Thứ năm 25/06/2026 04:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự cần thiết hoàn thiện các quy định pháp lý về quyền tác giả đối với chương trình máy tính ở Việt Nam

Bài viết giới thiệu các bước lập trình chương trình máy tính, nguyên tắc phân chia ý tưởng/biểu hiện và thuyết hợp nhất, nghiên cứu pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài, từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.


1. Ý tưởng và biểu hiện tồn tại trong chương trình máy tính trong kỹ thuật lập trình

Thách thức của việc tạo ra một sản phẩm công nghệ thông tin hữu ích và có chỗ đứng trên thị trường là phải đáp ứng nhu cầu của người dùng, thời gian phát triển và vá lỗi nhanh, độ tin cậy, bảo mật cao. Với các đặc thù như trên, các hãng chương trình máy tính và các cá nhân sản xuất chương trình máy tính trong những năm gần đây đã áp dụng một quy trình linh hoạt hơn trong việc sản xuất các chương trình máy tính. Mục đích chính của cách làm này là đem các sản phẩm công nghệ thông tin đến gần hơn với thị trường, đáp ứng tốt hơn nhu cầu hay thay đổi của người dùng.

Bước thứ nhất: Phát triển các ý tưởng để giải quyết nhu cầu của người dùng. Các nhu cầu này có thể rất đa dạng như nhu cầu chia sẻ thông tin, kết nối (facebook, zalo, viber) hay các nhu cầu hẹp hơn như là nhận diện biển số xe ra vào chung cư hoặc là đọc dữ liệu từ các hóa đơn dưới dạng hình ảnh và tự động đưa ra các bút toán. Ở bước này, các ý tưởng để giải quyết vấn đề thường chỉ ở dạng tổng quan. Đối với các công ty lớn, thường sẽ có một đội ngũ điều tra thị trường để có thể xác định rõ hơn bài toán: Ai là đối tượng mục tiêu? (ví dụ: Người trẻ có nhu cầu kết nối nhiều hơn, các chủ doanh nghiệp nhỏ với nguồn lực hạn chế sẽ có nhu cầu sử dụng chương trình máy tính để tự động hóa các bút toán của công ty), dung lượng thị trường. Bước này rất quan trọng, nó sẽ quyết định doanh nghiệp có nên đầu tư phát triển sản phẩm hay không.

Bước thứ hai: Phát triển sản phẩm. Để đạt được mục đích đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng nhanh chóng, các hãng phần mềm thường tập trung vào các chức năng chính của chương trình máy tính, đó là khả năng chia sẻ thông tin, chức năng nhận diện biển số, chức năng chuyển hình ảnh hóa đơn thành chữ và số để đưa vào bút toán. Ở bước này mục tiêu của các hãng phần mềm sẽ là phát triển một sản phẩm khả dụng sao cho tốn ít công sức nhất và nhanh, để có thể đưa sản phẩm ra thị trường một cách nhanh nhất. Các yếu tố như thiết kế hệ thống, tạo lược đồ, phát triển thuật toán, phát triển mã nguồn (tạo các câu lệnh) đều được tiến hành ở bước này.

Sau khi tạo ra mã nguồn, chương trình được dịch sang một chương trình khác vào mã máy, tín hiệu nhị phân (cao và thấp) mà máy tính thực sự hoạt động gọi là mã máy hay mã đối tượng - là phần mà máy sẽ phải thực thi.

Bước thứ ba: Đưa sản phẩm ra thị trường, lấy ý kiến người sử dụng và điều chỉnh lại bước thứ hai. Sản phẩm sau khi đưa ra thị trường sẽ được điều chỉnh, phát triển thêm các tính năng mới, chỉnh sửa các tính năng cũng như lỗi kỹ thuật, cập nhật các phiên bản cho phù hợp. Ví dụ như trong trường hợp của Grab, lúc mới đưa ra thị trường tại Malaysia, Grab chỉ có chức năng chính là đặt xe, sau một thời gian, Grab thêm vào các tính năng như là giao hàng hoặc cho phép nhiều khách hàng cùng chia sẻ, đi chung một xe. Trong trường hợp của Foody Việt Nam, ban đầu là một trang website đánh giá món ăn, đến nay, người dùng có thể đặt món ăn trên Foody.

Bước thứ ba là bước quan trọng để hoàn thiện bước hai và cung cấp thêm thông tin thị trường để việc phát triển sản phẩm tại bước hai có thể đi đúng hướng hơn. Sau khi tiếp nhận các thông tin thị trường tại bước ba, các công ty phần mềm có thể phải thay đổi và bỏ đi toàn bộ các sản phẩm đã làm tại bước hai để phát triển các giải pháp khác (bao gồm mã nguồn chương trình, thuật toán, giao diện, thiết kế hệ thống...) để phù hợp hơn.

Như vậy, trong chương trình máy tính bao gồm những yếu tố thuộc ý tưởng: Chức năng (tính năng), cấu trúc hệ thống (quy trình, phương pháp). Các yếu tố thuộc về biểu hiện: Thuật toán, ngôn ngữ lập trình, mã nguồn, mã máy, giao diện người dùng (bao gồm bố trí thao tác trên màn hình và các thiết kế mỹ thuật). Nhưng trên thực tế nhà phát triển chương trình máy tính sẽ phải chú trọng đến các yếu tố: Tính năng, mã nguồn, thuật toán. Còn yếu tố giao diện người dùng, ngôn ngữ lập trình và thiết kế hệ thống thường mang tính phổ thông và theo các chuẩn nhất định nên khó xác định, thường sẽ có sự tương tự nhau hoặc sử dụng lẫn nhau trong lập trình. Tuy nhiên, về khía cạnh pháp lý, trong các yếu tố cấu thành chương trình máy tính đó, có những yếu tố được bảo hộ quyền tác giả và có những yếu tố không được bảo hộ quyền tác giả.

2. Nguyên tắc phân chia ý tưởng/biểu hiện và thuyết hợp nhất

Nguyên tắc phân chia ý tưởng/biểu hiện có nội dung là bản quyền chỉ bảo hộ hình thức hiểu hiện của ý tưởng, không bảo hộ ý tưởng của biểu hiện. Về cơ bản, một tác phẩm viết có thể được phân biệt thành ý tưởng và biểu hiện. Một ý tưởng có thể được hình thành ở một trạng thái trừu tượng hoặc nó có thể được hình thành ở mức độ cụ thể. Sự phân chia giữa ý tưởng và biểu hiện phụ thuộc vào mức độ các điểm tương đồng chung giữa ý tưởng và biểu hiện.

Nguyên tắc phân chia tưởng/biểu hiện có nghĩa là vi phạm quyền tác giả sẽ không xảy ra đối với các tác phẩm có cùng một ý tưởng nhưng lại không có sự sao chép về mặt diễn đạt, biểu hiện. Bảo vệ ý tưởng chỉ có thể được thể hiện theo một cơ chế khác gọi là sáng chế[1]. Tuy nhiên, ở Việt Nam chương trình máy tính đã bị loại trừ khỏi bảo hộ bằng sáng chế tại khoản 2 Điều 59 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (văn bản hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 của Văn phòng Quốc hội năm 2013).

Việc phân chia ý tưởng và biểu hiện bắt nguồn từ vụ kiện giữa Baker và Selden năm 1979 tại Mỹ[2], nó liên quan đến bản quyền trong một cuốn sách do Charles Selden viết, có tên là “Book-Keeping Simplified”, để mô tả một hệ thống kế toán mới gồm 20 trang chủ yếu là các mẫu sổ kế toán, các mẫu sổ cái, hệ thống quản lý và phân tích số liệu kế toán. Baker sau đó đã sản xuất một cuốn sách sử dụng một hệ thống tương tự và bán ra thị trường. Baker cho rằng sách của Selden không được bảo hộ quyền tác giả và Selden đã khởi kiện lên Tòa án. Tòa án cho rằng một cuốn sách không cho phép tác giả có quyền loại trừ những người khác thực hành những gì đã được mô tả trong cuốn sách, chỉ có quyền loại trừ việc sao chép những biểu hiện, diễn đạt trong cuốn sách[3].

Qua vụ án này chúng tay thấy các yếu tố như quy trình, phương pháp, cấu trúc, hệ thống được coi như là ý tưởng của một tác phẩm và không được bảo hộ quyền tác giả. Nên việc sao chép lại các yếu tố này không bị xem là vi phạm quyền tác giả. Bản án giữa Baker và Selden của Mỹ là trường hợp đầu tiên của bản quyền về sự phân tách ý tưởng/biểu hiện. Sau đó những quy tắc rút ra từ vụ Baker và Selden được ghi nhận trong điểm b Điều 102 của Đạo luật Bản quyền năm 1976 của Mỹ.

Tuy nhiên, không phải trường hợp nào việc phân biệt ý tưởng/biểu hiện cũng rõ ràng. Đối với những tác phẩm mà ý tưởng và biểu hiện gắn liền với nhau, và biểu hiện đó không thể phân biệt được với ý tưởng thì không bảo hộ quyền tác giả đối với biểu hiện đó. Vì nếu ý tưởng và biểu hiện (cách diễn đạt của tác phẩm) hợp nhất mà có bảo hộ quyền tác giả thì sẽ cản trở sự phát triển, sáng tạo các tác phẩm trái với mục đích của luật bản quyền.

Ví dụ, trong vụ kiện tranh chấp giữa công ty nữ trang Herbert Rosenthal và Kalpakian, Herbert Rosenthal đã kiện Kalpakian yêu cầu Kalpakian không được sản xuất những viên kim cương hình nón. Tòa án đã cho rằng chiếc kim cương này có ý tưởng rằng bất cứ ai cũng được tự do sao chép biểu hiện của nó vì hình dạng biểu hiện của nó chỉ có thể được thực hiện theo một vài cách. Do đó, Tòa án đã áp dụng thuyết hợp nhất, không bảo hộ quyền tác giả cho hình dạng nón của viên kim cương.

Khi ý tưởng và biểu hiện rất khó tách rời, chúng được cho là hợp nhất[4]. Thuyết hợp nhất về quyền tác giả nêu rằng nếu một ý tưởng và sự biểu hiện của ý tưởng gắn kết với nhau rằng ý tưởng và biểu hiện của nó là một, tức là chỉ có một cách hay là có một cách hạn chế các cách thể hiện và thể hiện ý tưởng trong một công việc - thì biểu hiện của ý tưởng đó có thể không được bảo hộ quyền tác giả[5]. Nguyên tắc phân chia ý tưởng/biểu hiện được xem như là sự khởi đầu, manh nha cho thuyết hợp nhất này và cùng tạo thành nền tảng để xác định một yếu tố được bảo hộ quyền tác giả hay không.

3. Các quy định pháp lý về nhận diện các yếu tố ý tưởng và biểu hiện của Mỹ và Liên minh châu Âu

3.1. Tại Mỹ

Điểm b Điều 102 Luật Bản quyền Mỹ quy định: Không bảo vệ bản quyền đối với tác phẩm gốc của tác giả không bao gồm bất kỳ ý tưởng, thủ tục, quy trình, hệ thống, phương thức hoạt động, khái niệm, nguyên tắc hoặc phát hiện nào, bất kể hình thức mà nó được mô tả, giải thích, minh họa, hoặc thể hiện trong công việc đó. Khoản 17 Điều 101 Luật Bản quyền Mỹ quy định: Một chương trình máy tính là một tập hợp các câu lệnh hoặc hướng dẫn được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp trong một máy tính để mang lại một kết quả nhất định. Nếu chỉ dừng lại ở các quy định này, chúng ta vẫn chưa thấy rõ yếu tố nào của chương trình máy tính sẽ được bảo hộ quyền tác giả mà chính những vụ án tạo nên án lệ mới nói rõ quan điểm của pháp luật Mỹ về bảo hộ ý tưởng và biểu hiện của chương trình máy tính rõ ràng nhất. Chúng ta nghiên cứu hai vụ kiện sau:

Vụ kiện thứ nhất giữa Computer Associates International (CA) và Altai.

CA đã tạo ra chương trình máy tính CA-Scheuduler với chức năng lập chương trình kế hoạch công việc bao gồm một thành phần được gọi là Adapter được thiết kế để dịch ngôn ngữ của chương trình sang các lệnh có thể hiểu được với hệ điều hành cụ thể đó. Bằng cách này CA-Scheuduler có thể sử dụng cùng một mã nhưng chạy trên các hệ điều hành khác nhau. Năm 1982, Altai cũng lập ra chương trình máy tính Zeke với chức năng như CA-Scheuduler viết cho hệ điều hành VSE dựa trên khoảng 30% mã nguồn Adapter tạo ra phiên dịch Oscar 3.4 cho Altai. Năm 1988, CA phát hiện ra rằng Altai đã sử dụng mã Adapter. Vì vậy, Altai viết lại những phần được sao chép của mã Oscar trước đó. Chương trình mới này được phát hành dưới dạng Oscar 3.5. Theo phán quyết của Tòa án Mỹ đã nhận thấy rằng Oscar 3.4 là vi phạm bản quyền CA-Scheuduler của CA và đã nhận bồi thường thiệt hại cho CA là 364,444 USD cùng tỷ lệ phân chia lợi nhuận. Tòa án quyết rằng Oscar 3.5 được viết lại bằng mã nguồn khác nên không cấu thành vi phạm bản quyền.

Như vậy, qua vụ kiện nổi tiếng này thấy rằng quan điểm của pháp luật Mỹ: Hai chương trình máy tính có cùng chức năng nhưng khác về đoạn mã thì không vi phạm quyền tác giả. Tức là chỉ bảo hộ các yếu tố biểu hiện của chương trình máy tính là các đoạn mã, còn các yếu tố thuộc ý tưởng đó là chức năng của chương trình máy tính thì không bảo hộ. Đây là vụ kiện mà Tòa án đã áp dụng triệt để nguyên tắc phân chia ý tưởng/biểu hiện: Quyền tác giả chỉ bảo hộ biểu hiện, không bảo hộ ý tưởng của chương trình máy tính.

Vụ kiện thứ hai giữa Lexmark và Static Control Components.

Lexmark là nhà sản xuất máy in đã bán một số hộp mực máy thấp hơn so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường, đổi lại khách hàng phải đồng ý chỉ sử dụng hộp mực một lần và trả lại Lexmark rồi mua hộp mực khác của Lexmark. Và Lexmark đã tạo ra con chip gắn với chương trình hoạt động của máy in để kiểm soát việc dùng một lần này. Đây là cách để Lexmark cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường. Vào năm 2002, Static Control Components (SCC) đã phát triển chip Smartek trên máy tính có thể hoạt động trên hộp mực của Lexmark để người dùng có thể mua mực của hãng khác đổ vào tái sử dụng mà không cần phải đến Lexmark mua hộp mực khác. Và họ cũng sao chép nguyên văn các đoạn mã của chương trình nạp mực của Lexmark. Vào ngày 30/12/2002, Lexmark đã kiện Static Control Components tại Tòa án Mỹ vi phạm luật bản quyền bằng cách sao chép chương trình máy tính nạp mực[6].

Tòa án quyết định rằng một chương trình máy tính nhúng trong hộp mực máy in của Lexmark mà các đối thủ cạnh tranh phải cài đặt để cho phép hộp mực tương hợp với máy in Lexmark không đủ điều kiện để bảo vệ bản quyền. Bởi vì ý tưởng hay chức năng của chương trình và sự thể hiện của nó đã được sáp nhập[7]. Phán quyết vi phạm bản quyền không xảy ra khi một người thứ hai phải sao chép một số khía cạnh chương trình của một công ty khác để đạt được tính tương thích.

Ngoài ra chúng ta còn có vụ kiện giữa Oracle và Google thấy rằng Tòa án đã nhận định là không bảo hộ ngôn ngữ lập trình Java và và các đoạn mã của Oracle vì lý do là chỉ có một vài cách hạn chế để diễn đạt tính năng của chương trình máy tính.

Dựa vào kết quả tranh chấp giữa công ty phần mềm Whelan Associates và Phòng Nha khoa Jaslow8; Lotus và Borland[9]... Quan điểm của Tòa án Mỹ đối với việc nhận diện ý tưởng và biểu hiện của chương trình máy tính thông qua các vụ kiện tạo thành án lệ. Qua đó thấy rằng Tòa án Mỹ đã áp dụng nguyên tắc phân chia ý tưởng/biểu hiện và thuyết hợp nhất để xác định các yếu tố nào được bảo hộ bản quyền đối với chương trình máy tính.

3.2. Liên minh châu Âu (EU)

Chỉ thị chung của Nghị viện và Hội đồng EU 2009/24/EC ngày 23/4/2009 về bảo hộ chương trình máy tính quy định rõ tại Điều 1 (2): “Ý tưởng và nguyên tắc nằm dưới bất kỳ yếu tố nào của chương trình máy tính, bao gồm cả những gì nằm dưới nền giao diện của nó, không được bảo vệ bởi bản quyền theo Chỉ thị này”[10]. Theo nguyên tắc bản quyền này, trong phạm vi logic, thuật toán và ngôn ngữ lập trình bao gồm các ý tưởng và nguyên tắc, những ý tưởng và nguyên tắc này không được bảo vệ theo Chỉ thị này. Theo luật pháp của các quốc gia thành viên và các công ước về bản quyền quốc tế, việc thể hiện những ý tưởng và nguyên tắc này sẽ được bảo vệ bởi bản quyền.

Trong tranh chấp giữa Viện SAS[11] và Công ty WPL[12]. Chương trình máy tính của SAS được viết bằng ngôn ngữ máy tính độc quyền. Khách hàng của SAS không còn lựa chọn nào khác ngoài việc cấp phép cho hệ thống SAS để chạy các chương trình ứng dụng ngôn ngữ SAS hiện có của họ. WPL đã phát triển một hệ thống chương trình máy tính cạnh tranh với SAS bằng cách học cách viết chương trình của Hệ thống SAS và bằng cách tham khảo hướng dẫn sử dụng SAS[13]. SAS đã đưa ra khiếu nại chống lại WPL, cáo buộc vi phạm bản quyền đối với cả chức năng của hệ thống và hướng dẫn sử dụng của SAS.

Tòa án tối cao của Liên minh châu Âu cho rằng các ý tưởng của chương trình máy tính bao gồm chức năng, ngôn ngữ lập trình và định dạng của các tập tin dữ liệu... là những ý tưởng tổng thể đằng sau một chương trình máy tính, chứ không phải là các hình thức biểu hiện của chương trình, do đó không được bảo vệ bởi bản quyền[14] và “để chấp nhận rằng chức năng của một chương trình máy tính có thể được bảo vệ bởi bản quyền sẽ làm cho chủ sở hữu có thể độc chiếm các ý tưởng, gây tổn hại cho tiến bộ công nghệ và phát triển công nghiệp”[15]. Do vậy Tòa án đã phán quyết WPL không vi phạm quyền tác giả của SAS.

Ngôn ngữ lập trình không bảo hộ trong bản án giữa Oracle và Google, SAS và WPL[16]... Giao diện người dùng không bảo hộ từ bản án giữa Lotus và Boland[17].

4. Thực trạng tranh chấp quyền tác giả đối với chương trình máy tính tại Việt Nam và những kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tại Việt Nam, quy định chung tại khoản 3 Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ, quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu thì không được bảo hộ quyền tác giả. Điều 22 Luật Sở hữu trí tuệ quy định chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy. Như vậy, có thể hiểu đây chính là phạm vi bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính là chỉ bảo hộ biểu hiện của chương trình máy tính là mã nguồn và mã máy.

4.1. Thực tiễn tranh chấp tại Việt Nam qua một số vụ án điển hình

Năm 2005, Công ty TNHH Tin học Định Gia (Diginet) khởi kiện Công ty TNHH P.C.I với nội dung chương trình máy tính Kế toán Lever4 của P.C.I đã sao chép chương trình máy tính Kế toán Lemon3 của Diginet[18]. Hai chương trình máy tính này đã có sự sao chép về mặt ý tưởng, chức năng vì đều phải tuân theo những chuẩn mực và nguyên tắc chung về tài chính kế toán là chuyện bình thường.

Tuy nhiên, P.C.I đã sử dụng phần lớn mã nguồn của Lemon3 cùng tài liệu hướng dẫn chương trình phần mềm này của Diginet[19]. Do vậy xác định Lever4 đã xâm phạm Lemon3.

Năm 2006, Công ty cổ phần Phần mềm Hà Nội (Hanoi Software JSC) khởi kiện Công ty cổ phần Thương Mại Số (Digital Trade) đã đưa ra thị trường chương trình máy tính I-Web có chức năng và mã nguồn y như chương trình máy tính Web++ của Hanoi Software JSC; Digital Trade đã thừa nhận sản phẩm I-Web là Web++ do chính nhân viên cũ của Hanoi Software JSC đem về sử dụng và phát triển, thừa nhận đó là hành vi sao chép mã nguồn bất hợp pháp.

Năm 2015, Công ty TNHH kỹ thuật Shunwang (Công ty Shunwang) khởi kiện Công ty Hòa Bình sử dụng không phép phần mềm GCafe được cho là sao chép toàn bộ phần mềm iCafe Mavin của Công ty Shunwang. Các file cài đặt, file hệ thống của phần mềm này đều có chữ ký điện tử của Shunwang. Vụ kiện nay vẫn chưa có kết quả từ Tòa án.

Một số vụ kiện về quyền tác giả đối với chương trình máy tính tại Việt Nam thời gian qua cho chúng ta thấy thực trạng như sau:

Thứ nhất, so với các vụ tranh chấp bản quyền chương trình máy tính trên thế giới thì hành vi xâm phạm ở Việt Nam tương đối đơn giản, chỉ sao chép một phần hoặc toàn bộ mã của chương trình máy tính.

Thứ hai, bên bị đơn thường phủ nhận hành vi vi phạm cho tới khi bên nguyên đơn đưa ra các chứng cứ chứng minh, lúc đó các bên thường đạt được thỏa thuận với nhau và dừng vụ tranh chấp lại chứ không cố để tiếp tục quá trình tố tụng như các loại hình tranh chấp tài sản hữu hình khác.

Thứ ba, trong quá trình lập trình chương trình máy tính, bản thân các bên nguyên đơn và bị đơn thường không nắm rõ được các quy định phạm vi bảo hộ quyền tác giả của mình đối với chương trình máy tính đến đâu.

4.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng rất cần thiết hoàn thiện các quy định pháp lý quyền tác giả đối với chương trình máy tính Việt Nam như sau:

Thứ nhất, cần có văn bản hướng dẫn quyền tác giả chỉ bảo hộ đối với các đoạn mã bao gồm mã nguồn, mã đối tượng (mã máy) của chương trình máy tính. Không bảo hộ cấu trúc, quy trình, ngôn ngữ lập trình, thuật toán, chức năng, giao diện của chương trình máy tính.

Thứ hai, trong trường hợp chỉ có một hoặc một số cách hạn chế viết đoạn mã để biểu hiện ý tưởng của chương trình máy tính thì không bảo hộ đoạn mã.

Việc xác định rõ phạm vi bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính thông qua nhận diện các yếu tố ý tưởng/biểu hiện sẽ giúp cho các nhà phát triển chương trình máy tính nắm được các quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình tạo chương trình máy tính kế thừa các yếu tố có sẵn từ các chương trình máy tính trước một cách hợp pháp. Ngoài ra, để giải quyết một tranh chấp về quyền tác giả đối với chương trình máy tính là không đơn giản vì liên quan đến việc lập trình - một lĩnh vực kỹ thuật chuyên ngành mà không phải thẩm phán nào cũng có thể dễ dàng tiếp cận và hiểu bản chất các chứng cứ và lập luận về mặt kỹ thuật mà Hội đồng giám định kết luận và các bên đưa ra. Do vậy, việc cụ thể hóa tại các văn bản pháp luật sẽ giúp cho việc giải quyết tranh chấp cũng dễ dàng hơn khi nhận diện các hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với chương trình máy tính.

ThS. TRƯƠNG THỊ TƯỜNG VI *

* Khoa Luật - Đại học Sài Gòn

Tài liệu tham khảo:

[1]. Kenrick & Co. Ltd v Lawrence & Co, https://en.wikipedia.org/wiki/Kenrick_v_Lawrence.

[2]. U.S. Supreme Court, Baker v. Selden, 101 U.S. 99 (1879), https://supreme.justia.com/cases/federal/us/ 101/99/case.html.

[3]. U.S. Supreme Court, Baker v. Selden, 101 U.S. 99 (1879), https://supreme.justia.com/cases/federal/us/ 101/99/case.html.

[4]. Michael Murray, Copyright, Originality, and the End of the Scenes a Faire and Merger Doctrines for Visual Works, Illinois Public Law and Legal Theory Research Papers Series, Research May 24, 2006, tr. 06-09.

[5]. Michael Murray, Copyright, Originality, and the End of the Scenes a Faire and Merger Doctrines for Visual Works, Illinois Public Law and Legal Theory Research Papers Series, Research May 24, 2006, tr 06-09.

[6]. Lee Gesmer (March 31, 2014), “Lexmark v. Static Control – 12 Years and Still Going Strong”, MassLawBlog.

[7]. Supreme Court’s Lexmark Decision Creates Uniform Federal False Advertising Standing Requirement” (PDF). Fenwick & West LLP. March 27, 2014.

[8]. https://en.wikipedia.org/wiki/Whelan_v._Jaslow.

[9]. Whong, Jason A.; Lee, Andrew T. S. (1996). “Lotus v. Borland: Defining the Limits of Software Copyright Protection”. Santa Clara High Technology Law Journal. 12 (1): 207–217.

[10]. Xem 91/250/EEC.

[11]. Viện nghiên cứu chương trình máy tính tại Mỹ sáng tạo ra hệ thống phầm mềm SAS - là chương trình máy tính dùng để phân tích hiện đại, các phân tích đa biến, trí tuệ kinh doanh, quản lý dữ liệu và phân tích tiên đoán.

[12]. World Programming Limited (WPL) là công ty tại Anh tạo ra phần mềm World Programming System.

[13]. “SAS wins $79.1 m judgement after finessing comity and collateral estoppal”. North Carolina Journal of International Law. University of North Carolina School of Law. Retrieved 2016-02-12.

[14]. Final High Court Judgement tại http://www.bailii.org/ew/cases/EWHC/Ch/2013/69.html.

[15]. Directive 2009/24/EC of the European Parliament and of the Council of 23 April 2009 on the legal protection of computer programs”. Official Journal of the European Union. Jump up^ 101 U.S. 99 (1879).

[16]. Programming language can’t be copyrighted: EU court, https://phys.org/news/2011-11-language-copyrighted-eu-court.html.

[17]. https://en.wikipedia.org/wiki/Lotus_Development_Corp._v._Borland_International,_Inc.

[18]. TP. Hồ Chí Minh: Vụ kiện tranh chấp bản quyền phần mềm đầu tiên, https://www.tienphong.vn/cong-nghe-khoa-hoc/tphcm-vu-kien-tranh-chap-ban-quyen-phan-mem-dau-tien-16084.tpo.

[19]. 10 sự kiện công ty năm 2005, https://tuoitre.vn/10-su-kien-cong-ty-nam-2005-116509.htm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: