Chủ nhật 26/07/2026 13:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Rà soát, cập nhật thông tin đương nhiên được xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14

Ngày 20/6/2017, cùng với việc thông qua Luật số 12/2017/QH14 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13), Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Nghị quyết số 41/2017/QH14 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 (sau đây gọi là Nghị quyết số 41/2017/QH14), Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp có trách nhiệm rà soát các đối tượng người bị kết án thuộc diện đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 và cập nhật thông tin vào lý lịch tư pháp của người đó; cấp Phiếu lý lịch tư pháp ghi “không có án tích” cho họ khi có yêu cầu.


Việc rà soát các đối tượng người bị kết án thuộc diện đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 và cập nhật thông tin vào lý lịch tư pháp của người bị kết án được thực hiện như sau:

1. Đối tượng rà soát đương nhiên được xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14

Theo quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14, người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại và thuộc một trong các trường sau sẽ đương nhiên được xóa án tích:

- Người bị kết án do thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm.

- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị kết án do phạm tội không thuộc các tội quy định tại khoản 2 Điều 12 và khoản 3 Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Người bị kết án do thực hiện hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa.

- Người được áp dụng quy định có lợi của Bộ luật Hình sự năm 2015 theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 để xét xử nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 không quy định là tội phạm nữa.

So với Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội, Nghị quyết số 41/2017/QH14 bổ sung hai đối tượng thuộc diện đương nhiên được xóa án tích sau:

Một là, người bị kết án do thực hiện hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành là tội phạm nữa.

Hai là, các trường hợp đã áp dụng quy định có lợi của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 không quy định là tội phạm nữa.

Bên cạnh đó, đối với đối tượng từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội, mặc dù Nghị quyết số 41/2017/QH giữ nguyên đối tượng như Nghị quyết số 109/QH13/2015, nhưng do chính sách hình sự đối với đối tượng này có thay đổi, nên cơ sở để xác định đối tượng này cũng có những thay đổi nhất định.

Theo kế hoạch triển khai thi hành Bộ luật Hình sự của Chính phủ thì các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân có trách nhiệm rà soát các đối tượng người bị kết án thuộc diện được miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 mà cơ quan, đơn vị mình đang quản lý và làm thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền miễn chấp hành hình phạt cho họ, đồng thời, gửi danh sách các đối tượng được đề nghị miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia để cập nhật thông tin xóa án tích đương nhiên vào lý lịch tư pháp của người bị kết án đó. Cũng theo kế hoạch triển khai thi hành Bộ luật Hình sự của Chính phủ, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, các Sở Tư pháp có trách nhiệm rà soát các đối tượng người bị kết án thuộc diện đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14, cập nhật thông tin vào lý lịch tư pháp của người đó và cấp Phiếu lý lịch tư pháp ghi “không có án tích” cho họ khi có yêu cầu.

Như vậy, theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 và kế hoạch triển khai thi hành Bộ luật Hình sự thì Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp có trách nhiệm rà soát đối tượng người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt và thuộc bốn trường hợp đã nêu trên. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại việc xác định hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do Bộ luật Hình sự năm 2015 có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa để làm cơ sở cho việc rà soát đối với đối tượng chưa rõ, vì vậy đối với đối tượng này khi cá nhân có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp sẽ phối hợp với Tòa án có thẩm quyền để xác minh, đánh giá hồ sơ và thống nhất cách thức xử lý. Trường hợp người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích thì cấp Phiếu lý lịch tư pháp xác nhận “không có án tích” và cập nhật thông tin này vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

2. Kết quả thực hiện rà soát đối tượng đương nhiên được xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp

Thực hiện nhiệm vụ rà soát các đối tượng thuộc diện đương nhiên được xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã tiến hành triển khai thực hiện rà soát, đồng thời phối hợp với Cục Công nghệ thông tin bổ sung tính năng cảnh báo đương nhiên xóa án tích trên phần mềm quản lý lý lịch tư pháp dùng chung (tính năng này được xây dựng trên cơ sở kế thừa tính năng cảnh báo đương nhiên xóa án tích theo Nghị quyết số 109/2015/QH13), cụ thể:

2.1. Đối với đối tượng bị kết án bởi các tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm

Các đối tượng này được xác lập trên cơ sở xác định những trường hợp bị kết án bởi 05 tội danh Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định là tội phạm, bao gồm:

- Tảo hôn (điểm b Điều 148 Bộ luật Hình sự năm 1999);

- Báo cáo sai trong quản lý kinh tế (Điều 167 Bộ luật Hình sự năm 1999);

- Vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 1999);

- Sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng (Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 1999);

- Không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính (Điều 269 Bộ luật Hình sự năm 1999).

2.2. Đối với đối tượng từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội thuộc đối tượng đương nhiên được xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14

Đối tượng này được xác lập trên cơ sở xác định những người 20 tuổi trở xuống (trường hợp chỉ có năm sinh thì tính ngày, tháng sinh là ngày 01 tháng 01) và những người không xác định được tuổi tính đến ngày tuyên án, đã bị kết án bởi những tội không quy định tại khoản 2 Điều 12 và khoản 3 Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015.

2.3. Đối với đối tượng bị kết án do thực hiện hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa

Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã tổ chức rà soát, đối chiếu tổng số 303/303 điều thuộc Phần thứ hai - Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 2015 với quy định tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1999 nhằm xác định hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành là tội phạm nữa.

Kết quả bước đầu cho thấy có 64 điều của Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) được Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung yếu tố cấu thành tội phạm nên có hành vi hoặc có khả năng có hành vi cấu thành tội phạm nữa, bao gồm:

- 11 điều có đủ cơ sở để xác định hành vi không cấu thành tội phạm;

- 53 điều có khả năng có hành vi không cấu thành tội.

3. Một số khó khăn, vướng mắc khi thực hiện nhiệm vụ rà soát các đối tượng người bị kết án thuộc diện đương nhiên xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14

Đối với đối tượng đương nhiên được xóa án tích do thực hiện hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa, việc rà soát gặp khó khăn, vướng mắc, cụ thể:

Thứ nhất, cơ sở để xác định hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó có thể không cấu thành là tội phạm nữa.

Để xác định được hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã tiến hành rà soát 303 điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 có sửa đổi, bổ sung so với Bộ luật Hình sự năm 1999 và đã xác định được có 64 điều của Bộ luật Hình sự năm 1999 có hành vi hoặc có khả năng có hành vi không cấu thành tội phạm nữa.

Qua rà soát, đối chiếu cho thấy, hầu hết các điều luật này đều quy định tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”, “số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”, “giá trị lớn”, “giá trị rất lớn”, “giá trị đặc biệt lớn”… là một trong những yếu tố cấu thành tội phạm. Có những điều các tình tiết này được hướng dẫn tại các văn bản quy phạm pháp luật, nhưng cũng có những điều chưa được hướng dẫn. Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 64 điều này theo hướng cụ thể hóa các tình tiết nêu trên. Tuy nhiên, khi đối chiếu thì hoặc quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 không tương ứng với quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (chỉ quy định một hoặc một vài hành vi trước đây được xác định là thuộc trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”...) hoặc không có cơ sở để xác định vì quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 chưa có văn bản hướng dẫn.

Thứ hai, khó khăn trong việc xác định chính xác đối tượng người bị kết án thuộc diện đương nhiên được xóa án tích do thực hiện hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa.

Để xác định được chính xác đối tượng đương nhiên được xóa án tích đòi hỏi sau khi xác định được hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp phải tiến hành rà soát thông tin có trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và phải xem xét nội dung của từng bản án để xem xét từng hành vi cấu thành tội phạm và xác định người bị kết án “có tội” hay “không có tội” theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, trong khi đó, thông tin tại cơ sở dữ liệu của các Sở Tư pháp còn thiếu, chưa đầy đủ. Bên cạnh đó, hầu hết cán bộ thực hiện nhiệm vụ rà soát không có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực hình sự nên khả năng đánh giá, nhận định, phân tích hành vi vi phạm của người bị kết án để làm căn cứ xác định đối tượng đương nhiên được xóa án tích còn rất hạn chế.

Thứ ba, hiện nay, đối với đối tượng thực hiện hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa nhưng nếu đang chấp hành hình phạt hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, thì các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự có trách nhiệm tiến hành rà soát và làm thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền miễn chấp hành hình phạt cho họ. Trong khi đó, cũng đối tượng này nhưng nếu đã chấp hành xong hình phạt thì Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp có trách nhiệm rà soát và cập nhật thông tin về việc đương nhiên xóa án tích vào lý lịch tư pháp của người bị kết án.

4. Để khắc phục những khó khăn nêu trên, trước mắt, Sở Tư pháp cần tiếp tục tiến hành rà soát các trường hợp người bị kết án thuộc diện đương nhiên được xóa án tích theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp đối với 03 đối tượng:

(i) Người đã phạm các tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm, bao gồm: Tảo hôn, báo cáo sai trong quản lý kinh kế; vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính;

(ii) Các trường hợp đã áp dụng quy định có lợi của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 không quy định của tội phạm nữa;

(iii) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi.

Ngoài ra, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia sẽ phối hợp với các đơn vị có liên quan của Tòa án nhân dân tối cao để trao đổi, bàn giải pháp tháo gỡ trong việc rà soát các trường hợp người bị kết án phạm các tội có các hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa.

Hà Hằng

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.

Theo dõi chúng tôi trên: