Thứ ba 21/04/2026 23:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền con người trong tố tụng dân sự Việt Nam

Tố tụng dân sự được hiểu là tổng thể các quy trình, thủ tục, công đoạn có mối quan hệ chặt chẽ, liên tiếp với nhau để thông qua đó các chủ thể tiến hành tố tụng áp dụng pháp luật, đưa ra các biện pháp cần thiết để giải quyết các tranh chấp dân sự một cách khách quan, công bằng, đúng pháp luật và đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ tố tụng dân sự.

1. Lý luận về quyền con người trong tố tụng dân sự

Tố tụng dân sự được hiểu là tổng thể các quy trình, thủ tục, công đoạn có mối quan hệ chặt chẽ, liên tiếp với nhau để thông qua đó các chủ thể tiến hành tố tụng áp dụng pháp luật, đưa ra các biện pháp cần thiết để giải quyết các tranh chấp dân sự một cách khách quan, công bằng, đúng pháp luật và đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ tố tụng dân sự.

Tố tụng dân sự và dân sự có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu như dân sự được hiểu là các vấn đề liên quan đến nhân thân và tài sản, thì tố tụng dân sự cũng xuất phát từ mối quan hệ nhân thân và tài sản song chỉ phát sinh khi có tranh chấp xảy ra và có nhu cầu giải quyết các tranh chấp đó. Các chủ thể tham gia trong mối quan hệ pháp luật dân sự và tố tụng dân sự đều giống nhau bởi luôn hướng đến các quyền dân sự, kinh tế mà chính đối tượng của quan hệ dân sự (tài sản và nhân thân) mang lại. Tuy nhiên, còn một bộ phận chủ thể khác, tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự lại không xuất phát từ các lợi ích đó, mà nhóm chủ thể này tiến hành các thủ tục tố tụng vì lợi ích của hai bên đương sự (nguyên đơn và bị đơn). Do đó, so với quan hệ dân sự thì mối quan hệ tố tụng dân sự mang tính chất đa dạng về chủ thể, đa dạng về quyền lợi và cứng nhắc về quy trình, thủ tục. Bởi lẽ, trong tố tụng dân sự, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được đưa ra bàn bạc, xem xét và giải quyết công khai, theo pháp luật. Vì thế, nếu quy trình, thủ tục giải quyết tranh chấp mang tính tùy tiện, thiếu khách quan và công minh thì quyền con người trong tố tụng dân sự sẽ bị xâm hại. Theo đó, cách thức và cơ chế nhà nước thiết lập nên để giải quyết tranh chấp về dân sự cho công dân sẽ không trở thành công cụ để bảo vệ quyền con người. Hậu quả là bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa không được thể hiện qua các chức năng giải quyết tranh chấp dân sự.

Với mục đích đó, việc bảo đảm quyền con người trong tố tụng dân sự đòi hỏi phải được tiếp cận trong tổng thể quyền dân sự của con người, gắn với toàn bộ quá trình tố tụng dân sự: Từ giai đoạn khởi kiện, nộp án phí, thụ lý đến giai đoạn xét xử, ra quyết định xét xử, ra bản án và thi hành án dân sự. Chính vì gắn với quyền dân sự, nên các tranh chấp dân sự được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là các tranh chấp vụ việc dân sự, mà còn là các tranh chấp trong quan hệ thương mại, hôn nhân gia đình, lao động v.v... Do đó, giải quyết tranh chấp dân sự trong tố tụng dân sự gồm cả giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại, lao động và hôn nhân gia đình. Đây là cách tiếp cận từ quyền dân sự, kinh tế trong Công ước quốc tế về quyền con người. Tố tụng dân sự trong bài viết này cũng giới hạn việc giải quyết tranh chấp thông qua con đường Tòa án, tuy nhiên, có tính đến việc so sánh cơ chế bảo vệ quyền con người thông qua quá trình giải quyết tranh chấp thương mại thông qua con đường Trọng tài để tìm ra các ưu thế của cơ chế bảo vệ quyền con người trong tố tụng dân sự ở Việt Nam hiện nay.

Về lý luận, quyền con người trong tố tụng dân sự xuất phát từ những quyền tự nhiên của con người, các quyền đó được thừa nhận với những giá trị mang tính phổ quát nhất.

Trước hết, cơ sở lý luận về quyền con người trong tố tụng dân sự xuất phát từ hệ thống pháp lý quốc tế

Quyền con người trong tố tụng dân sự được Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người và các Công ước quốc tế về quyền con người và một số Nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ghi nhận. Đây là những nguyên tắc chung nhất để từ đó, con người có cơ sở tự bảo vệ và yêu cầu các nhà nước thành viên bảo vệ họ. Trong tố tụng dân sự, luật pháp quốc tế thừa nhận sự tham gia của ba nhóm người, tương ứng với ba nhóm quyền con người trong tố tụng dân sự: Nhóm quyền của các bên tranh chấp (quyền của nguyên đơn, bị đơn); nhóm quyền của người tiến hành tố tụng (điển hình là Tòa án).

Thứ hai, lý luận về quyền con người trong tố tụng dân sự xuất phát từ hệ thống pháp lý quốc gia

Hệ thống pháp luật quốc gia có vai trò tạo cơ sở pháp lý cho con người được hành động trong khuôn khổ pháp lý khi tham gia các quan hệ pháp luật. Đối với tố tụng dân sự, các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự luôn xác định Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng dân sự là những nguồn cơ bản, hữu hiệu không chỉ điều chỉnh hành vi mà còn là những đảm bảo pháp lý về quyền con người trong lĩnh vực tố tụng dân sự. Hệ thống pháp luật tố tụng dân sự xác định các nội dung cơ bản như:

- Nguyên tắc cơ bản trong quy trình tố tụng dân sự.

- Các quyền cơ bản của đương sự.

- Thẩm quyền và điều kiện đảm bảo việc thực hiện các quyền của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng cũng như trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong việc đảm bảo quyền của đương sự và những người có liên quan trong tố tụng dân sự.

- Các quyền cơ bản của người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, phiên dịch v.v...

2. Thực tiễn đảm bảo quyền con người trong tố tụng dân sự ở Việt Nam hiện nay

a. Ưu điểm

Quyền con người trong tố tụng dân sự đã và đang được cụ thể hóa trong văn bản quy phạm pháp luật mà điển hình là Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam. Năm 2004, Bộ luật Tố tụng dân sự được ban hành và đến năm 2011, Bộ luật Tố tụng dân sự lại được tiến hành sửa đổi, bổ sung để làm hoàn thiện và sâu sắc hơn cơ chế bảo vệ quyền con người trong tố tụng dân sự. Cụ thể như sau:

Một là, thay đổi quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự

Để đảm bảo quyền và lợi ích của chủ thể có tài sản, Bộ luật Tố tụng dân sự đã khắc phục bất cập trong quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 về thời hiệu khởi kiện. Theo đó, Bộ luật Dân sự đã được sửa đổi về trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với những tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Các tranh chấp không thuộc các trường hợp nêu trên thì thời hiệu khỏi kiện vụ án dân sự là vẫn là 02 năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm như quy định trước đây.

Hai là, thẩm quyền của Tòa án

Việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự lần này đã mở rộng thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong các vụ án về dân sự như: Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; phân chia tài sản chung để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.

Đối với các tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được bổ sung 02 loại là: Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Việc bổ sung hai loại tranh chấp này đảm bảo cho quyền về tài sản của người được thi hành án trong các tranh chấp dân sự.

Ba là, các quyền mới của các đương sự trong vụ án dân sự

Ngoài các quyền và nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 đã bổ sung thêm một số quyền cho các đương sự. Nếu như quy định trước đây chỉ cho phép đương sự đề xuất với Toà án những vấn đề cần hỏi người khác; được đối chất với nhau hoặc với nhân chứng thì Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 đã ghi nhận cho đương sự có quyền được trực tiếp đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến vụ án khi được phép của Tòa án hoặc có quyền đề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi với người khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng. Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung lần này cũng đã quy định chi tiết về trình tự, thủ tục đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm; thêm thủ tục mới là “Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao”…

Trong thực tiễn tiến hành tố tụng dân sự, các cá nhân tiến hành tố tụng đã có ý thức đảm bảo các quyền con người của đương sự (nguyên đơn, bị đơn), quyền của luật sư, người bảo vệ quyền và lợi ích cho nguyên đơn, bị đơn. Chính từ việc đảm bảo các quyền con người trong tố tụng và sự thận trọng trong nghề nghiệp của người tiến hành tố tụng đã làm cho các trường hợp xử sai trong tố tụng dân sự giảm đi đáng kể.

b. Những vấn đề còn tồn tại

Mặc dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ngày càng hoàn thiện, song để đảm bảo các quyền con người trong tố tụng dân sự trong thực tế thì cả hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và trong thực thi pháp luật tố tụng dân sự vẫn còn có những tồn tại như sau:

Thứ nhất, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 chưa có hệ thống nguyên tắc đảm bảo quyền con người trong tố tụng dân sự đầy đủ và hoàn thiện

Về nguyên tắc tranh tụng, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung sau 7 năm có hiệu lực nhằm ghi nhận các giá trị của quyền con người, song trên thực tiễn vẫn chưa ghi nhận các nguyên tắc cốt lõi mang tính chất tuyên ngôn nhằm đảm bảo quyền con người trong tố tụng dân sự. Đó là nguyên tắc tranh tụng. Trong tố tụng dân sự, chúng ta bàn đến nguyên tắc xét xử dân chủ, công bằng, vô tư, khách quan. Bản chất và phương pháp để đạt đến sự dân chủ, công bằng, vô tư và khách quan chính là qua con đường tranh tụng. Trên thực tế, chúng ta thừa nhận yếu tố của các hành vi mang tên gọi là tranh luận và có nhiều người dễ dãi thì cho rằng tranh luận trong tố tụng gọi là tranh tụng. Vấn đề nguyên tắc tranh tụng không đơn giản chỉ dừng lại ở ý niệm khái quát về ngôn ngữ như vậy. Tranh tụng là một nguyên tắc để từ đó xác định chứng cứ, đánh giá chứng cứ, ra bản án thông qua quá trình tranh tụng minh bạch. Thông qua việc áp dụng nguyên tắc tranh tụng, thẩm phán xét xử theo pháp luật và bằng pháp luật, các đương sự bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình trên cơ sở các chứng cứ được đánh giá khách quan, rõ ràng.

Về nguyên tắc độc lập của tòa án, muốn đảm bảo quyền con người trong tố tụng dân sự thì nguyên tắc độc lập của tòa án cần thiết phải được đặt ra. Song thực tế tố tụng dân sự ở Việt Nam, thì nguyên tắc độc lập xét xử chỉ tuân theo pháp luật vẫn đang tồn tại một cách lệ thuộc vào mối quan hệ giữa các cơ quan, chủ thể tiến hành tố tụng dân sự. Hơn thế nữa, yếu tố tố tụng thẩm vấn hiện nay đang tạo ra cơ chế cho phép thẩm phán phải tham gia vào nhiều công đoạn tế nhị của tố tụng dân sự. Do đó, các thẩm phán chưa thể đáp ứng yêu cầu cơ bản của nguyên tắc độc lập của tòa án như: “Độc lập trong quá trình thực hiện chức năng của mình” hoặc “không được tham gia bất cứ hoạt động nào có khả năng làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng xét xử họ”. Như vậy, thực tế nguyên tắc độc lập của tòa án chưa được công nhận là một nguyên tắc của tố tụng dân sự, nên vô hình chung tạo ra một nguyên nhân khách quan cho thẩm phán khi tiến hành tố tụng thiếu đi mất sự độc lập cần phải có.

Về sự tham gia của Viện kiểm sát trong quá trình tố tụng dân sự, thực tiễn cho thấy, muốn đảm bảo quyền con người trong tố tụng dân sự một cách có hiệu quả, thì việc xây dựng mối quan hệ bình đẳng giữa các bên tham gia tố tụng là một vấn đề đáng cân nhắc ở Việt Nam hiện nay. Về lý luận, muốn các bên đương sự bình đẳng với nhau và thụ hưởng quyền bình đẳng, thì cần phải đánh giá lại vị trí của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự. Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự đảm bảo được tính pháp chế thì có đảm bảo được tính tự nguyện và bình đẳng giữa các bên trong quan hệ tố tụng dân sự hay không? Rõ ràng là đang có sự mâu thuẫn trong nhận thức về vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự. Vậy về mặt thực tiễn, Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự ở phiên sơ thẩm (ở các vụ án nhất định), tiến hành kháng nghị là phù hợp, song về mặt lý luận và xuất phát từ các nguyên lý cơ bản của ngành luật tố tụng dân sự, thì sự tham gia của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự đang phá vỡ mối quan hệ bình đẳng giữa các đương sự và với tòa án. Tuy nhiên, cũng cần phải tính đến thực tế vai trò của Viện kiểm sát đối với sự minh bạch của nền tư pháp để có được kết luận cuối cùng về vị trí của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự.

Thứ hai, các quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự đang đứng trước thực tế khó áp dụng, không mang tính khả thi

Về quy định liên quan đến nghĩa vụ chứng minh, thu thập chứng cứ và đánh giá chứng cứ, Bộ luật Tố tụng dân sự được soạn thảo theo nguyên tắc chứng minh trong tố tụng dân sự. Chứng minh trong tố tụng dân sự vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của các bên đương sự. Căn cứ vào lợi ích của mình, các bên đương sự đưa ra trước tòa những chứng cứ có lợi cho họ và không có nghĩa vụ phải cung cấp chứng cứ chống lại họ. Đây là nguyên nhân làm cho các vụ án bị kéo dài thời gian giải quyết. Liên quan đến vấn đề này, có quan điểm cho rằng, phải kéo dài thời gian đến bao giờ có chứng cứ thì thôi, vì Bộ luật Tố tụng dân sự chưa quy định về thời gian thu thập và xuất trình chứng cứ; có quan điểm cho rằng, cần phải quy định một thời gian nhất định cho việc thu thập chứng cứ để cung cấp cho thẩm phán. Vì chưa có quy định cụ thể nên hiện nay, các vụ tranh chấp dân sự bị kéo dài thời gian do nghĩa vụ thu thập chứng cứ chưa được quy định cụ thể và trách nhiệm bắt buộc Tòa án phải mở phiên tòa cũng đang ở dạng tùy nghi, nên quyền lợi của các bên đương sự đang bị ảnh hưởng rất nhiều, thậm chí nghiêm trọng.

Về quy định liên quan đến quyền chứng minh, trong tố tụng dân sự, quyền chứng minh của đương sự có thể phái sinh cho người có bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, việc xác định tư cách của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hiện nay đang trao cho Tòa án. Do đó, quyền tự do lựa chọn người bảo vệ cho các bên đương sự đang đứng giữa mâu thuẫn là Tòa án cho phép thì được bảo vệ và tiêu chí cụ thể nào để tòa án không cho phép thì chưa được quy định và liệt kê một cách đầy đủ, dẫn đến sự tùy tiện của Tòa án trong việc cho phép hoặc không cho phép họ được đại diện hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. ý chí tự nguyện của đương sự trong tố tụng dân sự khi lựa chọn luật sư, người bảo vệ quyền lợi trong tố tụng dân sự chưa đảm bảo.

Về trình tự, thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự hiện nay chưa thể hiện được là một quy trình tố tụng đảm bảo tối đa sự tuân thủ các nguyên tắc tố tụng dân sự và đảm bảo quyền con người. Bởi lẽ, chưa có sự phân biệt và cụ thể của nguyên tắc hai cấp xét xử, chưa có sự phân biệt giữa thủ tục của tố tụng dân sự với tố tụng hình sự ở diễn biến, trình tự và giai đoạn của mỗi phiên tòa. Giai đoạn chứng minh, tranh luận trong tố tụng dân sự chưa có gì khác với chứng minh, tranh luận trong tố tụng hình sự mặc dù bản chất, hình thức và nội dung, cách thức đòi hỏi tố tụng dân sự và tố tụng hình sự phải không giống nhau mới thể hiện được rõ nét quyền con người trong tố tụng dân sự và quyền con người trong tố tụng hình sự cần phải diễn ra như thế nào mới phù hợp.

Thẩm tra trong tố tụng dân sự và giám sát của nhân dân, giám sát của Quốc hội chưa thể hiện trong tố tụng dân sự, mặc dù đây là ba cơ chế đảm bảo quyền con người một cách rõ nét. Đặc biệt, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 đã thừa nhận cơ chế xem lại bản án như “Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao” càng đòi hỏi mối quan hệ giữa đương sự với các cơ quan có thẩm quyền trong tố tụng dân sự phải được quy định cụ thể.

Như vậy, vấn đề đặt ra cần phải có giải pháp cụ thể không chỉ để cho các cơ quan tiến hành tố tụng dễ dàng trong việc giải quyết đúng thẩm quyền, đúng thời hạn, đúng pháp luật mà vấn đề cần phải đảm bảo tối đa quyền con người trong tố tụng dân sự. Để sự đảm bảo vững chắc nhất, theo chúng tôi, cần có sự đổi mới về nhận thức bắt nguồn từ các giá trị mà pháp luật quốc tế mang lại. Cụ thể:

+ Đảm bảo quyền độc lập cho tư pháp. Thẩm phán phải được tuyển chọn, bổ nhiệm đúng chất lượng, trình độ và quy chuẩn đạo đức. Quá trình thanh lọc các thẩm phán không đủ tiêu chuẩn, trình độ và đạo đức cần phải tiến hành từ phía kiến nghị của người dân.

+ Đảm bảo tranh tụng được xem là một nguyên tắc trong tố tụng dân sự song có sự phân biệt cụ thể và rõ ràng giữa sự khác nhau của tranh tụng trong tố tụng hình sự với tranh tụng trong tố tụng dân sự từ thu thập chứng cứ, chứng minh lẫn phán quyết.

+ Đảm bảo địa vị bình đẳng của các chủ thể tham gia tố tụng dân sự, đặc biệt là cơ chế để luật sư, người bào chữa tham gia các quá trình tố tụng dân sự theo nhu cầu của nguyên đơn, bị đơn.

Tố tụng dân sự cần phải được hiểu là quá trình nhà nước, các cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền đứng ra giải quyết tranh chấp giúp hai bên đương sự theo thủ tục tư pháp dân chủ. Do đó, nguyên tắc dân chủ, công khai, khách quan phải là nguyên tắc được quán triệt trong việc xây dựng pháp luật tố tụng dân sự, đồng thời cũng là nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của Tòa án.

Cần phải có thống kê, tổng kết, xác định số lượng các án dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân gia đình để thành lập các tòa chuyên trách và đội ngũ thẩm phán phù hợp với chuyên môn hơn. Ví dụ như thành lập Tòa án hôn nhân gia đình, Tòa án bảo vệ người tiêu dùng, Tòa án đất đai v.v... Bởi mỗi loại tranh chấp cần phải có thủ tục tố tụng dân sự riêng và thời gian thụ lý, xét xử cũng phải tính đến tính đặc thù của từng vụ án

TS. Trương Thị Hồng Hà

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.

Theo dõi chúng tôi trên: