Thứ ba 08/09/2026 09:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền của người cao tuổi sau 10 năm thi hành Hiến pháp năm 2013 và giải pháp trong thời gian tới

Bài viết đánh giá thực trạng thực hiện quyền của người cao tuổi theo quy định của Hiến pháp năm 2013 sau hơn 10 năm thi hành, từ đó, đề xuất một số giải pháp để tiếp tục thực hiện tốt hơn các quy định về quyền của người cao tuổi.

1. Đặt vấn đề

Sau hơn 10 năm thi hành Hiến pháp năm 2013, pháp luật về người cao tuổi (NCT) đã không ngừng được hoàn thiện về nội dung và cách thức tổ chức thực hiện. Quyền của người cao tuổi về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đã có nhiều cải thiện. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đang đứng trước thách thức về vấn đề già hóa dân số, yêu cầu về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ngày càng cao hơn. Tổng kết 10 năm thi hành Hiến pháp năm 2013 và xác định những giải pháp để nâng cao hiệu quả thúc đẩy và bảo vệ quyền của NCT là rất cần thiết về mặt lý luận và thực tiễn

2. Khái quát về quyền của người cao tuổi

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), NCT là người từ 65 tuổi trở lên, được xem xét việc phân loại dưới góc độ y học và dựa vào sự đánh giá các biểu hiện suy giảm khả năng tâm, sinh lý và các chức năng vận động. Dưới góc độ kinh tế - xã hội, NCT là người về cơ bản đã hết khả năng lao động cần được nghỉ ngơi. Trong Công ước số 128 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về chế độ mất sức lao động, tuổi già và tử tuất (năm 1967), tại Điều 15 quy định độ tuổi được coi là tuổi già hưởng chế độ hưu trí là “độ tuổi không quá 65 tuổi hoặc cao hơn nhưng có thể được ấn định bởi cơ quan có thẩm quyền liên quan đến nhân khẩu học, các tiêu chuẩn về kinh tế, xã hội sẽ được thể hiện qua thống kê của các quốc gia. Như vậy, NCT được xác định chủ yếu dựa vào “độ tuổi” và do pháp luật quốc gia quy định.

Ở Việt Nam, theo Luật Người cao tuổi năm 2009, NCT được xác định là người từ đủ 60 tuổi trở lên, không phân biệt giới tính. NCT ở Việt Nam có một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất, NCT thường dễ bị phụ thuộc, do gặp nhiều khó khăn về kinh tế, sức khỏe. Theo Tổng cục Thống kê, tính đến năm 2020, cả nước có hơn 11 triệu NCT, trong đó có khoảng hơn 06 triệu người đang được hưởng chế độ hưu trí, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và hưởng trợ cấp xã hội. Như vậy, còn khoảng hơn 05 triệu NCT không có thu nhập hàng tháng, nhiều người có cuộc sống khó khăn, sống phụ thuộc vào con, cháu[1].

Thứ hai, NCT có nguy cơ bị lạm dụng, bạo lực, tổn thương về tinh thần và thể chất,... Đây là tình trạng chung của các nước trên thế giới, Cố vấn Y tế cao cấp của WHO, Bà Alana Officer cho rằng: “Sự lạm dụng NCT đang gia tăng”[2]. Đây cũng là vấn đề mà NCT ở Việt Nam đang phải đối mặt.

Thứ ba, NCT là người đã hết tuổi lao động, theo quy định của pháp luật lao động, nhưng vẫn có nhu cầu được phát triển, được làm việc, được cống hiến, được tham gia các hoạt động thể dục, thể thao, học tập, văn hóa, du lịch… Theo số liệu của Đề án 06 về dữ liệu dân cư[3], NCT ở độ tuổi 60 - 70 là trên 9,4 triệu người. Trong bối cảnh già hóa dân số nhanh, đây thực sự là nguồn lực có thể tham gia đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Thứ tư, NCT ở Việt Nam đang gia tăng rất nhanh. Theo cơ sở dữ liệu dân cư do Bộ Công an cung cấp, đến ngày 09/02/2023 cả nước có 16.179.824 công dân từ 60 tuổi trở lên, chiếm gần 17% số dân, trong đó từ 60 đến dưới 70 tuổi là 9.417.924 người, từ 70 đến dưới 80 tuổi là 4.189.640 người, từ 80 đến dưới 90 tuổi là 1.907.991 người, từ 90 đến dưới 100 tuổi là 623.221 người, từ 100 tuổi trở lên là 41.048 người. Điều đáng lưu ý, quá trình quá độ từ già hóa dân số đến dân số già của Việt Nam chỉ trong vòng 20 năm, trong khi các quốc gia phát triển kéo dài hàng trăm năm. Dự báo đến năm 2030, tỷ trọng người cao tuổi ở Việt Nam chiếm 18% và năm 2050 sẽ là 26% dân số[4].

Về quyền của NCT, đây là vấn đề luôn được thế giới quan tâm vì tình trạng già hóa dân số đang diễn ra trên toàn cầu. Vấn đề quyền của NCT được nhắc đến trong một số nghị định thư về những vấn đề nhất định, chẳng hạn, phụ nữ cao tuổi trong vấn đề bình đẳng giới... Ngoài ra, năm 1992, Liên Hợp quốc đã ra Quyết định số 45/106 lấy ngày 01/10 hàng năm làm Ngày Quốc tế NCT, nêu lên 05 quyền và khuyến nghị các quốc gia thực hiện, đó là: (i) Quyền được sống độc lập không bị phụ thuộc; (ii) Quyền được tham gia mọi công việc trong xã hội và cộng đồng; (iii) Quyền được chăm sóc vật chất tinh thần; (iv) Quyền được phát huy, phát triển cá nhân; (v) Quyền được tôn trọng nhân phẩm. Đến năm 2002, Liên Hợp quốc thông qua Kế hoạch hành động Madrid, khuyến nghị các quốc gia bảo đảm quyền của NCT ở ba lĩnh vực: Người cao tuổi và phát triển, tăng cường sức khỏe và an sinh của người cao tuổi và bảo đảm môi trường thuận lợi. Mặc dù, những văn bản này chỉ có tính chất khuyến nghị, nhưng Việt Nam đã sớm có cam kết thực hiện. Trên cơ sở Quyết định số 45/106 năm 1992 và Kế hoạch hành động Madrid, Ban Bí thư (khóa VII) đã ban hành Chỉ thị số 59-CT/TW ngày 27/9/1995 về chăm sóc người cao tuổi; Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Người cao tuổi năm 2000 và Luật Người cao tuổi năm 2009. Theo đó, NCT ở Việt Nam cũng được công nhận và tôn trọng các quyền trên 03 lĩnh vực khuyến nghị của Liên Hợp quốc.

3. Quyền của người cao tuổi sau 10 năm thi hành Hiến pháp năm 2013

3.1. Những kết quả đạt được

Trước Hiến pháp năm 2013, quyền của NCT đã được ghi nhận trong Pháp lệnh Người cao tuổi năm 2000 và sau đó là Luật Người cao tuổi năm 2009. Trong khi, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) chỉ ghi nhận quyền “được giúp đỡ của người già” (Điều 67).

Theo Điều 37 Hiến pháp 2013, NCT được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Như vậy, NCT không chỉ được chăm sóc mà còn phải được tôn trọng, “phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đó là sự thay đổi về quyền của NCT trong Hiến pháp năm 2013 (so với Hiến pháp trước đó), theo hướng phù hợp với Quyết định số 45/106 năm 1992, Kế hoạch hành động Madrid năm 2022.

Sự thay đổi trong nhận thức về quyền con người và quy định về quyền của người cao tuổi trong Hiến pháp năm 2013, đã có những tác động quan trọng đến nội dung quyền của NCT và việc tổ chức thực hiện trong thực tiễn. Thể hiện trong quy định về quyền của người lao động cao tuổi trong Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, năm 2024, Luật Khám chữa bệnh năm 2023, Luật Việc làm năm 2013... Nghị định số 06/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thị hành một số điều của Luật Người cao tuổi; Quyết định số 178/QĐ-TTg ngày 22/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình hành động quốc gia về NCT Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020 và Quyết định số 2156/QĐ-TTg ngày 21/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2021 - 2030); Quyết định số 7618/QĐ-BYT ngày 30/12/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt Đề án chăm sóc sức khỏe NCT giai đoạn 2017 - 2025; Thông tư số 35/2011/TT-BYT ngày 15/10/2011 của Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện chăm sóc sức khỏe NCT; Thông tư số 21/2011/TT-BTC ngày 18/02/2011 của Bộ Tài chính quy định quản lý và sử dụng kinh phí chăm sóc sức khỏe ban đầu cho NCT tại nơi cư trú; chúc thọ, mừng thọ và biểu dương khen thưởng… Thông qua đó, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách để thúc đẩy, bảo vệ NCT thực hiện quyền của mình và mang lại những thành tựu quan trọng về quyền của NCT trên cả 03 lĩnh vực:

Thứ nhất, trên lĩnh vực NCT và phát triển: NCT được tạo điều kiện, khuyến khích tham gia Hội NCT. Hội NCT đã đóng vai trò quan trọng trong việc tham gia ý kiến trong xây dựng chính sách, tổ chức các hoạt động để NCT có cơ hội được phát triển về thể lực, trí lực, văn hóa, xã hội, kinh tế. Sau hơn 30 năm được thành lập, đến năm 2022, tổng số hội viên của Hội NCT Việt Nam là 9,7 triệu hội viên, chiếm hơn 80% số NCT; 100% xã, phường, thị trấn có tổ chức Hội NCT[5]. Hội NCT đã tham gia ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật. Trong đó, có Luật Người cao tuổi.

Các cấp ủy, chính quyền địa phương đã thực hiện trách nhiệm của mình trong việc tạo các điều kiện về cơ sở vật chất, nguồn lực, lãnh đạo và phối hợp với Hội NCT ở các địa phương tổ chức nhiều hoạt động sinh hoạt văn hóa, giáo dục, thể dục, thể thao,... nhiều phong trào, mô hình tiêu biểu, như: “NCT mẫu mực”; “Tuổi cao - Gương sáng”; “NCT tham gia xây dựng nông thôn mới”; “NCT tham gia xây dựng dòng họ không có người vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội”; “Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền”; “NCT tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”; “NCT làm kinh tế giỏi” đã được tổ chức giúp NCT tiếp tục phát triển hoàn thiện bản thân về năng lực, kinh nghiệm, uy tín; phát huy được vai trò của mình trong gia đình và xã hội. Đồng thời, thông qua đó, NCT được chăm sóc, giảm bớt sự cô đơn khi về già, nâng cao chất lượng cuộc sống cho NCT.

Thứ hai, tăng cường sức khỏe, an sinh cho người cao tuổi: Các chính sách về chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội cho NCT từng bước được cải thiện. Với mục tiêu bao phủ bảo hiểm y tế cho NCT, tính đến hết năm 2022, theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, cả nước có khoảng trên 12 triệu NCT có thẻ bảo hiểm y tế, chiếm 95% tổng số NCT[6]. Chính sách bảo hiểm xã hội của NCT đã mở rộng đối tượng đến công dân từ đủ 75 tuổi trở lên không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng. Trên toàn quốc, hiện có hơn 3,2 triệu NCT đang hưởng chế độ bảo hiểm xã hội. Hơn 800.000 NCT đang hưởng chế độ người có công. Gần 1,9 triệu NCT hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng, trong đó hơn 10.000 người cao tuổi được chăm sóc từ cơ sở trợ giúp xã hội, người cao tuổi từ đủ 75 đến 80 tuổi thuộc diện hộ nghèo được hưởng trợ cấp hàng tháng. Mức trợ cấp từ 2010 - 2020 đã tăng 04 lần[7].

Để thực hiện tốt an sinh xã hội cho NCT, đồng thời phát huy nguồn lực NCT trong phát triển kinh tế - xã hội, các quy định về quyền làm việc của NCT, quyền của người lao động cao tuổi cũng đang được hoàn thiện, giúp cho NCT có cơ hội ra nhập thị trường lao động. Ngoài ra, các cấp ủy và chính quyền nhà nước, tùy theo trách nhiệm của mình đã có nhiều nỗ lực về hoàn thiện chính sách; ưu tiên dành nguồn lực; phối hợp với các cơ quan đoàn thể; đẩy mạnh xã hội hóa để có nguồn lực chăm sóc cho NCT, nhất là NCT không có lương hưu hoặc thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo, gia đình chính sách, có công với nước…

Thứ ba, về bảo đảm môi trường sống thuận lợi cho người cao tuổi: Trước những biến động của các điều kiện xã hội, hiện nay có 65% NCT đang ở với con cháu; 35% đang sống độc thân[8]. Nhà nước đang có những chính sách ưu tiên bảo đảm quyền có chỗ ở độc lập cho NCT, như tặng nhà, phát triển các cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng NCT. Năm 2022, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phân bổ 500 nhà đại đoàn kết cho NCT chưa có nhà, ở nhà tạm tại các địa phương bảo đảm quyền của người cao tuổi ở Việt Nam[9]. Đồng thời, hoàn thiện cơ sở pháp lý, bảo đảm an toàn cho NCT, như quy định về người có trách nhiệm phụng dưỡng người cao tuổi, về những biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình…

3.2. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong bảo vệ, thúc đẩy quyền của người cao tuổi

Bảo vệ và thúc đẩy quyền của NCT thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng bên cạnh đó, vẫn còn những hạn chế nhất định. Một số chỉ tiêu trong Chương trình hành động quốc gia cho NCT giai đoạn 2012 - 2020 chưa đạt. Trong bối cảnh già hóa dân số đang đặt ra những thách thức mới, đòi hỏi phải giải quyết, đó là:

- Về lĩnh vực NCT và phát triển: Một số chính sách Nhà nước quy định, nhằm tạo điều kiện để NCT có thể thực hiện được các quyền của mình còn khó tiếp cận như giảm vé cho NCT đi các phương tiện giao thông công cộng; các chính sách hỗ trợ vốn để NCT phát triển kinh tế… Việc tạo điều kiện để NCT tham gia các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao… còn phụ thuộc rất nhiều vào sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương và sự chủ động, tích cực của hội NCT. Vì vậy, NCT nói chung, đặc biệt NCT thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo còn gặp nhiều khó khăn trong thực hiện các quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội.

- Về lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và an sinh xã hội: Theo đánh giá của Bộ Y tế (2018), tỷ lệ NCT tự đánh giá sức khỏe tốt hoặc rất tốt còn thấp (chỉ khoảng 5%), trong khi có tới hơn 65% cho rằng có sức khỏe yếu và rất yếu[10]. Mặc dù, tuổi thọ bình quân của Việt Nam những năm gần đây tăng lên, nhưng số năm trung bình sống khỏe mạnh hiện nay chỉ đạt 64 tuổi; tỷ lệ NCT có thẻ BHYT đã cao, nhưng chất lượng chăm sóc sức khỏe cho NCT còn nhiều bất cập. Hiện cả nước chỉ có 49/63 bệnh viện đa khoa tỉnh, thành phố có khoa lão khoa, 03 cơ sở đào tạo bộ môn lão khoa, vừa điều trị bệnh, vừa điều trị phục hồi chức năng cho người cao tuổi[11].

Tỷ lệ NCT thuộc hộ nghèo chiếm 3,6%, cận nghèo chiếm 11,6% (cao hơn bình quân chung của cả nước); số NCT không có lương hưu và trợ cấp BHXH chiếm 65%[12]. Tuy nhiên, NCT muốn đi làm để có thu nhập, lại gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận việc làm. Trong khi, số NCT trong độ tuổi có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh là từ 60 đến 70 tuổi đang chiếm tỷ lệ cao. Đây là một tồn tại lớn trong giải quyết an sinh xã hội cho NCT.

- Về đảm bảo môi trường sống thuận lợi cho NCT: Mặc dù, thời gian qua, pháp luật không ngừng hoàn thiện để bảo vệ môi trường sống thuận lợi cho NCT. Nhưng thực tế cho thấy tình trạng NCT bị bạo hành, ngược đãi vẫn diễn biến phức tạp. Tình trạng này xảy ra trong cả gia đình và tại các cơ sở chăm sóc NCT.

Nguyên nhân: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên, trong đó có một số nguyên nhân sau:

Nguyên nhân khách quan: (i) Do trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam còn thấp, nguồn lực kinh tế cho chăm sóc NCT còn hạn chế; (ii) Tốc độ già hóa dân số ở Việt Nam diễn ra quá nhanh, làm cho quá trình hoàn thiện chính sách và chuẩn bị nguồn lực phù hợp gặp nhiều khó khăn, lúng túng.

Nguyên nhân chủ quan: (i) Nhận thức chưa đầy đủ về vị trí, vai trò của NCT trong bối cảnh già hóa dân số ở Việt Nam hiện nay; (ii) Việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng về vấn đề NCT còn chậm trễ, quyết tâm chính trị chưa cao; (iii) Hệ thống pháp luật về NCT chậm hoàn thiện, nhất là bất cập trong Luật Người cao tuổi năm 2009, một số quy định về quyền của người lao động cao tuổi chưa cụ thể, thiếu cơ sở pháp lý bảo vệ; các quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc tạo điều kiện để NCT được thực hiện các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, chưa đầy đủ, chưa rõ ràng và thiếu tính toàn diện; (iv) chưa phát huy tốt các chính sách xã hội hóa và ưu tiên nguồn lực vào việc tạo điều kiện chăm sóc và phát huy vai trò của NCT.

4. Giải pháp tiếp tục bảo vệ và thúc đẩy quyền của người cao tuổi theo quy định của Hiến pháp năm 2013

4.1. Nâng cao nhận thức chung của xã hội về phát huy vai trò của người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số

Ở Việt Nam, NCT luôn được coi là một lực lượng xã hội có vai trò quan trọng, điều này thể hiện rõ trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đến nay, vai trò của NCT tiếp tục được khẳng định trong chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, trong bối cảnh, Việt Nam đang già hóa dân số, tỷ lệ NCT trên tổng dân số đang gia tăng từng năm, thì NCT không chỉ có vai trò quan trọng trong xã hội, mà còn là “lực lượng chính trị quan trọng, nguồn lực phát triển”. Vì vậy, các chính sách với NCT phải đặc biệt quan tâm đến việc phát huy “nguồn lực phát triển” này trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam cần tránh quan điểm, nhìn nhận về NCT ở góc độ là gánh nặng cho xã hội, nên khi xây dựng chính sách lại chỉ tập trung vào các vấn đề chăm sóc, trợ giúp, phụng dưỡng… mà thiếu các chính sách hỗ trợ để NCT được làm việc, được tiếp tục đóng góp những kinh nghiệm, vốn trí thức… là những lợi thế mà các lực lượng lao động khác còn hạn chế.

Đồng thời, mỗi NCT cần nâng cao nhận thức về trách nhiệm bản thân, tránh tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự chăm lo của Nhà nước, xã hội và gia đình, phải nỗ lực hoàn thiện bản thân để đóng góp, cống hiến cho sự phát triển của đất nước.

Việc nâng cao nhận thức này phải bắt đầu từ việc hoàn thiện chính sách, pháp luật về NCT, với những chính sách hỗ trợ cụ thể, để NCT phát huy được năng lực, phẩm chất của mình vào quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ đó, việc tuyên truyền nâng cao nhận thức chung của xã hội mới có hiệu quả.

4.2. Hoàn thiện pháp luật và thể chế hóa kịp thời quan điểm, đường lối của Đảng về người cao tuổi

Hiến pháp năm 2013 đã kịp thời thể chế hóa quan điểm của Đảng về NCT được thể hiện trong kết luận tổng kết 14 năm thực hiện Chỉ thị số 59-CT/T.Ư ngày 27/9/1995 của Ban Bí thư Trung ương (khóa VII) về chăm sóc NCT: “NCT cần được chăm sóc và phát huy trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Tuy nhiên, vấn đề già hóa dân số đã được chỉ ra trong Văn kiện Đại hội XIII, “bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò NCT; khuyến khích NCT tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội; tích cực, chủ động xây dựng môi trường thân thiện với NCT”[13]; “phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, học tập của NCT trong xã hội, cộng đồng và gia đình”[14]. Tuy nhiên, Luật Người cao tuổi năm 2009, chủ yếu quan tâm đến vấn đề chăm sóc, phụng dưỡng NCT nên cần sớm sửa đổi, bổ sung Luật Người cao tuổi năm 2009, để kịp thời thể chế hóa quan điểm của Đảng về NCT trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII. Bổ sung những bất cập trong Luật Người cao tuổi năm 2009 về khái niệm NCT, về các quyền của NCT, trách nhiệm của Nhà nước trong khuyến khích NCT tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội; “phấn đấu đến năm 2025 có ít nhất 20% số xã, phường, thị trấn đạt tiêu chí môi trường thân thiện với NCT”[15]. Đó là môi trường có năng lực hỗ trợ và đáp ứng nhu cầu có lợi cho NCT, NCT có mối quan hệ thân thiện trong gia đình, xã hội. Nhà nước có trách nhiệm hoàn thiện pháp luật, xây dựng chính sách theo hướng khuyến khích, nâng cao trách nhiệm gia đình, xã hội trong chăm lo, bảo vệ, khuyến khích NCT phát huy năng lực của mình cho gia đình, xã hội và tự tạo dựng các điều kiện sống độc lập cho bản thân, tránh sự phụ thuộc vào các chủ thể khác. Như vậy, để tiếp tục thực hiện quy định của Hiến pháp năm 2013 về NCT, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật. Trước hết, cần phải sửa đổi, bổ sung Luật Người cao tuổi nhằm thể chế hóa đầy đủ quan điểm của Đảng trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII và đồng bộ với các quy định trong Bộ luật Lao động năm 2019 và các văn bản pháp luật khác có liên quan; thứ hai, sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động năm 2019 để tiếp tục hoàn thiện các quy định về quyền của người lao động cao tuổi… hoàn thiện các quy định về hỗ trợ đào tạo nghề cho NCT, cơ hội tiếp cận các nguồn vốn để NCT phát triển kinh doanh, hỗ trợ khởi nghiệp…

4.3. Nâng cao chất lượng và tạo điều kiện để người cao tuổi được tiếp cận các dịch vụ cho người cao tuổi

Nhà nước cần có chính sách phát triển ngành lão khoa đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh già hóa dân số hiện nay. NCT phải được khám và chữa bệnh với các điều kiện về cơ sở vật chất và chuyên gia y tế phù hợp. Cùng với phát triển các cơ sở điều trị lão khoa công lập rộng khắp để NCT có thể tiếp cận, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích xã hội hóa để nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho NCT, bảo đảm mục tiêu: “phát triển hệ thống dịch vụ y tế dành cho NCT; phấn đấu đến năm 2025, 95% NCT có thẻ bảo hiểm y tế, được quản lý sức khỏe, khám, chữa bệnh, chăm sóc tại gia đình, cộng đồng, cơ sở chăm sóc tập trung”[16].

Đồng thời, quản lý và phát triển hệ thống các cơ sở chăm sóc NCT bảo đảm chất lượng và an toàn cho NCT. Hoàn thiện các cơ chế phát hiện các hành vi ngược đãi, hành hạ về thể chất, tinh thần NCT. Đặc biệt, đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục về đạo hiếu, kính trọng NCT, trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ, ông bà của con cháu… Hoàn thiện hệ thống các chính sách, hạn chế tối đa điều kiện sống phụ thuộc của NCT, bảo đảm quyền được sống độc lập của NCT.

4.4. Phát huy vai trò của Hội Người cao tuổi trong bảo đảm quyền của người cao tuổi

Để phát huy vai trò Hội NCT trong bảo vệ và thúc đẩy quyền của NCT, trước hết cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội. Cán bộ Hội phải là người thực sự có tâm huyết, trách nhiệm trong công tác hội và phải thường xuyên được tập huấn về công tác hội. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cấp ủy, chính quyền địa phương với Hội NCT. Vấn đề NCT phải được lồng ghép trong các định hướng lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy và công tác tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của chính quyền địa phương. Xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc giải quyết các kiến nghị, đề xuất, yêu cầu phối hợp của Hội NCT.

5. Kết luận

Việc thực hiện các quy định của Hiến pháp năm 2013 thời gian qua đã mang lại nhiều kết quả quan trọng về bảo vệ và thúc đẩy quyền của NCT, nhưng vẫn còn không ít những hạn chế cần khắc phục. Trong bối cảnh già hóa dân số hiện nay, vấn đề quyền của NCT đang tiếp tục đặt ra nhiều thách thức mới. Thực tế này đòi hỏi phải giải quyết bằng nhiều giải pháp đồng bộ. Trong đó, việc nâng cao nhận thức chung của xã hội và đẩy nhanh quá trình hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định về NCT trong Hiến pháp và pháp luật là những giải pháp trọng tâm./.

TS. Trần Thị Thanh Mai

Học viện Chính trị khu vực I

[1]. Cần có giải pháp hoàn thiện pháp luật về người cao tuổi, https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=84895, truy cập ngày 10/8/2024.

[2]. Vấn nạn lạm dụng người cao tuổi ngày càng gia tăng, http://www.hspi.org.vn/vcl/-Van-nan-lam-dung-nguoi-cao-tuoi-ngay-cang-gia-tang-t92-8706.html, truy cập ngày 10/8/2024.

[3]. Ngày 06/01/2022, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 06/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=205022, truy cập ngày 10/8/2024.

[4]. Thiên Lam (2017), Việt Nam đang có tốc độ già hóa dân số nhanh, http://nhandan.com.vn/suckhoe/tin-tuc/item/33489902-viet-nam-dang-co-toc-do-gia-hoa-dan-so-nhanh.html, truy cập ngày 10/8/2024.

[5]. 97 triệu người tham gia hội người cao tuổi, https://nhandan.vn/97-trieu-nguoi-tham-gia-hoi-nguoi-cao-tuoi-post691654.html, truy cập ngày 10/8/2024.

[6]. Bảo đảm quyền của người cao tuổi ở Việt Nam, https://www.xaydungdang.org.vn/nhan-quyen-va-cuoc-song/bao-dam-quyen-cua-nguoi-cao-tuoi-tai-viet-nam-20135, truy cập ngày 10/8/2024.

[7]. 97 triệu người tham gia hội người cao tuổi, https://nhandan.vn/97-trieu-nguoi-tham-gia-hoi-nguoi-cao-tuoi-post691654.html, truy cập ngày 10/8/2024.

[8]. Trương Xuân Cừ, https://quochoitv.vn/chuong-trinh-60-can-sua-doi-luat-nguoi-cao-tuoi-de-dap-ung-yeu-cau-thuc-tien.

[9]. Bảo đảm quyền của người cao tuổi ở Việt Nam, https://www.xaydungdang.org.vn/nhan-quyen-va-cuoc-song/bao-dam-quyen-cua-nguoi-cao-tuoi-tai-viet-nam-20135, truy cập ngày 10/8/2024.

[10]. Việt Nam còn nhiều thách thức trong công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, https://moh.gov.vn/chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia/-/asset_publisher/7ng11fEWgASC/content/viet-nam-con-nhieu-thach-thuc-trong-cong-tac-cham-soc-suc-khoe-nguoi-cao-tuoi?inheritRedirect=false, truy cập ngày 10/8/2024.

[11]. PGS. TS Đặng Thị Ánh Tuyết - Vũ Thái Hạnh, Vai trò và thách thức đối với người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số ở Việt Nam - Một số hàm ý chính sách, https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/825736/vai-tro-va-thach-thuc-doi-voi-nguoi-cao-tuoi-trong-boi-canh-gia-hoa-dan-so-o-viet-nam---mot-so-ham-y-chinh-sach.aspx, truy cập ngày 10/8/2024.

[12]. Bảo đảm quyền của người cao tuổi ở Việt Nam, https://www.xaydungdang.org.vn/nhan-quyen-va-cuoc-song/bao-dam-quyen-cua-nguoi-cao-tuoi-tai-viet-nam-20135, truy cập ngày 10/8/2024.

[13]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tập 1, tr. 271.

[14]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tập 1, tr. 170.

[15]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tập 2, tr. 139.

[16]. Quyết định số 2156/QĐ-TTg ngày 21/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2021 - 2030.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 411), tháng 8/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
“Du lịch Net Zero” - Bảo tồn giá trị văn hóa, kiến tạo hành trình xanh (kỳ 2)

“Du lịch Net Zero” - Bảo tồn giá trị văn hóa, kiến tạo hành trình xanh (kỳ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“Du lịch Net Zero” - Bảo tồn giá trị văn hóa, kiến tạo hành trình xanh (kỳ 1)

“Du lịch Net Zero” - Bảo tồn giá trị văn hóa, kiến tạo hành trình xanh (kỳ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Theo dõi chúng tôi trên: