Thứ bảy 12/09/2026 05:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự cần thiết và tác động đối với Việt Nam khi gia nhập Công ước La Hay năm 1980 về các khía cạnh dân sự của hành vi giữ hoặc đưa trẻ em đi trái phép

Công ước La Hay năm 1980 về các khía cạnh dân sự của hành vi giữ hoặc đưa trẻ em đi trái phép (sau đây gọi tắt là Công ước) là văn bản pháp lý quốc tế quan trọng quy định về các biện pháp mang tính chất dân sự trong hợp tác

Với xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ, các quan hệ hôn nhân, gia đình có yếu tố nước ngoài cũng ngày càng trở nên phổ biến. Cùng với đó, khó tránh khỏi một số lượng không nhỏ quan hệ hôn nhân, gia đình bị đổ vỡ dẫn đến hàng loạt vấn đề pháp lý phát sinh, đặc biệt là liên quan đến quyền nuôi dưỡng, thăm nom con cái. Các cơ quan có thẩm quyền ở các quốc gia khi giải quyết vấn đề về quyền nuôi dưỡng hoặc quyền thăm nom đều có chiều hướng lựa chọn phương án nhằm đảm bảo tốt nhất quyền lợi của trẻ. Tuy nhiên, nhiều cha/mẹ không chấp hành đúng quy định pháp luật và quyết định của các cơ quan có thẩm quyền. Với việc đi lại quốc tế dễ dàng, số vụ việc cha/mẹ hoặc người thân của trẻ đưa trẻ đi hoặc giữ trẻ lại trái phép ngày càng tăng cao... Hành vi đưa trẻ đi hoặc giữ trẻ lại trái với quyết định của các cơ quan có thẩm quyền, trái quy định pháp luật, xâm phạm tới quyền nuôi dưỡng, thăm nom hợp pháp của cha/mẹ trẻ sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của trẻ. Trên thực tế, nhiều nước coi hành vi mà cha/mẹ hoặc người thân mang trẻ đi khỏi lãnh thổ nơi trẻ đang cư trú trái pháp luật là bắt cóc trẻ em, nhưng do tính chất đặc biệt của hành vi này (chủ thể thực hiện thường là cha, mẹ, người thân thích của trẻ) nên không xử lý bằng biện pháp hình sự mà trước hết, các nước tìm cách giải quyết hậu quả của hành vi này theo cơ chế dân sự.

Công ước La Hay năm 1980 về các khía cạnh dân sự của hành vi giữ hoặc đưa trẻ em đi trái phép (sau đây gọi tắt là Công ước) là văn bản pháp lý quốc tế quan trọng quy định về các biện pháp mang tính chất dân sự trong hợp tác giữa các quốc gia có liên quan để trả trẻ về quốc gia nơi trẻ thường trú một cách nhanh nhất, góp phần đấu tranh chống lại hành vi của cha/mẹ hoặc người thân giữ hoặc đưa đi trái phép chính con, cháu của mình[1]. Công ước hiện đã có 99 thành viên, trong đó có nhiều quốc gia mà Việt Nam có số lượng lớn các vụ việc về hôn nhân, gia đình có yếu tố nước ngoài như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ốt-xtrây-lia. Các nước thành viên đều đánh giá Công ước là một cơ chế hiệu quả để giải quyết nhanh chóng các vụ việc đưa trẻ đi trái phép.

Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực hội nhập sâu rộng, toàn diện với khu vực và thế giới, các quan hệ giao lưu dân sự, thương mại ngày càng gia tăng, trong đó phải kể đến các quan hệ hôn nhân, gia đình có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển này là số lượng vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng đang có xu hướng gia tăng kéo theo các trường hợp cha/mẹ đưa trẻ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc mang trẻ về Việt Nam một cách trái phép cũng tăng theo. Thực tế tại Việt Nam đã có nhiều vụ việc liên quan.

Hiện nay, để giải quyết các vấn đề liên quan đến bảo vệ trẻ em bị xâm hại, Việt Nam đã gia nhập một số công ước liên quan, như Nghị định thư về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em; Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị hành vi buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của Liên Hợp Quốc… Tuy nhiên, giải quyết hậu quả pháp lý của hành vi giữ hoặc đưa trẻ em đi trái phép theo khía cạnh dân sự lại là vấn đề hoàn toàn mới tại Việt Nam. Trên thực tế, quyền nuôi hoặc thăm nom con trong các bản án hôn nhân, gia đình của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài tại Việt Nam thường được thực hiện trên cơ sở quyết định của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài theo các hiệp định tương trợ tư pháp, tuy nhiên, số lượng các hiệp định tương trợ tư pháp này cũng rất hạn chế. Việt Nam chưa ký kết điều ước quốc tế nào có nội dung tương tự như Công ước. Hiện nay, pháp luật Việt Nam mới chỉ có quy định về trao trả trẻ đối với các bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài đã được công nhận tại Việt Nam. Đối với các trường hợp chưa có bản án, quyết định được công nhận thì pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục để giải quyết việc trao trả trẻ và cũng chưa có cơ chế dân sự để đảm bảo quyền thăm nom con của cha/mẹ. Chính vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền trong nước còn lúng túng vì thiếu cơ sở pháp lý quốc tế cũng như trong nước để giải quyết. Điều này thật sự là một bất cập cần được sớm giải quyết.

Vậy việc gia nhập Công ước này có tác động như thế nào đối với Việt Nam trong vấn đề hợp tác quốc tế về bảo vệ trẻ em? Trong phạm vi bài viết này, tác giả đưa ra một số nhận định có tính tham khảo cho việc nghiên cứu khả năng gia nhập Công ước của Việt Nam

1. Sự cần thiết gia nhập Công ước

Qua nghiên cứu nội dung của Công ước, nhận định về sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và xu hướng tham gia Công ước trên thế giới hiện nay, thì việc gia nhập Công ước này là cần thiết. Bởi vì:

Thứ nhất, trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực hội nhập sâu rộng, toàn diện với khu vực và thế giới, các quan hệ giao lưu dân sự, thương mại ngày càng gia tăng, kéo theo đó là số vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng có xu hướng ngày càng tăng, làm phát sinh ngày càng nhiều những trường hợp cha/mẹ đưa trẻ em ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc mang trẻ em về Việt Nam một cách trái phép… thực tế đó đòi hỏi phải có cơ sở pháp lý quốc tế thật sự hữu hiệu để giải quyết.

Thứ hai, việc cha/mẹ đưa trẻ em đi trái phép trực tiếp ảnh hưởng đến việc đảm bảo quyền nuôi dưỡng hợp pháp của cha/mẹ trẻ em và đây là vấn đề chính mà Công ước điều chỉnh nhằm đảm bảo quyền, lợi ích của trẻ em.

Thứ ba, thực tiễn Việt Nam chưa ký kết điều ước quốc tế nào có nội dung tương tự như Công ước này và cơ sở pháp lý trong nước còn quy định mang tính nguyên tắc, thiếu cơ sở pháp lý để giải quyết các vụ việc về giữ hoặc đưa trẻ em đi trái phép theo khía cạnh dân sự. Do vậy, việc Việt Nam tham gia Công ước sẽ tạo cơ sở pháp lý quốc tế nhằm điều chỉnh quan hệ hợp tác giữa các quốc gia liên quan, đảm bảo quyền, lợi ích của trẻ em, quyền lợi hợp pháp của cha/mẹ trẻ em. Công ước chính là công cụ pháp lý xử lý hiệu quả các hành vi giữ hoặc đưa trẻ em đi trái phép theo khía cạnh dân sự và đã được kiểm nghiệm tại nhiều quốc gia thành viên Công ước.

Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, nhận thức về vấn đề giải quyết trẻ em bị mang đi trái phép từ góc độ dân sự theo quy định của Công ước còn hạn chế. Pháp luật Việt Nam cũng chưa có các quy định cụ thể về trình tự, thủ tục để giải quyết yêu cầu trao trả trẻ em bị mang đi hoặc giữ lại trái phép cũng như đảm bảo quyền thăm nom hợp pháp của cha/mẹ đối với trẻ em. Bên cạnh đó, quy định của Công ước chưa đủ rõ để áp dụng trực tiếp khi Việt Nam gia nhập Công ước. Việt Nam cần có kế hoạch với lộ trình thời gian cụ thể để chuẩn bị các điều kiện về pháp lý, tổ chức bộ máy, đặc biệt là cần nâng cao nhận thức và năng lực để sẵn sàng cho việc gia nhập và thực thi Công ước một cách hiệu quả.

2. Tác động đối với Việt Nam khi gia nhập Công ước

Thực tiễn quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài của Việt Nam trong những năm gần đây ngày càng gia tăng và đã có một số vụ việc yêu cầu trao trả lại trẻ bị mang đi hoặc giữ lại trái pháp luật cũng như các yêu cầu đảm bảo quyền thăm nom phát sinh trên thực tế. Tuy nhiên, do chưa có cơ sở pháp lý trong nước cũng như Việt Nam chưa ký kết điều ước quốc tế về lĩnh vực này nên quá trình giải quyết các vụ việc này trên thực tế có nhiều vướng mắc không thể giải quyết.

Trên thực tế, trong những năm gần đây, số lượng quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở nước ta ngày càng gia tăng. Theo số liệu của Cục Quốc tịch, hộ tịch, chứng thực (Bộ Tư pháp) tổng hợp từ các địa phương trên cả nước, thì trung bình mỗi năm Việt Nam có khoảng 18.000 công dân kết hôn với người nước ngoài. Đã có những vụ việc yêu cầu trao trả lại trẻ bị mang đi hoặc giữ lại trái pháp luật cũng như các yêu cầu đảm bảo quyền thăm nom phát sinh trên thực tế, cụ thể như vụ việc ca sỹ Lý Hương giữ trái phép con đẻ của mình, vụ chủ doanh nghiệp thủy sản Diệu Hiền đơn phương mang cháu nội sang Mỹ sinh sống bất chấp sự phản đối của mẹ trẻ em, hay công dân Việt Nam Vũ Thị Hà - Angie Ha Vu bị tạm giữ tại sân bay JFK New York với cáo buộc “bắt cóc con đẻ” theo phán quyết của Tòa án Cộng hòa Pháp trên cơ sở yêu cầu của cha đẻ của trẻ em. Vấn đề tương tự cũng có thể xảy ra ngay cả đối với quan hệ hôn nhân giữa 02 công dân Việt Nam cư trú tại nước ngoài khi cha/mẹ đưa trẻ em về Việt Nam hoặc đưa ra nước ngoài chưa được sự đồng ý của người còn lại. Tuy nhiên, do chưa có cơ sở pháp lý trong nước, cũng như Việt Nam chưa ký kết điều ước quốc tế về lĩnh vực này nên quá trình giải quyết các vụ việc này gặp nhiều vướng mắc.

Vì vậy, việc gia nhập Công ước sẽ mang lại những tác động tích cực cho Việt Nam, cụ thể là:

Thứ nhất, với việc gia nhập Công ước, Việt Nam sẽ có cơ sở pháp lý quốc tế để yêu cầu/thực hiện yêu cầu trao trả lại trẻ em bị đưa đi hoặc giữ lại trái phép và bảo đảm quyền thăm nom đối với trẻ em tại quốc gia thành viên Công ước. Điều này góp phần đảm bảo quyền, lợi ích của trẻ em một cách kịp thời, an toàn, không gây ảnh hưởng đến tâm, sinh lý cũng như sự phát triển bình thường của trẻ em. Công ước tạo ra cơ chế giải quyết yêu cầu trao trả lại trẻ em cũng như đảm bảo quyền thăm nom của cha/mẹ trẻ em một cách nhanh chóng, hòa bình, góp phần giúp trẻ sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống gia đình, đồng thời góp phần giảm chi phí của cha/mẹ trẻ em khi yêu cầu giải quyết vụ việc thông thường. Việc tham gia Công ước này sẽ góp phần tạo cơ chế đảm bảo quyền nuôi dưỡng và quyền thăm nom của công dân Việt Nam và công dân nước ngoài trong quan hệ hôn nhân thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước. Điều này có tác dụng tích cực đối với xã hội, cụ thể như ổn định các mối quan hệ xã hội, bảo vệ quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung và quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng trong thời kỳ hội nhập, đồng thời bảo vệ được quyền, lợi ích của người mẹ và trẻ em Việt Nam ở nước ngoài.

Thứ hai, việc gia nhập Công ước cũng sẽ tạo cơ sở và thúc đẩy quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế trong nước của Việt Nam liên quan đến các khía cạnh dân sự của hành vi giữ hoặc đưa trẻ em đi trái phép đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và đưa pháp luật Việt Nam tiến gần và theo kịp với xu hướng phát triển của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực này.

Thứ ba, tham gia Công ước sẽ góp phần nâng cao nhận thức của cơ quan, tổ chức, cá nhân và mọi công dân về hành vi mang đi hoặc giữ lại trẻ một cách bất hợp pháp.

Thứ tư, việc tham gia Công ước góp phần đảm bảo quyền con người nói chung và quyền trẻ em nói riêng, qua đó sẽ có tác động lớn về mặt chính trị và đối ngoại, đồng thời, củng cố và thể hiện mạnh mẽ cam kết của Việt Nam đối với các điều ước quốc tế có nội dung về quyền trẻ em mà Việt Nam đã tham gia như Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1993, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966.

3. Thuận lợi, khó khăn của Việt Nam khi gia nhập Công ước

Việc tham gia Công ước của Việt Nam ngoài những lợi ích và tác động đối với thể chế chính trị, kinh tế nêu trên sẽ có một số thuận lợi, khó khăn sau:

3.1. Thuận lợi

Thứ nhất, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ta luôn ủng hộ và coi trọng việc bảo vệ quyền trẻ em, quyền hợp pháp của cha/mẹ trong việc nuôi dưỡng con[2].

Thứ hai, Việt Nam mới gia nhập Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế vào năm 2013, việc nghiên cứu, gia nhập Công ước sẽ nhận được ủng hộ từ nhiều quốc gia thành viên của Hội nghị La Hay nói chung và thành viên Công ước nói riêng, trong đó có Hoa Kỳ và Nhật Bản đã quan tâm tìm hiểu thông tin về khả năng Việt Nam gia nhập Công ước. Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong 14 nước thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016, do vậy, chắc chắn Việt Nam sẽ nhận được sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế.

Thứ ba, quy định về việc thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đang được triển khai thực hiện được coi là bước chuẩn bị về tổ chức góp phần tạo điều kiện thuận lợi khi Việt Nam gia nhập Công ước.

Thứ tư, Công ước không đòi hỏi các quốc gia thành viên phải đóng niên liễm nên không làm phát sinh nghĩa vụ tài chính cho Việt Nam.

3.2. Khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi như đã phân tích ở trên, thì Việt Nam cũng sẽ gặp một số vấn đề cần phải giải quyết nếu muốn gia nhập Công ước, trong đó phải kể đến một số khó khăn như sau:

Thứ nhất, theo quy định của Công ước cũng như thực tiễn các nước đã cho thấy, để có thể thực thi Công ước hiệu quả đòi hỏi không chỉ các cơ quan nhà nước mà cả các tổ chức, cá nhân có liên quan phải có nhận thức thống nhất và đầy đủ về các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Công ước. Trong khi đó, từ góc độ pháp lý cũng như quan điểm xã hội, việc giải quyết hậu quả hành vi của cha/mẹ hoặc người thân giữ, đưa trẻ em đi trái phép là vấn đề hoàn toàn mới đối với Việt Nam. Thực tiễn các cá nhân, tổ chức và các phương tiện thông tin truyền thông thường nhắc tới hành vi giữ hoặc đưa trẻ em đi trái phép ở khía cạnh hình sự. Việc cha, mẹ mang chính con mình đi ra nước ngoài hoặc mang từ nước ngoài về Việt Nam nhằm mục đích nuôi dưỡng thường được người dân, cơ quan, tổ chức của Việt Nam coi đó là hành vi hợp pháp mà chưa nhận thức được hành vi đó thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước. Do vậy, để giải quyết khó khăn này, Việt Nam cần có khoảng thời gian hợp lý để tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức của cá nhân, tổ chức trước, trong và sau khi Việt Nam quyết định gia nhập Công ước.

Thứ hai, hiện nay, hệ thống các quy định pháp luật trong nước có liên quan đến nội dung của Công ước còn có nhiều khoảng trống hoặc chưa tương thích. Cụ thể, pháp luật Việt Nam chưa có quy định về trình tự, thủ tục yêu cầu và giải quyết yêu cầu trao trả lại trẻ trong trường hợp trẻ bị mang đi hoặc giữ lại trái phép thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước. Những điều khoản Công ước đã quy định rõ thì có thể áp dụng trực tiếp. Tuy nhiên, nhiều quy định của Công ước cho phép quốc gia thành viên lựa chọn giải pháp phù hợp để thực thi. Do vậy, để gia nhập Công ước, Việt Nam cần nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện pháp luật trong nước với thời gian và lộ trình cụ thể.

Thứ ba, việc tổ chức thực thi Công ước đòi hỏi một cơ chế liên ngành với sự tham gia của nhiều cơ quan như: Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an… Về nguồn nhân lực thực hiện, đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ, chuyên gia có trình độ chuyên môn và kỹ năng đặc thù. Tuy nhiên, hiện nay, hầu hết các bộ, ngành liên quan đều chưa được trang bị kỹ năng, kiến thức chuyên môn về nội dung của Công ước cũng như chưa chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc thực thi Công ước.

Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy rằng, nếu tham gia Công ước, Việt Nam phải có kế hoạch, lộ trình chuẩn bị cụ thể, từ hoàn thiện thể chế, thiết chế thực thi đến đào tạo, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cũng như tuyên truyền nâng cao nhận thức về Công ước cho người dân.

ThS. Bạch Quốc An

Vụ trưởng Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp





[1]. Xem giới thiệu Công ước tại http://www.hcch.net/upload/outline28e.pdf.

[2]. Chỉ thị số 20/CT-TW ngày 05/11/2012 của Bộ Chính trị về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới; Quyết định số 267/QĐ-TTg ngày 22/02/2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 - 2015 (với mục tiêu tổng quát của chương trình là tạo dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh mà ở đó tất cả trẻ em đều được bảo vệ); Quyết định số 1555/QĐ-TTg ngày 17/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012 - 2020 (theo đó, mục tiêu của chương trình là xây dựng môi trường sống an toàn, thân thiện và lành mạnh để thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền của trẻ em).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: