Thứ bảy 07/03/2026 12:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Rà soát, cập nhật thông tin đương nhiên được xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14

Ngày 20/6/2017, cùng với việc thông qua Luật số 12/2017/QH14 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13), Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Nghị quyết số 41/2017/QH14 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 (sau đây gọi là Nghị quyết số 41/2017/QH14), Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp có trách nhiệm rà soát các đối tượng người bị kết án thuộc diện đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 và cập nhật thông tin vào lý lịch tư pháp của người đó; cấp Phiếu lý lịch tư pháp ghi “không có án tích” cho họ khi có yêu cầu.


Việc rà soát các đối tượng người bị kết án thuộc diện đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 và cập nhật thông tin vào lý lịch tư pháp của người bị kết án được thực hiện như sau:

1. Đối tượng rà soát đương nhiên được xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14

Theo quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14, người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại và thuộc một trong các trường sau sẽ đương nhiên được xóa án tích:

- Người bị kết án do thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm.

- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị kết án do phạm tội không thuộc các tội quy định tại khoản 2 Điều 12 và khoản 3 Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Người bị kết án do thực hiện hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa.

- Người được áp dụng quy định có lợi của Bộ luật Hình sự năm 2015 theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 để xét xử nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 không quy định là tội phạm nữa.

So với Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội, Nghị quyết số 41/2017/QH14 bổ sung hai đối tượng thuộc diện đương nhiên được xóa án tích sau:

Một là, người bị kết án do thực hiện hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành là tội phạm nữa.

Hai là, các trường hợp đã áp dụng quy định có lợi của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 không quy định là tội phạm nữa.

Bên cạnh đó, đối với đối tượng từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội, mặc dù Nghị quyết số 41/2017/QH giữ nguyên đối tượng như Nghị quyết số 109/QH13/2015, nhưng do chính sách hình sự đối với đối tượng này có thay đổi, nên cơ sở để xác định đối tượng này cũng có những thay đổi nhất định.

Theo kế hoạch triển khai thi hành Bộ luật Hình sự của Chính phủ thì các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân có trách nhiệm rà soát các đối tượng người bị kết án thuộc diện được miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 mà cơ quan, đơn vị mình đang quản lý và làm thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền miễn chấp hành hình phạt cho họ, đồng thời, gửi danh sách các đối tượng được đề nghị miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia để cập nhật thông tin xóa án tích đương nhiên vào lý lịch tư pháp của người bị kết án đó. Cũng theo kế hoạch triển khai thi hành Bộ luật Hình sự của Chính phủ, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, các Sở Tư pháp có trách nhiệm rà soát các đối tượng người bị kết án thuộc diện đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14, cập nhật thông tin vào lý lịch tư pháp của người đó và cấp Phiếu lý lịch tư pháp ghi “không có án tích” cho họ khi có yêu cầu.

Như vậy, theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 và kế hoạch triển khai thi hành Bộ luật Hình sự thì Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp có trách nhiệm rà soát đối tượng người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt và thuộc bốn trường hợp đã nêu trên. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại việc xác định hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do Bộ luật Hình sự năm 2015 có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa để làm cơ sở cho việc rà soát đối với đối tượng chưa rõ, vì vậy đối với đối tượng này khi cá nhân có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp sẽ phối hợp với Tòa án có thẩm quyền để xác minh, đánh giá hồ sơ và thống nhất cách thức xử lý. Trường hợp người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích thì cấp Phiếu lý lịch tư pháp xác nhận “không có án tích” và cập nhật thông tin này vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

2. Kết quả thực hiện rà soát đối tượng đương nhiên được xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp

Thực hiện nhiệm vụ rà soát các đối tượng thuộc diện đương nhiên được xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã tiến hành triển khai thực hiện rà soát, đồng thời phối hợp với Cục Công nghệ thông tin bổ sung tính năng cảnh báo đương nhiên xóa án tích trên phần mềm quản lý lý lịch tư pháp dùng chung (tính năng này được xây dựng trên cơ sở kế thừa tính năng cảnh báo đương nhiên xóa án tích theo Nghị quyết số 109/2015/QH13), cụ thể:

2.1. Đối với đối tượng bị kết án bởi các tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm

Các đối tượng này được xác lập trên cơ sở xác định những trường hợp bị kết án bởi 05 tội danh Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định là tội phạm, bao gồm:

- Tảo hôn (điểm b Điều 148 Bộ luật Hình sự năm 1999);

- Báo cáo sai trong quản lý kinh tế (Điều 167 Bộ luật Hình sự năm 1999);

- Vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 1999);

- Sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng (Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 1999);

- Không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính (Điều 269 Bộ luật Hình sự năm 1999).

2.2. Đối với đối tượng từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội thuộc đối tượng đương nhiên được xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14

Đối tượng này được xác lập trên cơ sở xác định những người 20 tuổi trở xuống (trường hợp chỉ có năm sinh thì tính ngày, tháng sinh là ngày 01 tháng 01) và những người không xác định được tuổi tính đến ngày tuyên án, đã bị kết án bởi những tội không quy định tại khoản 2 Điều 12 và khoản 3 Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015.

2.3. Đối với đối tượng bị kết án do thực hiện hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa

Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã tổ chức rà soát, đối chiếu tổng số 303/303 điều thuộc Phần thứ hai - Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 2015 với quy định tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1999 nhằm xác định hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành là tội phạm nữa.

Kết quả bước đầu cho thấy có 64 điều của Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) được Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung yếu tố cấu thành tội phạm nên có hành vi hoặc có khả năng có hành vi cấu thành tội phạm nữa, bao gồm:

- 11 điều có đủ cơ sở để xác định hành vi không cấu thành tội phạm;

- 53 điều có khả năng có hành vi không cấu thành tội.

3. Một số khó khăn, vướng mắc khi thực hiện nhiệm vụ rà soát các đối tượng người bị kết án thuộc diện đương nhiên xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14

Đối với đối tượng đương nhiên được xóa án tích do thực hiện hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa, việc rà soát gặp khó khăn, vướng mắc, cụ thể:

Thứ nhất, cơ sở để xác định hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó có thể không cấu thành là tội phạm nữa.

Để xác định được hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã tiến hành rà soát 303 điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 có sửa đổi, bổ sung so với Bộ luật Hình sự năm 1999 và đã xác định được có 64 điều của Bộ luật Hình sự năm 1999 có hành vi hoặc có khả năng có hành vi không cấu thành tội phạm nữa.

Qua rà soát, đối chiếu cho thấy, hầu hết các điều luật này đều quy định tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”, “số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”, “giá trị lớn”, “giá trị rất lớn”, “giá trị đặc biệt lớn”… là một trong những yếu tố cấu thành tội phạm. Có những điều các tình tiết này được hướng dẫn tại các văn bản quy phạm pháp luật, nhưng cũng có những điều chưa được hướng dẫn. Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 64 điều này theo hướng cụ thể hóa các tình tiết nêu trên. Tuy nhiên, khi đối chiếu thì hoặc quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 không tương ứng với quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (chỉ quy định một hoặc một vài hành vi trước đây được xác định là thuộc trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”...) hoặc không có cơ sở để xác định vì quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 chưa có văn bản hướng dẫn.

Thứ hai, khó khăn trong việc xác định chính xác đối tượng người bị kết án thuộc diện đương nhiên được xóa án tích do thực hiện hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa.

Để xác định được chính xác đối tượng đương nhiên được xóa án tích đòi hỏi sau khi xác định được hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp phải tiến hành rà soát thông tin có trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và phải xem xét nội dung của từng bản án để xem xét từng hành vi cấu thành tội phạm và xác định người bị kết án “có tội” hay “không có tội” theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, trong khi đó, thông tin tại cơ sở dữ liệu của các Sở Tư pháp còn thiếu, chưa đầy đủ. Bên cạnh đó, hầu hết cán bộ thực hiện nhiệm vụ rà soát không có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực hình sự nên khả năng đánh giá, nhận định, phân tích hành vi vi phạm của người bị kết án để làm căn cứ xác định đối tượng đương nhiên được xóa án tích còn rất hạn chế.

Thứ ba, hiện nay, đối với đối tượng thực hiện hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa nhưng nếu đang chấp hành hình phạt hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, thì các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự có trách nhiệm tiến hành rà soát và làm thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền miễn chấp hành hình phạt cho họ. Trong khi đó, cũng đối tượng này nhưng nếu đã chấp hành xong hình phạt thì Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp có trách nhiệm rà soát và cập nhật thông tin về việc đương nhiên xóa án tích vào lý lịch tư pháp của người bị kết án.

4. Để khắc phục những khó khăn nêu trên, trước mắt, Sở Tư pháp cần tiếp tục tiến hành rà soát các trường hợp người bị kết án thuộc diện đương nhiên được xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp đối với 03 đối tượng:

(i) Người đã phạm các tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm, bao gồm: Tảo hôn, báo cáo sai trong quản lý kinh kế; vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính;

(ii) Các trường hợp đã áp dụng quy định có lợi của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 không quy định của tội phạm nữa;

(iii) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi.

Ngoài ra, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia sẽ phối hợp với các đơn vị có liên quan của Tòa án nhân dân tối cao để trao đổi, bàn giải pháp tháo gỡ trong việc rà soát các trường hợp người bị kết án phạm các tội có các hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa.

Hà Hằng

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: