo nhân dân nói riêng phải được nâng cao.

(ii) Trong trường hợp xem pháp luật là “chết”, tức là các quy định pháp luật chỉ có thể được áp dụng theo đúng nội dung, đúng tinh thần và đúng với hoàn cảnh, tình huống ra đời quy định đó thì khi soạn thảo, các quy định pháp luật cần phải chi tiết hóa và “ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu”[7]. Như vậy, đối với tư duy luật là “chết” thì đòi hỏi hoạt động lập pháp phải xây dựng những quy định chi tiết và điều này sẽ có những thuận lợi nhất định trong quá trình áp dụng vào thực tiễn, như rõ ràng và hạn chế được sự tùy tiện trong quá trình áp dụng. Tuy nhiên, như trên đã phân tích, các quy định pháp luật quá chi tiết thì “tuổi thọ” sẽ không cao và đặc biệt là sẽ không dự liệu và điều chỉnh được hết các quan hệ xã hội đã hoặc sẽ phát sinh mà các nhà làm luật chưa biết hoặc chưa dự liệu được. Chẳng hạn như, Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ quy định Tội mua bán phụ nữ (Điều 119) và Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120), trong khi đó, một số vụ việc được phát hiện cho thấy không chỉ có phụ nữ, trẻ em mà cả nam giới cũng đã và đang trở thành nạn nhân của loại tội phạm này. Trong trường hợp này, thật khó thuyết phục nếu một Hội đồng xét xử nào đó vận dụng Điều 119 nêu trên để từ đó suy luận rằng hành vi buôn bán nam giới từ đủ 16 tuổi trở lên là nguy hiểm và có thể áp dụng các khung hình phạt như đối với hành vi buôn bán phụ nữ[8].

Hiện nay, hoạt động lập pháp và lập quy ở Việt Nam nghiêng về hướng ban hành những quy định chi tiết, mặc dù vậy, trong một số trường hợp đã xuất hiện xu hướng khái quát hóa hay phương pháp loại suy. Chẳng hạn như, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã chuyển từ quy định tội mua bán phụ nữ, trẻ em nêu trên thành “Tội mua bán người” (Điều 150); Luật Doanh nghiệp từ quy định người dân chỉ được phép kinh doanh những ngành nghề có đăng ký sang tổ chức, cá nhân được phép kinh doanh những ngành nghề pháp luật không cấm[9]…

2. Ảnh hưởng của quan điểm luật “sống” hay “chết” đến hoạt động giải thích pháp luật

Quan niệm về sự “tồn tại” của pháp luật có tác động không nhỏ đến giai đoạn thực thi các quy định pháp luật. Nếu quan niệm luật hay pháp luật là “chết”, thì khi cơ quan áp dụng pháp luật, mà cụ thể là Tòa án, chỉ được phép áp dụng và giải thích - hướng dẫn đúng với ý định ban đầu, vào thời điểm ban hành, của người làm luật mà không được phép “suy diễn” hoặc mở rộng phạm vi áp dụng. Ngược lại, nếu cho rằng quy định pháp luật phải vận động cùng với sự vận động, phát triển của các quan hệ xã hội, để điều chỉnh, cân bằng các lợi ích chính đáng của Nhà nước, xã hội, tổ chức, cá nhân, thì cơ quan áp dụng pháp luật được phép giải thích các quy định hiện hành để xác định “ý đồ, mục đích” của nhà làm luật khi ban hành quy định đang xem xét nhằm áp dụng vào giải quyết vấn đề cụ thể đang đặt ra.

“Giải thích pháp luật” - statutory interpretation - là thuật ngữ dùng để chỉ một quá trình xác định ý nghĩa đúng của một văn bản luật/pháp luật. Đây là một quy trình được thực hiện bởi chủ yếu là cơ quan tư pháp, trên nền tảng một số nguyên tắc nhất định, nhằm xác định ý nghĩa của một quy định pháp luật và áp dụng vào giải quyết một vụ việc cụ thể, trong trường hợp quy định đó chưa rõ nghĩa[10].

Theo quan điểm của Thẩm phán Terence John Higgins (Úc): “Giải thích luật là đi tìm ý định của Nghị viện trên cơ sở xem xét ngôn từ được sử dụng”[11].

Giải thích pháp luật là một hoạt động quan trọng trong khoa học pháp lý, hoạt động này giữ vai trò quan trọng trong việc ban hành, áp dụng và nghiên cứu các quy định pháp luật, hoạt động giải thích pháp luật sẽ cần thiết trong một số trường hợp sau[12]: (i) Khi ban hành văn bản, cơ quan ban hành nói chung, cơ quan lập pháp nói riêng chỉ đưa ra nguyên tắc điều chỉnh và trao quyền giải thích cũng như cách thức áp dụng nguyên tắc, quy định đó vào giải quyết từng vụ việc cụ thể; (ii) Cơ quan lập pháp đã ban hành quy định nhưng sau đó xét thấy không còn phù hợp với điều kiện hiện tại, nên chính cơ quan này hoặc ban hành văn bản mới để thay thế, sửa đổi hoặc giải thích quy định đó theo hướng phù hợp với điều kiện hiện tại; (iii) Các cơ quan áp dụng pháp luật trong quá trình thực thi công vụ của mình hoặc phát hiện một hay một số quy định nào đó chưa được rõ nghĩa từ đó dẫn đến việc lúng túng khi áp dụng giải quyết các vụ việc cụ thể và đòi hỏi khách quan là cần sự giải thích những điểm chưa rõ đó hoặc trong quá trình áp dụng pháp luật xuất hiện những vụ việc, tình tiết mới mà dựa vào câu chữ của các quy định pháp luật hiện tại không thể giải quyết vấn đề đang đặt ra…

Mặc dù không được xây dựng “chuyên nghiệp” như nhiều nước khác về hoạt động giải thích pháp luật, nhưng pháp luật Việt Nam vẫn chính thức ghi nhận hoạt động này. Theo đó, chỉ có Ủy ban Thường vụ Quốc hội mới có thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, còn các cơ quan khác như Tòa án, Chính phủ, bộ… chỉ được hướng dẫn, quy định chi tiết… văn bản cấp trên. Tuy nhiên, hoạt động “giải thích pháp luật” hiện nay ở Việt Nam đang tồn tại một số điểm bất cập sau:

Một là, do thiếu quy định một cách chính thức về hoạt động giải thích pháp luật, nên có một số lỗ hổng pháp lý chưa điều chỉnh kịp các tình huống phát sinh trên thực tiễn

Về nguyên tắc, hoạt động của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương đều phải tuân thủ các quy định pháp luật. Nguyên tắc này được quy định tại khoản 1 Điều 8 Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật…”[13]. Như vậy, nếu có những vấn đề mới phát sinh mà các văn bản quy phạm pháp luật chưa điều chỉnh kịp thì giải quyết như thế nào? Có được quyền giải thích hay áp dụng tương tự pháp luật không? Mặc dù quy định hiện nay là Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng và việc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp này được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự quy định[14], nhưng đến thời điểm hiện tại, tác giả chưa ghi nhận được vụ việc dân sự nào được Tòa án giải quyết theo tình huống nêu trên.

Hai là, về thẩm quyền giải thích pháp luật theo quy định hiện hành

Khoản 3 Điều 3 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: “Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh là việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội làm rõ tinh thần, nội dung của điều, khoản, điểm trong Hiến pháp, luật, pháp lệnh để có nhận thức, thực hiện, áp dụng đúng, thống nhất pháp luật”. Vậy có thể hiểu, ở Việt Nam chỉ có Ủy ban Thường vụ Quốc hội mới có thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh khi các quy phạm pháp luật chứa đựng trong các văn bản này có những nội dung chưa rõ nghĩa. Một vấn đề đặt ra là, nếu có những quy định trong Hiến pháp, luật, pháp lệnh chưa rõ nghĩa, khó xác định nội hàm, phạm vi điều chỉnh và Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa có văn bản giải thích thì việc áp dụng quy định đó sẽ được thực hiện như thế nào? Hậu quả pháp lý sẽ xử lý như thế nào nếu cơ quan áp dụng pháp luật hiểu và áp dụng để giải quyết vào một vụ việc cụ thể, nhưng cách làm đó gây hậu quả nghiêm trọng hoặc gây tác động xấu đến xã hội và sau đó có văn bản giải thích quy định trên khác với cách áp dụng của cơ quan thực thi pháp luật trước đây?

Ba là, hiệu lực pháp lý trong việc “giải thích - hướng dẫn” của những cơ quan nhà nước khác chưa được xác định rõ

Trong trường hợp quy định trong các văn bản khác (không phải là Hiến pháp, luật, pháp lệnh) như nghị định, thông tư, quyết định… là các văn bản quy phạm pháp luật nhưng chứa đựng các quy định không rõ ràng và các cơ quan ban hành những văn bản trên chưa có văn bản giải thích thì việc hiểu và áp dụng sẽ được thực hiện như thế nào, quyền và lợi ích của công dân được bảo đảm ra sao là những vấn đề chưa được làm rõ.

Điều 21 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: “Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết để hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử thông qua tổng kết việc áp dụng pháp luật, giám đốc việc xét xử”[15]. “Hướng dẫn việc áp dụng” có được xem là một hoạt động giải thích pháp luật không? Bởi vì Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật chỉ duy nhất dùng cụm từ “giải thích” cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan khác chỉ có thể dùng từ “quy định chi tiết”, “hướng dẫn chi tiết”, “hướng dẫn áp dụng”, hay “chi tiết điều, khoản, điểm được giao”[16]… Ngoài ra, hoạt động “hướng dẫn” có thể được hiểu là giải thích - làm rõ ý nghĩa, một quy định nào đó trong luật, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội không hay chỉ là cách hiểu của riêng cơ quan ban hành văn bản đó, mặc dù các văn bản như nghị định, thông tư… đều là văn bản quy phạm pháp luật? Bên cạnh đó, nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là văn bản thể hiện cách nhìn nhận vấn đề của Ngành Tòa án, vậy nếu Ngành Kiểm sát hay Công an… có cách hiểu khác (mặc dù trong quá trình soạn thảo văn bản đó đã lấy ý kiến các cơ quan này nhưng vẫn chưa đạt được sự thống nhất về cách hiểu) thì giải quyết như thế nào… là những vấn đề chưa được quy định rõ trong các văn bản pháp luật hiện nay.

Như vậy, để nâng cao chất lượng và “tuổi thọ” của các quy định pháp luật thì yêu cầu khách quan là cơ quan ban hành pháp luật phải nhận thức được rằng các quan hệ xã hội là vận động, phát triển không ngừng và khả năng lập pháp, lập quy là có hạn, vì vậy, quan điểm pháp luật phải vận động cùng với sự vận động của xã hội là cần thiết và phải điều chỉnh dần phương thức xây dựng pháp luật theo hướng khái quát hóa, nhưng vẫn đảm bảo sử dụng thuật ngữ rõ nghĩa, chuẩn mực.

Bên cạnh đó, liên quan đến vấn đề giải thích pháp luật nên điều chỉnh theo hướng[17]: Thứ nhất, Hiến pháp và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật nên quy định rõ thẩm quyền của Tòa án nhân dân, đặc biệt là của Tòa án nhân dân tối cao trong việc “giải thích - hướng dẫn” cách hiểu và áp dụng thống nhất các quy phạm pháp luật còn chưa rõ nghĩa; thứ hai, trên cơ sở nghiên cứu và áp dụng có chọn lọc các nguyên tắc giải thích pháp luật phổ biến trên thế giới, các cơ quan hữu quan cần bổ sung quy định về trình tự, thủ tục giải thích, các nguyên tắc giải thích luật, pháp luật mà Tòa án cũng như các cơ quan được trao quyền khác phải tuân thủ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hình sự, hành chính… Chẳng hạn như có thể tham khảo quan điểm của Stephen Gerald Breyer (Giáo sư luật học và là Thẩm phán Tòa án tối cao Liên bang Hoa Kỳ) về sáu bước để xác định, giải thích ý nghĩa của một quy định nào đó vào giải quyết một vụ việc cụ thể, các bước được áp dụng lần lượt theo trình tự sau[18]: (i) Xem xét câu chữ, ngôn ngữ của chính văn bản đang được áp dụng - language; (ii) Xem xét cấu trúc của toàn văn bản - structure; (iii) Xem xét lịch sử xây dựng và ban hành quy định đó - history; (iv) Xem xét tiền lệ pháp (gồm cả án lệ) - precedent; (v) Xem xét mục đích ban hành quy định đó là gì - purpose; (vi) Xem xét kết quả giải quyết sẽ tác động như thế nào đến chủ thể đang bị áp dụng pháp luật, đến xã hội, đến Nhà nước nói chung - consequences.

Ngoài ra, theo Luật sư Valerie C. Brannon thì các thẩm phán có thể thực hiện năm bước sau để xác định/giải thích ý nghĩa một quy định[19]: (i) Xem xét nghĩa thông thường của quy định (looking to the ordinary meaning); (ii) Giải thích một hoặc một số quy định cụ thể trên cơ sở xem xét tổng thể cả văn bản chứa đựng quy định chi tiết đó (interpret specific provisions by looking to the broader statutory context); (iii) Xem xét lại những tiêu chí cơ bản để xác định cách mà Tòa thường đọc các quy định (turn to the canons of construction, which are presumptions about how courts ordinarily read statutes); (iv) Nhìn lại lịch sử (bối cảnh) của quy định đó (look to the legislative history of a provision); (v) Xem xét liệu quy định đó sẽ được thực thi như thế nào (how a statute has been - or will be - implemented).

Trần Vang Phủ

Nguyễn Thị Hàng Diễm My

Khoa Luật, Đại học Cần Thơ



[1]. Trần Vang Phủ, Một số nguyên tắc giải thích pháp luật trên thế giới và những gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 06(382)/2019, tr. 58 - 59.

[2]. Đại diện nổi tiếng trên thế giới của trường phái này là John Manning [xem thêm: (i) Manning, John F., Textualism and the Equity of the Statute (January 2001). 101 Colum. L. Rev. 1 (2001). Available at SSRN: https://ssrn.com/abstract=2849561 or http://dx.doi.org/10.2139/ssrn.2849561, truy cập ngày 21/11/2019); (ii) Frank B. Cross, The theory and practice of statutory interpretation, Stanford Unversity Press, 2009, p.24-25; và (iii) Annenberg Public Policy Center, Justices Scalia and Breyer Talk About Interpreting the Constitution, https://www.annenbergpublicpolicycenter.org/justices-scalia-and-breyer-discuss-interpreting-the-constitution/, truy cập ngày 14/01/2019 (Thẩm phán Tòa án tối cao liên bang Hoa Kỳ Antonin Scalia: Luật là “chết” - originalist)].

[3]. Valerie C. Brannon, Statutory Interpretation: Theories, Tools, and Trends, The U.S Congressional Research Service, https://fas.org/sgp/crs/misc/R45153.pdf, truy cập ngày 19/12/2019.

[4]. Hai đại diện tiêu biểu của trường phái này là Henry Hart và Albert Sacks (Valerie C. Brannon, Statutory Interpretation: Theories, Tools, and Trends, The U.S Congressional Research Service, https://fas.org/sgp/crs/misc/R45153.pdf, truy cập ngày 19/12/2019, tr. 11) và hiện nay là Thẩm phán Tòa tối cao Liên bang Hoa Kỳ Stephen G. Breyer (với quan điểm luật là “sống” - living Constitution, xem: National Public Radio, Justices Get Candid About The Constitution, https://www.npr.org/2011/10/09/141188564/a-matter-of-interpretation-justices-open-up, truy cập ngày 14/12/2019).

[5]. Các quy định bổ trợ trong trường hợp này là quy định về thẩm quyền giải thích, về nguyên tắc lựa chọn quy phạm và nguyên tắc giải thích pháp luật mà cơ quan áp dụng pháp luật phải tuân thủ.

[6]. Khoản 4 Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

[7]. Khoản 1 Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

[8]. Trần Vang Phủ, Khó khăn trong giải thích pháp luật tại Việt Nam và kinh nghiệm theo hệ thống luật Anh - Mỹ, tài liệu Hội thảo Giải thích pháp luật của Tòa án Việt Nam hiện nay do Khoa Luật - Đại học Cần Thơ tổ chức, Cần Thơ, ngày 01/6/2018, tr. 127.

[9]. Dương Anh Sơn, Trần Thanh Hương, Bình luận về quyền tự do kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp năm 2014, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2016, tr. 25 - 32.

[10]. Oxford, Dictionary of Law, Oxford University Press, 2013, p. 294.

[11]. Australia Government, Amalgamated society of Engineers v Adelaide Steamship Co Ltd (1920) 28 CLR 129, https://www.ato.gov.au/law/view/document?DocID=JUD/28CLR129/00004, truy cập ngày 07/3/2018.

[12]. Trần Vang Phủ, Một số nguyên tắc giải thích pháp luật trên thế giới và những gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 6(382), kỳ 2 - tháng 3/2019, tr. 59.

[13]. Trước đây, nguyên tắc này được quy định tại Điều 12 Hiến pháp năm 1980 và Điều 8 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001).

[14]. Khoản 2 Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[15]. Quy định này là tương tự với quy định tại Trung Quốc. Theo đó, Tòa án nhân dân tối cao Trung Hoa là cơ quan có thẩm quyền giải thích các quy định pháp luật để hướng dẫn cho các Tòa cấp dưới. Xem: Library of Congress (China), Introduction to China Legal System, https://www.loc.gov/law/help/legal-research-guide/china.php, truy cập ngày 16/3/2018.

[16]. Điều 24 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định về Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

[17]. Trần Vang Phủ, Vấn đề lựa chọn và áp dụng pháp luật tại Việt Nam bất cập và kiến nghị, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5/2018, tr. 17, 24.

[18]. Stephen G. Breyer, Judicial review: A Practicing Judge’s Perspective, It is constitution we are expounding - American Constitution Society for Law and Policy, 2009, pp.189 - 195.

[19]. Valerie C. Brannon, Statutory Interpretation: Theories, Tools, and Trends, The U.S Congressional Research Service, https://fas.org/sgp/crs/misc/R45153.pdf, tr. 18-44, truy cập ngày 19/4/2019.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: