Thứ ba 10/02/2026 19:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Rà soát, cập nhật thông tin đương nhiên được xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14

Ngày 20/6/2017, cùng với việc thông qua Luật số 12/2017/QH14 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13), Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Nghị quyết số 41/2017/QH14 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 (sau đây gọi là Nghị quyết số 41/2017/QH14), Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp có trách nhiệm rà soát các đối tượng người bị kết án thuộc diện đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 và cập nhật thông tin vào lý lịch tư pháp của người đó; cấp Phiếu lý lịch tư pháp ghi “không có án tích” cho họ khi có yêu cầu.


Việc rà soát các đối tượng người bị kết án thuộc diện đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 và cập nhật thông tin vào lý lịch tư pháp của người bị kết án được thực hiện như sau:

1. Đối tượng rà soát đương nhiên được xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14

Theo quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14, người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại và thuộc một trong các trường sau sẽ đương nhiên được xóa án tích:

- Người bị kết án do thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm.

- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị kết án do phạm tội không thuộc các tội quy định tại khoản 2 Điều 12 và khoản 3 Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Người bị kết án do thực hiện hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa.

- Người được áp dụng quy định có lợi của Bộ luật Hình sự năm 2015 theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 để xét xử nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 không quy định là tội phạm nữa.

So với Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội, Nghị quyết số 41/2017/QH14 bổ sung hai đối tượng thuộc diện đương nhiên được xóa án tích sau:

Một là, người bị kết án do thực hiện hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành là tội phạm nữa.

Hai là, các trường hợp đã áp dụng quy định có lợi của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 không quy định là tội phạm nữa.

Bên cạnh đó, đối với đối tượng từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội, mặc dù Nghị quyết số 41/2017/QH giữ nguyên đối tượng như Nghị quyết số 109/QH13/2015, nhưng do chính sách hình sự đối với đối tượng này có thay đổi, nên cơ sở để xác định đối tượng này cũng có những thay đổi nhất định.

Theo kế hoạch triển khai thi hành Bộ luật Hình sự của Chính phủ thì các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân có trách nhiệm rà soát các đối tượng người bị kết án thuộc diện được miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 mà cơ quan, đơn vị mình đang quản lý và làm thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền miễn chấp hành hình phạt cho họ, đồng thời, gửi danh sách các đối tượng được đề nghị miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia để cập nhật thông tin xóa án tích đương nhiên vào lý lịch tư pháp của người bị kết án đó. Cũng theo kế hoạch triển khai thi hành Bộ luật Hình sự của Chính phủ, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, các Sở Tư pháp có trách nhiệm rà soát các đối tượng người bị kết án thuộc diện đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14, cập nhật thông tin vào lý lịch tư pháp của người đó và cấp Phiếu lý lịch tư pháp ghi “không có án tích” cho họ khi có yêu cầu.

Như vậy, theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 và kế hoạch triển khai thi hành Bộ luật Hình sự thì Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp có trách nhiệm rà soát đối tượng người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt và thuộc bốn trường hợp đã nêu trên. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại việc xác định hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do Bộ luật Hình sự năm 2015 có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa để làm cơ sở cho việc rà soát đối với đối tượng chưa rõ, vì vậy đối với đối tượng này khi cá nhân có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp sẽ phối hợp với Tòa án có thẩm quyền để xác minh, đánh giá hồ sơ và thống nhất cách thức xử lý. Trường hợp người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích thì cấp Phiếu lý lịch tư pháp xác nhận “không có án tích” và cập nhật thông tin này vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

2. Kết quả thực hiện rà soát đối tượng đương nhiên được xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp

Thực hiện nhiệm vụ rà soát các đối tượng thuộc diện đương nhiên được xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã tiến hành triển khai thực hiện rà soát, đồng thời phối hợp với Cục Công nghệ thông tin bổ sung tính năng cảnh báo đương nhiên xóa án tích trên phần mềm quản lý lý lịch tư pháp dùng chung (tính năng này được xây dựng trên cơ sở kế thừa tính năng cảnh báo đương nhiên xóa án tích theo Nghị quyết số 109/2015/QH13), cụ thể:

2.1. Đối với đối tượng bị kết án bởi các tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm

Các đối tượng này được xác lập trên cơ sở xác định những trường hợp bị kết án bởi 05 tội danh Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định là tội phạm, bao gồm:

- Tảo hôn (điểm b Điều 148 Bộ luật Hình sự năm 1999);

- Báo cáo sai trong quản lý kinh tế (Điều 167 Bộ luật Hình sự năm 1999);

- Vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 1999);

- Sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng (Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 1999);

- Không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính (Điều 269 Bộ luật Hình sự năm 1999).

2.2. Đối với đối tượng từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội thuộc đối tượng đương nhiên được xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14

Đối tượng này được xác lập trên cơ sở xác định những người 20 tuổi trở xuống (trường hợp chỉ có năm sinh thì tính ngày, tháng sinh là ngày 01 tháng 01) và những người không xác định được tuổi tính đến ngày tuyên án, đã bị kết án bởi những tội không quy định tại khoản 2 Điều 12 và khoản 3 Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015.

2.3. Đối với đối tượng bị kết án do thực hiện hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa

Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã tổ chức rà soát, đối chiếu tổng số 303/303 điều thuộc Phần thứ hai - Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 2015 với quy định tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1999 nhằm xác định hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành là tội phạm nữa.

Kết quả bước đầu cho thấy có 64 điều của Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) được Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung yếu tố cấu thành tội phạm nên có hành vi hoặc có khả năng có hành vi cấu thành tội phạm nữa, bao gồm:

- 11 điều có đủ cơ sở để xác định hành vi không cấu thành tội phạm;

- 53 điều có khả năng có hành vi không cấu thành tội.

3. Một số khó khăn, vướng mắc khi thực hiện nhiệm vụ rà soát các đối tượng người bị kết án thuộc diện đương nhiên xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14

Đối với đối tượng đương nhiên được xóa án tích do thực hiện hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa, việc rà soát gặp khó khăn, vướng mắc, cụ thể:

Thứ nhất, cơ sở để xác định hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó có thể không cấu thành là tội phạm nữa.

Để xác định được hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã tiến hành rà soát 303 điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 có sửa đổi, bổ sung so với Bộ luật Hình sự năm 1999 và đã xác định được có 64 điều của Bộ luật Hình sự năm 1999 có hành vi hoặc có khả năng có hành vi không cấu thành tội phạm nữa.

Qua rà soát, đối chiếu cho thấy, hầu hết các điều luật này đều quy định tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”, “số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”, “giá trị lớn”, “giá trị rất lớn”, “giá trị đặc biệt lớn”… là một trong những yếu tố cấu thành tội phạm. Có những điều các tình tiết này được hướng dẫn tại các văn bản quy phạm pháp luật, nhưng cũng có những điều chưa được hướng dẫn. Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 64 điều này theo hướng cụ thể hóa các tình tiết nêu trên. Tuy nhiên, khi đối chiếu thì hoặc quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 không tương ứng với quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (chỉ quy định một hoặc một vài hành vi trước đây được xác định là thuộc trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”...) hoặc không có cơ sở để xác định vì quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 chưa có văn bản hướng dẫn.

Thứ hai, khó khăn trong việc xác định chính xác đối tượng người bị kết án thuộc diện đương nhiên được xóa án tích do thực hiện hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa.

Để xác định được chính xác đối tượng đương nhiên được xóa án tích đòi hỏi sau khi xác định được hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp phải tiến hành rà soát thông tin có trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và phải xem xét nội dung của từng bản án để xem xét từng hành vi cấu thành tội phạm và xác định người bị kết án “có tội” hay “không có tội” theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, trong khi đó, thông tin tại cơ sở dữ liệu của các Sở Tư pháp còn thiếu, chưa đầy đủ. Bên cạnh đó, hầu hết cán bộ thực hiện nhiệm vụ rà soát không có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực hình sự nên khả năng đánh giá, nhận định, phân tích hành vi vi phạm của người bị kết án để làm căn cứ xác định đối tượng đương nhiên được xóa án tích còn rất hạn chế.

Thứ ba, hiện nay, đối với đối tượng thực hiện hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa nhưng nếu đang chấp hành hình phạt hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, thì các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự có trách nhiệm tiến hành rà soát và làm thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền miễn chấp hành hình phạt cho họ. Trong khi đó, cũng đối tượng này nhưng nếu đã chấp hành xong hình phạt thì Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp có trách nhiệm rà soát và cập nhật thông tin về việc đương nhiên xóa án tích vào lý lịch tư pháp của người bị kết án.

4. Để khắc phục những khó khăn nêu trên, trước mắt, Sở Tư pháp cần tiếp tục tiến hành rà soát các trường hợp người bị kết án thuộc diện đương nhiên được xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp đối với 03 đối tượng:

(i) Người đã phạm các tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm, bao gồm: Tảo hôn, báo cáo sai trong quản lý kinh kế; vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính;

(ii) Các trường hợp đã áp dụng quy định có lợi của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 không quy định của tội phạm nữa;

(iii) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi.

Ngoài ra, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia sẽ phối hợp với các đơn vị có liên quan của Tòa án nhân dân tối cao để trao đổi, bàn giải pháp tháo gỡ trong việc rà soát các trường hợp người bị kết án phạm các tội có các hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa.

Hà Hằng

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: