Thứ hai 16/03/2026 10:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về mang thai hộ vì mục đích thương mại theo pháp luật Việt Nam

Mặc dù đã có các quy định pháp luật điều chỉnh về mang thai hộ, nhưng thực tiễn áp dụng các quy định này cho thấy vẫn còn tồn tại những bất cập, hạn chế làm ảnh hưởng đến ý nghĩa thực sự của quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Do đó, việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là điều cần thiết. Đây cũng chính là mục đích mà tác giả Nguyễn Thị Lê Huyền muốn hướng tới thể hiện trong bài viết “Quy định về mang thai hộ vì mục đích thương mại theo pháp luật Việt Nam”.

Mang thai hộ là việc một người phụ nữ mang thai và sinh con thay cho người khác. Pháp luật Việt Nam hiện hành đã có sự phân biệt mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và mang thai hộ vì mục đích thương mại, theo đó, “mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con”, “mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác”. Tuy nhiên, pháp luật của chúng ta chỉ công nhận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, còn mang thai hộ vì mục đích thương mại là hành vi bị cấm.

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (MTHVMĐNĐ) là chế định đầy tính nhân văn được pháp luật Việt Nam lần đầu tiên ghi nhận và bảo vệ tại các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Theo đó, MTHVMĐNĐ được hiểu là “việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con”[1]. Quy định này cho phép những người phụ nữ tự nguyện đủ điều kiện có thể mang thai “hộ” cho cặp vợ chồng mà vì lý do nào đó, cặp vợ chồng này không thể tự mang thai và sinh ra đứa con có cùng huyết thống với họ (ví dụ như người vợ bị cắt bỏ tử cung, người vợ mắc bệnh tim nên có chỉ định không được mang thai vì có thể ảnh hưởng tới tính mạng...). Quy phạm này được đánh giá là một trong những quy định thể hiện tính nhân văn cao của pháp luật, đảm bảo quyền làm cha mẹ - nguyện vọng chính đáng cho những trường hợp mà ngay cả những nỗ lực tự mình thực hiện việc sinh con của các cặp vợ chồng vẫn không đem lại kết quả. Tuy nhiên, để đảm bảo việc thực hiện mang thai hộ trên thực tế đúng bản chất nhân văn vốn có của nó, pháp luật Việt Nam hiện hành nghiêm cấm hành vi mang thai hộ vì mục đích thương mại (MTHVMĐTM). Trên cơ sở đó, hệ thống pháp luật cũng xây dựng các quy phạm pháp luật và thiết lập cơ chế pháp lý để xử lý đối với các hành vi tổ chức thực hiện MTHVMĐTM xảy ra trên thực tế. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy, bên cạnh những hiệu quả đạt được, các quy định liên quan đến MTHVMĐTM vẫn bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập.

1. Khái niệm và bản chất pháp lý của mang thai hộ vì mục đích thương mại

MTHVMĐTM là một khái niệm tương đối mới trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Trước đây, theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12/02/2003 về sinh con theo phương pháp khoa học (Nghị định số 12/2003/NĐ-CP) có đề cập đến các hành vi bị nghiêm cấm, trong đó có mang thai hộ. Tuy nhiên, nội dung của Nghị định này không đề cập cụ thể như thế nào là hành vi mang thai hộ, theo đó, thuật ngữ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo hay thương mại đều không được giải thích.

Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bên cạnh việc đưa ra các khái niệm nhằm giải thích về MTHVMĐNĐ tại khoản 22 Điều 3 thì khoản 23 Điều 3 cũng đưa ra định nghĩa về MTHVMĐTM. Theo đó, MTHVMĐTM là “việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác”. Như vậy, sự khác nhau cơ bản của hai trường hợp này thể hiện rõ ở mục đích. MTHVMĐNĐ là việc một người phụ nữ tự nguyện mang thai “giúp cho” người khác mà không vì lợi ích vật chất hoặc một lợi ích nào khác. Trong khi đó, MTHVMĐTM được hiểu là việc mang thai hộ được thực hiện vì các “lợi ích kinh tế hoặc lợi ích khác” của người mang thai hộ. Chính mục đích là yếu tố cơ bản tạo cơ sở cho việc cho phép hay ngăn cấm đối với việc thực hiện mang thai hộ ở nước ta hiện nay. Bởi lẽ, quan điểm được đặt ra là việc mang thai hộ chỉ được thừa nhận và có ý nghĩa khi đây là giải pháp nhằm tạo điều kiện, cơ hội làm cha, mẹ cho các cặp vợ chồng không thể mang thai ngay cả khi đã áp dụng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Trong khi đó, bản chất của việc MTHVMĐTM là mục đích hưởng lợi về kinh tế hoặc các lợi ích về vật chất khác. Vì vậy, chỉ cần giữa các chủ thể phát sinh các giao dịch, thỏa thuận về việc mang thai hộ được xác lập nhằm mục đích hưởng lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác thì đây là yếu tố cấu thành hành vi MTHVMĐTM. Hành vi này bị nghiêm cấm và thậm chí là có thể bị áp dụng các chế tài hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam[2]. Điều này được lý giải vì tính chất của hành vi MTHVMĐTM có nghĩa là mua bán, vì mục đích lợi nhuận, có yếu tố trục lợi về vật chất hoặc lợi ích khác. Nó xâm phạm nghiêm trọng quyền con người, biến con người trở thành đối tượng trao đổi thương mại trên thị trường và trái với nguyên tắc nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

2. Một số bất cập trong việc áp dụng các quy định về hành vi mang thai hộ vì mục đích thương mại

Một là, nguy cơ trong việc hợp pháp hóa hành vi mang thai hộ vì mục đích thương mại

Nhằm đảm bảo hạn chế tối đa những nguy cơ thương mại hóa hành vi mang thai hộ trên thực tế, quy định về yêu cầu, điều kiện đối với bên mang thai hộ cũng trở nên rất khắt khe. Đây có thể được xem là một trong những vấn đề mang tính chất trọng tâm của chế định về MTHVMĐNĐ. Theo đó, khoản 3 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ; b) Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần; c) Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ; d) Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng; đ) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý”.

Với quy định này, tác giả cho rằng, điều kiện tại điểm a có nguy cơ tạo ra một “lỗ hổng” pháp lý, tạo cơ hội cho các chủ thể khác trục lợi nhằm thương mại hóa hành vi MTHVMĐNĐ trên thực tế. Khái niệm về người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ đã được đề cập tại khoản 7 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Nghị định số 10/2015/NĐ-CP), bao gồm: Anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của họ; anh rể, em rể, “chị dâu, em dâu” của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với họ. Theo tác giả, việc xác định như vậy là quá rộng. Điều này hoàn toàn có nguy cơ xảy ra tình trạng trục lợi để thực hiện MTHVMĐTM trên thực tế mà khó có khả năng kiểm soát. Bởi lẽ, khi nhu cầu về mang thai hộ là có thật thì thông thường các chủ thể có nhu cầu sẽ tìm mọi cách để hồ sơ yêu cầu mang thai hộ của họ được chấp nhận về mặt pháp lý. Vậy giả thiết được đặt ra là, nếu gia đình có hai anh em trai, vợ chồng người anh lâm vào tình trạng không sinh được con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và họ muốn có con bằng biện pháp mang thai hộ. Tuy nhiên, do tâm lý không muốn phiền lụy đến họ hàng hoặc giả như không có người thân thích cùng hàng nào đủ điều kiện MTHVMĐNĐ nên họ muốn tìm người mang thai hộ thương mại. Để hợp pháp mối quan hệ với người phụ nữ MTHVMĐTM này, vợ chồng người anh đề nghị người em trai đang độc thân kết hôn giả tạo với với người phụ nữ đã đồng ý MTHVMĐTM cho vợ chồng người anh để người này trở thành “em dâu” về mặt pháp lý. Các lo ngại về tài sản khi người em kết hôn được giải quyết bằng cách thức thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định. Với tâm lý truyền thống của một quốc gia phương Đông, việc người em chấp nhận đồng ý kết hôn giả tạo để anh chị có thể thực hiện ước mơ làm cha mẹ bằng mang thai hộ là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Mặc dù việc kết hôn giả tạo bị nghiêm cấm[3], tuy nhiên, pháp luật hiện hành khó có thể kiểm soát được việc kết hôn của người em là giả tạo hay không. Đồng thời, việc thực hiện thỏa thuận về mang thai hộ giữa vợ chồng người anh và “vợ” của người em là “nhân đạo” hay “thương mại” quả là không dễ phân định bằng pháp luật. Điều này đặt ra nguy cơ về việc thương mại hóa MTHVMĐNĐ quá dễ dàng và tạo ra nguy cơ “lách luật” khá hiệu quả cho các chủ thể mong muốn có con bằng mang thai hộ mà không tìm được người đủ điều kiện phù hợp. Do đó, tác giả cho rằng, quy định về người thân thích cùng hàng là chị dâu, em dâu cần được đánh giá, cân nhắc trên cơ sở cân bằng lợi ích giữa cá nhân, gia đình và xã hội, từ đó hướng tới mục tiêu chung là hoàn thiện chế định về MTHVMĐNĐ nói riêng và pháp luật Việt Nam nói chung.

Hai là, bất cập trong việc quy định về việc xác định hành vi mang thai hộ vì mục đích thương mại

Với quy định tại khoản 23 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cho thấy, MTHVMĐTM có thể được thực hiện bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, tức là có thể thực hiện bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm[4]. Vấn đề được đặt ra là, kỹ thuật thụ tinh nhân tạo có được xem là cách thức để thực hiện mang thai hộ nói chung và MTHVMĐTM nói riêng hay không? Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định hành vi MTHVMĐTM hay hành vi xâm phạm các quan hệ pháp luật khác.

Nghị định số 10/2015/NĐ-CP mặc dù không đưa ra cách giải thích cụ thể về khái niệm thụ tinh nhân tạo, đồng thời, khoản 2 Điều 1 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP quy định về phạm vi điều chỉnh cũng đã giới hạn rằng: “Việc thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo được thực hiện theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này”[5]. Tuy nhiên, trước đó, khái niệm này đã được quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 12/2003/NĐ-CP và qua tìm hiểu về kỹ thuật thụ tinh nhân tạo được định nghĩa tại quy định này cũng như một số quy định, giải thích y học khác có thể thấy rằng, với kỹ thuật này, việc mang thai sẽ thụ tinh và phát triển ngay trong cơ thể của người phụ nữ (kết hợp bởi chính noãn của người này) mà không cần phải tạo phôi ở môi trường bên ngoài (trong ống nghiệm) cũng như trải qua quá trình chuyển phôi để mang thai. Trong khi đó, MTHVMĐNĐ bắt buộc phải thực hiện thông qua phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, bằng việc kết hợp noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để tạo phôi sau đó cấy vào cơ thể của người phụ nữ mang thai hộ.

Theo tác giả, bản chất mang thai hộ là mang thai cho người khác nên với việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh nhân tạo thì người phụ nữ mang thai không phải là mang thai hộ mà là mang thai của chính mình. Vì vậy, mang thai hộ dù là vì mục đích thương mại hay nhân đạo thì đều không thể được thực hiện thông qua hình thức thụ tinh nhân tạo mà nhất thiết phải thực hiện theo phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm. Do đó, theo tác giả, nếu cho rằng, khi thực hiện các hành vi thụ tinh nhân tạo; quan hệ trực tiếp để mang thai và sau đó chuyển con cho cặp vợ chồng có nhu cầu có con để hưởng các lợi ích vật chất là MTHVMĐTM là không chính xác. Bởi lẽ, về mặt khách quan, đây là hành vi mua bán thai nhi/trẻ em, thương mại hóa việc mang thai mà mục đích cuối cùng là việc sinh ra đứa trẻ. Như vậy, đối tượng bị “thương mại” chính là con của người mang thai. Quan điểm của tác giả cho rằng, trường hợp này cũng tương tự như những trường hợp tổ chức cho phụ nữ đang mang thai bán bào thai hoặc con mới đẻ trên thực tế hiện nay. Tuy nhiên, để xử lý hành vi này vẫn còn tồn tại “khoảng trống” trong quy định của pháp luật. Theo đó, có nhiều ý kiến khác nhau về việc xử lý hình sự đối với hành vi mua bán thai nhi sẽ truy cứu với tội danh được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như: Mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151); mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người (Điều 154)... nhưng cụ thể, hiện vẫn chưa có sự điều chỉnh rõ ràng từ các quy định của pháp luật có liên quan vì thai nhi chưa được trực tiếp thừa nhận là chủ thể trong quan hệ pháp luật hình sự[6]. Do vậy, xác định đúng bản chất của vấn đề nói trên có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thiết lập hành lang pháp lý xử lý những hành vi vi phạm quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Ba là, ranh giới giữa mục đích nhân đạo và thương mại trong nhờ mang thai hộ là rất khó xác định

Theo quy định của pháp luật hiện hành, người nhờ mang thai hộ phải chi trả những khoản chi phí hợp lý cho quá trình mang thai, nuôi dưỡng thai nhi. Theo quy định tại khoản 1 Điều 98 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản theo quy định của Bộ Y tế”. Mang thai nói chung là cả một quá trình dài với những tác động tiêu cực về mặt sức khỏe và tâm sinh lý của người phụ nữ. Trong suốt quá trình này đòi hỏi người phụ nữ mang thai cần nhận được sự chăm sóc tốt nhất cả về mặt vật chất lẫn tinh thần nhằm đảm bảo cho sức khỏe của thai phụ cũng như sự phát triển toàn diện cho thai nhi. Do vậy, việc quy định về nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản của người mang thai hộ là rất cần thiết. Điều này tạo ra sự an tâm nhất định cho người mang thai hộ khi họ không phải lo lắng về các chi phí phát sinh trong quá trình mang thai “giúp” người khác, tránh những lo ngại về kinh tế ảnh hưởng đến tâm lý của người đang mang thai và sự phát triển toàn diện của thai nhi. Đồng thời, bản thân vợ chồng nhờ mang thai hộ cũng thể hiện rõ trách nhiệm của mình trong việc thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong quá trình chuẩn bị cho đứa con của họ chào đời. Đồng thời, đây là cơ sở để tạo cơ sở pháp lý hạn chế việc trốn tránh nghĩa vụ về tài sản của bên nhờ mang thai hộ có thể xảy ra khi các bên đã thực hiện kỹ thuật này. Theo đó, Điều 3 Thông tư số 32/2016/TT-BYT ngày 15/9/2016 của Bộ Y tế quy định việc chi phí các chi phí thực tế để bảo đảm chăm sóc sức khỏe sinh sản của bên nhờ MTHVMĐNĐ đã quy định cụ thể chi phí mà bên nhờ mang thai hộ phải chi trả. Quy định này nhìn chung là hợp lý. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là pháp luật hiện hành chưa có cơ chế để kiểm soát việc chi trả các khoản chi phí ngoài danh mục trên hoặc trong danh mục nhưng định mức bao nhiêu là hợp lý. Nếu không có cơ chế kiểm soát vấn đề này thì việc phân định ranh giới giữa “nhân đạo” và “thương mại” sẽ rất khó khăn và các bên hoàn toàn có thể trục lợi làm thay đổi bản chất của quan hệ pháp luật về MTHVMĐNĐ vì đôi khi khoản tiền được chi trả cho “chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản” cũng có những tác động đến tính “tự nguyện mang thai giúp cho” cặp vợ chồng không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Điều này làm cho tính “nhân đạo” có thể bị chi phối bởi ranh giới để xác định đâu là chi phí hợp lý, bồi dưỡng cho người mang thai và đâu là khoản tiền bù đắp cho việc mang thai mang tính thương mại. Do đó, đối với việc làm rõ nội hàm, tính chất, đặc điểm và cơ chế pháp lý điều chỉnh về MTHVMĐNĐ cũng như MTHVMĐTM hiện nay là rất cần thiết, nhằm đảm bảo tối đa ý nghĩa nhân văn của quy định về MTHVMĐNĐ hiện nay.

Như vậy, MTHVMĐNĐ là một vấn đề rất nhạy cảm, phức tạp, liên quan đến nhiều khía cạnh, đạo đức, xã hội và pháp lý. Quy định của pháp luật về MTHVMĐNĐ với ý nghĩa nhân văn sâu sắc của nó là một trong những công cụ hiệu quả nhằm đảm bảo quyền con người nói chung và quyền con người trong lĩnh vực dân sự nói riêng. Tuy nhiên, để các quy phạm pháp luật này phát huy ý nghĩa thực sự thì việc xây dựng hành lang pháp lý nhằm ngăn chặn các nguy cơ về MTHVMĐTM là vô cùng cần thiết và không thể không thiết lập. Do đó, các quy phạm pháp luật điều chỉnh về MTHVMĐTM cần được xem xét, đánh giá một cách toàn diện, từ đó hướng tới mục tiêu chung là hoàn thiện chế định về MTHVMĐNĐ nói riêng và pháp luật Việt Nam nói chung.

ThS. Nguyễn Thị Lê Huyền

Đại học Luật thuộc Đại học Huế





[1]. Khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2]. Xem thêm quy định tại Điều 187 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội “Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại”.

[3]. Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4]. Xem khoản 21 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đồng thời, khái niệm về thụ tinh trong ống nghiệm được quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP.

[5]. Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2019 không đưa ra cách giải thích về thụ tinh nhân tạo.

[6]. Xem thêm: Đông Thị Lan Anh, Mua bán bào thai xử lý như thế nào? Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, truy cập ngày 29/3/2019, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/mua-ban-bao-thai-xu-ly-the-nao.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: