Chủ nhật 25/10/2026 16:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự cần thiết hoàn thiện các quy định pháp lý về quyền tác giả đối với chương trình máy tính ở Việt Nam

Bài viết giới thiệu các bước lập trình chương trình máy tính, nguyên tắc phân chia ý tưởng/biểu hiện và thuyết hợp nhất, nghiên cứu pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài, từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.


1. Ý tưởng và biểu hiện tồn tại trong chương trình máy tính trong kỹ thuật lập trình

Thách thức của việc tạo ra một sản phẩm công nghệ thông tin hữu ích và có chỗ đứng trên thị trường là phải đáp ứng nhu cầu của người dùng, thời gian phát triển và vá lỗi nhanh, độ tin cậy, bảo mật cao. Với các đặc thù như trên, các hãng chương trình máy tính và các cá nhân sản xuất chương trình máy tính trong những năm gần đây đã áp dụng một quy trình linh hoạt hơn trong việc sản xuất các chương trình máy tính. Mục đích chính của cách làm này là đem các sản phẩm công nghệ thông tin đến gần hơn với thị trường, đáp ứng tốt hơn nhu cầu hay thay đổi của người dùng.

Bước thứ nhất: Phát triển các ý tưởng để giải quyết nhu cầu của người dùng. Các nhu cầu này có thể rất đa dạng như nhu cầu chia sẻ thông tin, kết nối (facebook, zalo, viber) hay các nhu cầu hẹp hơn như là nhận diện biển số xe ra vào chung cư hoặc là đọc dữ liệu từ các hóa đơn dưới dạng hình ảnh và tự động đưa ra các bút toán. Ở bước này, các ý tưởng để giải quyết vấn đề thường chỉ ở dạng tổng quan. Đối với các công ty lớn, thường sẽ có một đội ngũ điều tra thị trường để có thể xác định rõ hơn bài toán: Ai là đối tượng mục tiêu? (ví dụ: Người trẻ có nhu cầu kết nối nhiều hơn, các chủ doanh nghiệp nhỏ với nguồn lực hạn chế sẽ có nhu cầu sử dụng chương trình máy tính để tự động hóa các bút toán của công ty), dung lượng thị trường. Bước này rất quan trọng, nó sẽ quyết định doanh nghiệp có nên đầu tư phát triển sản phẩm hay không.

Bước thứ hai: Phát triển sản phẩm. Để đạt được mục đích đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng nhanh chóng, các hãng phần mềm thường tập trung vào các chức năng chính của chương trình máy tính, đó là khả năng chia sẻ thông tin, chức năng nhận diện biển số, chức năng chuyển hình ảnh hóa đơn thành chữ và số để đưa vào bút toán. Ở bước này mục tiêu của các hãng phần mềm sẽ là phát triển một sản phẩm khả dụng sao cho tốn ít công sức nhất và nhanh, để có thể đưa sản phẩm ra thị trường một cách nhanh nhất. Các yếu tố như thiết kế hệ thống, tạo lược đồ, phát triển thuật toán, phát triển mã nguồn (tạo các câu lệnh) đều được tiến hành ở bước này.

Sau khi tạo ra mã nguồn, chương trình được dịch sang một chương trình khác vào mã máy, tín hiệu nhị phân (cao và thấp) mà máy tính thực sự hoạt động gọi là mã máy hay mã đối tượng - là phần mà máy sẽ phải thực thi.

Bước thứ ba: Đưa sản phẩm ra thị trường, lấy ý kiến người sử dụng và điều chỉnh lại bước thứ hai. Sản phẩm sau khi đưa ra thị trường sẽ được điều chỉnh, phát triển thêm các tính năng mới, chỉnh sửa các tính năng cũng như lỗi kỹ thuật, cập nhật các phiên bản cho phù hợp. Ví dụ như trong trường hợp của Grab, lúc mới đưa ra thị trường tại Malaysia, Grab chỉ có chức năng chính là đặt xe, sau một thời gian, Grab thêm vào các tính năng như là giao hàng hoặc cho phép nhiều khách hàng cùng chia sẻ, đi chung một xe. Trong trường hợp của Foody Việt Nam, ban đầu là một trang website đánh giá món ăn, đến nay, người dùng có thể đặt món ăn trên Foody.

Bước thứ ba là bước quan trọng để hoàn thiện bước hai và cung cấp thêm thông tin thị trường để việc phát triển sản phẩm tại bước hai có thể đi đúng hướng hơn. Sau khi tiếp nhận các thông tin thị trường tại bước ba, các công ty phần mềm có thể phải thay đổi và bỏ đi toàn bộ các sản phẩm đã làm tại bước hai để phát triển các giải pháp khác (bao gồm mã nguồn chương trình, thuật toán, giao diện, thiết kế hệ thống...) để phù hợp hơn.

Như vậy, trong chương trình máy tính bao gồm những yếu tố thuộc ý tưởng: Chức năng (tính năng), cấu trúc hệ thống (quy trình, phương pháp). Các yếu tố thuộc về biểu hiện: Thuật toán, ngôn ngữ lập trình, mã nguồn, mã máy, giao diện người dùng (bao gồm bố trí thao tác trên màn hình và các thiết kế mỹ thuật). Nhưng trên thực tế nhà phát triển chương trình máy tính sẽ phải chú trọng đến các yếu tố: Tính năng, mã nguồn, thuật toán. Còn yếu tố giao diện người dùng, ngôn ngữ lập trình và thiết kế hệ thống thường mang tính phổ thông và theo các chuẩn nhất định nên khó xác định, thường sẽ có sự tương tự nhau hoặc sử dụng lẫn nhau trong lập trình. Tuy nhiên, về khía cạnh pháp lý, trong các yếu tố cấu thành chương trình máy tính đó, có những yếu tố được bảo hộ quyền tác giả và có những yếu tố không được bảo hộ quyền tác giả.

2. Nguyên tắc phân chia ý tưởng/biểu hiện và thuyết hợp nhất

Nguyên tắc phân chia ý tưởng/biểu hiện có nội dung là bản quyền chỉ bảo hộ hình thức hiểu hiện của ý tưởng, không bảo hộ ý tưởng của biểu hiện. Về cơ bản, một tác phẩm viết có thể được phân biệt thành ý tưởng và biểu hiện. Một ý tưởng có thể được hình thành ở một trạng thái trừu tượng hoặc nó có thể được hình thành ở mức độ cụ thể. Sự phân chia giữa ý tưởng và biểu hiện phụ thuộc vào mức độ các điểm tương đồng chung giữa ý tưởng và biểu hiện.

Nguyên tắc phân chia tưởng/biểu hiện có nghĩa là vi phạm quyền tác giả sẽ không xảy ra đối với các tác phẩm có cùng một ý tưởng nhưng lại không có sự sao chép về mặt diễn đạt, biểu hiện. Bảo vệ ý tưởng chỉ có thể được thể hiện theo một cơ chế khác gọi là sáng chế[1]. Tuy nhiên, ở Việt Nam chương trình máy tính đã bị loại trừ khỏi bảo hộ bằng sáng chế tại khoản 2 Điều 59 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (văn bản hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 của Văn phòng Quốc hội năm 2013).

Việc phân chia ý tưởng và biểu hiện bắt nguồn từ vụ kiện giữa Baker và Selden năm 1979 tại Mỹ[2], nó liên quan đến bản quyền trong một cuốn sách do Charles Selden viết, có tên là “Book-Keeping Simplified”, để mô tả một hệ thống kế toán mới gồm 20 trang chủ yếu là các mẫu sổ kế toán, các mẫu sổ cái, hệ thống quản lý và phân tích số liệu kế toán. Baker sau đó đã sản xuất một cuốn sách sử dụng một hệ thống tương tự và bán ra thị trường. Baker cho rằng sách của Selden không được bảo hộ quyền tác giả và Selden đã khởi kiện lên Tòa án. Tòa án cho rằng một cuốn sách không cho phép tác giả có quyền loại trừ những người khác thực hành những gì đã được mô tả trong cuốn sách, chỉ có quyền loại trừ việc sao chép những biểu hiện, diễn đạt trong cuốn sách[3].

Qua vụ án này chúng tay thấy các yếu tố như quy trình, phương pháp, cấu trúc, hệ thống được coi như là ý tưởng của một tác phẩm và không được bảo hộ quyền tác giả. Nên việc sao chép lại các yếu tố này không bị xem là vi phạm quyền tác giả. Bản án giữa Baker và Selden của Mỹ là trường hợp đầu tiên của bản quyền về sự phân tách ý tưởng/biểu hiện. Sau đó những quy tắc rút ra từ vụ Baker và Selden được ghi nhận trong điểm b Điều 102 của Đạo luật Bản quyền năm 1976 của Mỹ.

Tuy nhiên, không phải trường hợp nào việc phân biệt ý tưởng/biểu hiện cũng rõ ràng. Đối với những tác phẩm mà ý tưởng và biểu hiện gắn liền với nhau, và biểu hiện đó không thể phân biệt được với ý tưởng thì không bảo hộ quyền tác giả đối với biểu hiện đó. Vì nếu ý tưởng và biểu hiện (cách diễn đạt của tác phẩm) hợp nhất mà có bảo hộ quyền tác giả thì sẽ cản trở sự phát triển, sáng tạo các tác phẩm trái với mục đích của luật bản quyền.

Ví dụ, trong vụ kiện tranh chấp giữa công ty nữ trang Herbert Rosenthal và Kalpakian, Herbert Rosenthal đã kiện Kalpakian yêu cầu Kalpakian không được sản xuất những viên kim cương hình nón. Tòa án đã cho rằng chiếc kim cương này có ý tưởng rằng bất cứ ai cũng được tự do sao chép biểu hiện của nó vì hình dạng biểu hiện của nó chỉ có thể được thực hiện theo một vài cách. Do đó, Tòa án đã áp dụng thuyết hợp nhất, không bảo hộ quyền tác giả cho hình dạng nón của viên kim cương.

Khi ý tưởng và biểu hiện rất khó tách rời, chúng được cho là hợp nhất[4]. Thuyết hợp nhất về quyền tác giả nêu rằng nếu một ý tưởng và sự biểu hiện của ý tưởng gắn kết với nhau rằng ý tưởng và biểu hiện của nó là một, tức là chỉ có một cách hay là có một cách hạn chế các cách thể hiện và thể hiện ý tưởng trong một công việc - thì biểu hiện của ý tưởng đó có thể không được bảo hộ quyền tác giả[5]. Nguyên tắc phân chia ý tưởng/biểu hiện được xem như là sự khởi đầu, manh nha cho thuyết hợp nhất này và cùng tạo thành nền tảng để xác định một yếu tố được bảo hộ quyền tác giả hay không.

3. Các quy định pháp lý về nhận diện các yếu tố ý tưởng và biểu hiện của Mỹ và Liên minh châu Âu

3.1. Tại Mỹ

Điểm b Điều 102 Luật Bản quyền Mỹ quy định: Không bảo vệ bản quyền đối với tác phẩm gốc của tác giả không bao gồm bất kỳ ý tưởng, thủ tục, quy trình, hệ thống, phương thức hoạt động, khái niệm, nguyên tắc hoặc phát hiện nào, bất kể hình thức mà nó được mô tả, giải thích, minh họa, hoặc thể hiện trong công việc đó. Khoản 17 Điều 101 Luật Bản quyền Mỹ quy định: Một chương trình máy tính là một tập hợp các câu lệnh hoặc hướng dẫn được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp trong một máy tính để mang lại một kết quả nhất định. Nếu chỉ dừng lại ở các quy định này, chúng ta vẫn chưa thấy rõ yếu tố nào của chương trình máy tính sẽ được bảo hộ quyền tác giả mà chính những vụ án tạo nên án lệ mới nói rõ quan điểm của pháp luật Mỹ về bảo hộ ý tưởng và biểu hiện của chương trình máy tính rõ ràng nhất. Chúng ta nghiên cứu hai vụ kiện sau:

Vụ kiện thứ nhất giữa Computer Associates International (CA) và Altai.

CA đã tạo ra chương trình máy tính CA-Scheuduler với chức năng lập chương trình kế hoạch công việc bao gồm một thành phần được gọi là Adapter được thiết kế để dịch ngôn ngữ của chương trình sang các lệnh có thể hiểu được với hệ điều hành cụ thể đó. Bằng cách này CA-Scheuduler có thể sử dụng cùng một mã nhưng chạy trên các hệ điều hành khác nhau. Năm 1982, Altai cũng lập ra chương trình máy tính Zeke với chức năng như CA-Scheuduler viết cho hệ điều hành VSE dựa trên khoảng 30% mã nguồn Adapter tạo ra phiên dịch Oscar 3.4 cho Altai. Năm 1988, CA phát hiện ra rằng Altai đã sử dụng mã Adapter. Vì vậy, Altai viết lại những phần được sao chép của mã Oscar trước đó. Chương trình mới này được phát hành dưới dạng Oscar 3.5. Theo phán quyết của Tòa án Mỹ đã nhận thấy rằng Oscar 3.4 là vi phạm bản quyền CA-Scheuduler của CA và đã nhận bồi thường thiệt hại cho CA là 364,444 USD cùng tỷ lệ phân chia lợi nhuận. Tòa án quyết rằng Oscar 3.5 được viết lại bằng mã nguồn khác nên không cấu thành vi phạm bản quyền.

Như vậy, qua vụ kiện nổi tiếng này thấy rằng quan điểm của pháp luật Mỹ: Hai chương trình máy tính có cùng chức năng nhưng khác về đoạn mã thì không vi phạm quyền tác giả. Tức là chỉ bảo hộ các yếu tố biểu hiện của chương trình máy tính là các đoạn mã, còn các yếu tố thuộc ý tưởng đó là chức năng của chương trình máy tính thì không bảo hộ. Đây là vụ kiện mà Tòa án đã áp dụng triệt để nguyên tắc phân chia ý tưởng/biểu hiện: Quyền tác giả chỉ bảo hộ biểu hiện, không bảo hộ ý tưởng của chương trình máy tính.

Vụ kiện thứ hai giữa Lexmark và Static Control Components.

Lexmark là nhà sản xuất máy in đã bán một số hộp mực máy thấp hơn so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường, đổi lại khách hàng phải đồng ý chỉ sử dụng hộp mực một lần và trả lại Lexmark rồi mua hộp mực khác của Lexmark. Và Lexmark đã tạo ra con chip gắn với chương trình hoạt động của máy in để kiểm soát việc dùng một lần này. Đây là cách để Lexmark cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường. Vào năm 2002, Static Control Components (SCC) đã phát triển chip Smartek trên máy tính có thể hoạt động trên hộp mực của Lexmark để người dùng có thể mua mực của hãng khác đổ vào tái sử dụng mà không cần phải đến Lexmark mua hộp mực khác. Và họ cũng sao chép nguyên văn các đoạn mã của chương trình nạp mực của Lexmark. Vào ngày 30/12/2002, Lexmark đã kiện Static Control Components tại Tòa án Mỹ vi phạm luật bản quyền bằng cách sao chép chương trình máy tính nạp mực[6].

Tòa án quyết định rằng một chương trình máy tính nhúng trong hộp mực máy in của Lexmark mà các đối thủ cạnh tranh phải cài đặt để cho phép hộp mực tương hợp với máy in Lexmark không đủ điều kiện để bảo vệ bản quyền. Bởi vì ý tưởng hay chức năng của chương trình và sự thể hiện của nó đã được sáp nhập[7]. Phán quyết vi phạm bản quyền không xảy ra khi một người thứ hai phải sao chép một số khía cạnh chương trình của một công ty khác để đạt được tính tương thích.

Ngoài ra chúng ta còn có vụ kiện giữa Oracle và Google thấy rằng Tòa án đã nhận định là không bảo hộ ngôn ngữ lập trình Java và và các đoạn mã của Oracle vì lý do là chỉ có một vài cách hạn chế để diễn đạt tính năng của chương trình máy tính.

Dựa vào kết quả tranh chấp giữa công ty phần mềm Whelan Associates và Phòng Nha khoa Jaslow8; Lotus và Borland[9]... Quan điểm của Tòa án Mỹ đối với việc nhận diện ý tưởng và biểu hiện của chương trình máy tính thông qua các vụ kiện tạo thành án lệ. Qua đó thấy rằng Tòa án Mỹ đã áp dụng nguyên tắc phân chia ý tưởng/biểu hiện và thuyết hợp nhất để xác định các yếu tố nào được bảo hộ bản quyền đối với chương trình máy tính.

3.2. Liên minh châu Âu (EU)

Chỉ thị chung của Nghị viện và Hội đồng EU 2009/24/EC ngày 23/4/2009 về bảo hộ chương trình máy tính quy định rõ tại Điều 1 (2): “Ý tưởng và nguyên tắc nằm dưới bất kỳ yếu tố nào của chương trình máy tính, bao gồm cả những gì nằm dưới nền giao diện của nó, không được bảo vệ bởi bản quyền theo Chỉ thị này”[10]. Theo nguyên tắc bản quyền này, trong phạm vi logic, thuật toán và ngôn ngữ lập trình bao gồm các ý tưởng và nguyên tắc, những ý tưởng và nguyên tắc này không được bảo vệ theo Chỉ thị này. Theo luật pháp của các quốc gia thành viên và các công ước về bản quyền quốc tế, việc thể hiện những ý tưởng và nguyên tắc này sẽ được bảo vệ bởi bản quyền.

Trong tranh chấp giữa Viện SAS[11] và Công ty WPL[12]. Chương trình máy tính của SAS được viết bằng ngôn ngữ máy tính độc quyền. Khách hàng của SAS không còn lựa chọn nào khác ngoài việc cấp phép cho hệ thống SAS để chạy các chương trình ứng dụng ngôn ngữ SAS hiện có của họ. WPL đã phát triển một hệ thống chương trình máy tính cạnh tranh với SAS bằng cách học cách viết chương trình của Hệ thống SAS và bằng cách tham khảo hướng dẫn sử dụng SAS[13]. SAS đã đưa ra khiếu nại chống lại WPL, cáo buộc vi phạm bản quyền đối với cả chức năng của hệ thống và hướng dẫn sử dụng của SAS.

Tòa án tối cao của Liên minh châu Âu cho rằng các ý tưởng của chương trình máy tính bao gồm chức năng, ngôn ngữ lập trình và định dạng của các tập tin dữ liệu... là những ý tưởng tổng thể đằng sau một chương trình máy tính, chứ không phải là các hình thức biểu hiện của chương trình, do đó không được bảo vệ bởi bản quyền[14] và “để chấp nhận rằng chức năng của một chương trình máy tính có thể được bảo vệ bởi bản quyền sẽ làm cho chủ sở hữu có thể độc chiếm các ý tưởng, gây tổn hại cho tiến bộ công nghệ và phát triển công nghiệp”[15]. Do vậy Tòa án đã phán quyết WPL không vi phạm quyền tác giả của SAS.

Ngôn ngữ lập trình không bảo hộ trong bản án giữa Oracle và Google, SAS và WPL[16]... Giao diện người dùng không bảo hộ từ bản án giữa Lotus và Boland[17].

4. Thực trạng tranh chấp quyền tác giả đối với chương trình máy tính tại Việt Nam và những kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tại Việt Nam, quy định chung tại khoản 3 Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ, quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu thì không được bảo hộ quyền tác giả. Điều 22 Luật Sở hữu trí tuệ quy định chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy. Như vậy, có thể hiểu đây chính là phạm vi bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính là chỉ bảo hộ biểu hiện của chương trình máy tính là mã nguồn và mã máy.

4.1. Thực tiễn tranh chấp tại Việt Nam qua một số vụ án điển hình

Năm 2005, Công ty TNHH Tin học Định Gia (Diginet) khởi kiện Công ty TNHH P.C.I với nội dung chương trình máy tính Kế toán Lever4 của P.C.I đã sao chép chương trình máy tính Kế toán Lemon3 của Diginet[18]. Hai chương trình máy tính này đã có sự sao chép về mặt ý tưởng, chức năng vì đều phải tuân theo những chuẩn mực và nguyên tắc chung về tài chính kế toán là chuyện bình thường.

Tuy nhiên, P.C.I đã sử dụng phần lớn mã nguồn của Lemon3 cùng tài liệu hướng dẫn chương trình phần mềm này của Diginet[19]. Do vậy xác định Lever4 đã xâm phạm Lemon3.

Năm 2006, Công ty cổ phần Phần mềm Hà Nội (Hanoi Software JSC) khởi kiện Công ty cổ phần Thương Mại Số (Digital Trade) đã đưa ra thị trường chương trình máy tính I-Web có chức năng và mã nguồn y như chương trình máy tính Web++ của Hanoi Software JSC; Digital Trade đã thừa nhận sản phẩm I-Web là Web++ do chính nhân viên cũ của Hanoi Software JSC đem về sử dụng và phát triển, thừa nhận đó là hành vi sao chép mã nguồn bất hợp pháp.

Năm 2015, Công ty TNHH kỹ thuật Shunwang (Công ty Shunwang) khởi kiện Công ty Hòa Bình sử dụng không phép phần mềm GCafe được cho là sao chép toàn bộ phần mềm iCafe Mavin của Công ty Shunwang. Các file cài đặt, file hệ thống của phần mềm này đều có chữ ký điện tử của Shunwang. Vụ kiện nay vẫn chưa có kết quả từ Tòa án.

Một số vụ kiện về quyền tác giả đối với chương trình máy tính tại Việt Nam thời gian qua cho chúng ta thấy thực trạng như sau:

Thứ nhất, so với các vụ tranh chấp bản quyền chương trình máy tính trên thế giới thì hành vi xâm phạm ở Việt Nam tương đối đơn giản, chỉ sao chép một phần hoặc toàn bộ mã của chương trình máy tính.

Thứ hai, bên bị đơn thường phủ nhận hành vi vi phạm cho tới khi bên nguyên đơn đưa ra các chứng cứ chứng minh, lúc đó các bên thường đạt được thỏa thuận với nhau và dừng vụ tranh chấp lại chứ không cố để tiếp tục quá trình tố tụng như các loại hình tranh chấp tài sản hữu hình khác.

Thứ ba, trong quá trình lập trình chương trình máy tính, bản thân các bên nguyên đơn và bị đơn thường không nắm rõ được các quy định phạm vi bảo hộ quyền tác giả của mình đối với chương trình máy tính đến đâu.

4.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng rất cần thiết hoàn thiện các quy định pháp lý quyền tác giả đối với chương trình máy tính Việt Nam như sau:

Thứ nhất, cần có văn bản hướng dẫn quyền tác giả chỉ bảo hộ đối với các đoạn mã bao gồm mã nguồn, mã đối tượng (mã máy) của chương trình máy tính. Không bảo hộ cấu trúc, quy trình, ngôn ngữ lập trình, thuật toán, chức năng, giao diện của chương trình máy tính.

Thứ hai, trong trường hợp chỉ có một hoặc một số cách hạn chế viết đoạn mã để biểu hiện ý tưởng của chương trình máy tính thì không bảo hộ đoạn mã.

Việc xác định rõ phạm vi bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính thông qua nhận diện các yếu tố ý tưởng/biểu hiện sẽ giúp cho các nhà phát triển chương trình máy tính nắm được các quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình tạo chương trình máy tính kế thừa các yếu tố có sẵn từ các chương trình máy tính trước một cách hợp pháp. Ngoài ra, để giải quyết một tranh chấp về quyền tác giả đối với chương trình máy tính là không đơn giản vì liên quan đến việc lập trình - một lĩnh vực kỹ thuật chuyên ngành mà không phải thẩm phán nào cũng có thể dễ dàng tiếp cận và hiểu bản chất các chứng cứ và lập luận về mặt kỹ thuật mà Hội đồng giám định kết luận và các bên đưa ra. Do vậy, việc cụ thể hóa tại các văn bản pháp luật sẽ giúp cho việc giải quyết tranh chấp cũng dễ dàng hơn khi nhận diện các hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với chương trình máy tính.

ThS. TRƯƠNG THỊ TƯỜNG VI *

* Khoa Luật - Đại học Sài Gòn

Tài liệu tham khảo:

[1]. Kenrick & Co. Ltd v Lawrence & Co, https://en.wikipedia.org/wiki/Kenrick_v_Lawrence.

[2]. U.S. Supreme Court, Baker v. Selden, 101 U.S. 99 (1879), https://supreme.justia.com/cases/federal/us/ 101/99/case.html.

[3]. U.S. Supreme Court, Baker v. Selden, 101 U.S. 99 (1879), https://supreme.justia.com/cases/federal/us/ 101/99/case.html.

[4]. Michael Murray, Copyright, Originality, and the End of the Scenes a Faire and Merger Doctrines for Visual Works, Illinois Public Law and Legal Theory Research Papers Series, Research May 24, 2006, tr. 06-09.

[5]. Michael Murray, Copyright, Originality, and the End of the Scenes a Faire and Merger Doctrines for Visual Works, Illinois Public Law and Legal Theory Research Papers Series, Research May 24, 2006, tr 06-09.

[6]. Lee Gesmer (March 31, 2014), “Lexmark v. Static Control – 12 Years and Still Going Strong”, MassLawBlog.

[7]. Supreme Court’s Lexmark Decision Creates Uniform Federal False Advertising Standing Requirement” (PDF). Fenwick & West LLP. March 27, 2014.

[8]. https://en.wikipedia.org/wiki/Whelan_v._Jaslow.

[9]. Whong, Jason A.; Lee, Andrew T. S. (1996). “Lotus v. Borland: Defining the Limits of Software Copyright Protection”. Santa Clara High Technology Law Journal. 12 (1): 207–217.

[10]. Xem 91/250/EEC.

[11]. Viện nghiên cứu chương trình máy tính tại Mỹ sáng tạo ra hệ thống phầm mềm SAS - là chương trình máy tính dùng để phân tích hiện đại, các phân tích đa biến, trí tuệ kinh doanh, quản lý dữ liệu và phân tích tiên đoán.

[12]. World Programming Limited (WPL) là công ty tại Anh tạo ra phần mềm World Programming System.

[13]. “SAS wins $79.1 m judgement after finessing comity and collateral estoppal”. North Carolina Journal of International Law. University of North Carolina School of Law. Retrieved 2016-02-12.

[14]. Final High Court Judgement tại http://www.bailii.org/ew/cases/EWHC/Ch/2013/69.html.

[15]. Directive 2009/24/EC of the European Parliament and of the Council of 23 April 2009 on the legal protection of computer programs”. Official Journal of the European Union. Jump up^ 101 U.S. 99 (1879).

[16]. Programming language can’t be copyrighted: EU court, https://phys.org/news/2011-11-language-copyrighted-eu-court.html.

[17]. https://en.wikipedia.org/wiki/Lotus_Development_Corp._v._Borland_International,_Inc.

[18]. TP. Hồ Chí Minh: Vụ kiện tranh chấp bản quyền phần mềm đầu tiên, https://www.tienphong.vn/cong-nghe-khoa-hoc/tphcm-vu-kien-tranh-chap-ban-quyen-phan-mem-dau-tien-16084.tpo.

[19]. 10 sự kiện công ty năm 2005, https://tuoitre.vn/10-su-kien-cong-ty-nam-2005-116509.htm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.

Theo dõi chúng tôi trên: