Thứ bảy 02/05/2026 00:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự cần thiết và tác động đối với Việt Nam khi gia nhập Công ước La Hay năm 1980 về các khía cạnh dân sự của hành vi giữ hoặc đưa trẻ em đi trái phép

Công ước La Hay năm 1980 về các khía cạnh dân sự của hành vi giữ hoặc đưa trẻ em đi trái phép (sau đây gọi tắt là Công ước) là văn bản pháp lý quốc tế quan trọng quy định về các biện pháp mang tính chất dân sự trong hợp tác

Với xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ, các quan hệ hôn nhân, gia đình có yếu tố nước ngoài cũng ngày càng trở nên phổ biến. Cùng với đó, khó tránh khỏi một số lượng không nhỏ quan hệ hôn nhân, gia đình bị đổ vỡ dẫn đến hàng loạt vấn đề pháp lý phát sinh, đặc biệt là liên quan đến quyền nuôi dưỡng, thăm nom con cái. Các cơ quan có thẩm quyền ở các quốc gia khi giải quyết vấn đề về quyền nuôi dưỡng hoặc quyền thăm nom đều có chiều hướng lựa chọn phương án nhằm đảm bảo tốt nhất quyền lợi của trẻ. Tuy nhiên, nhiều cha/mẹ không chấp hành đúng quy định pháp luật và quyết định của các cơ quan có thẩm quyền. Với việc đi lại quốc tế dễ dàng, số vụ việc cha/mẹ hoặc người thân của trẻ đưa trẻ đi hoặc giữ trẻ lại trái phép ngày càng tăng cao... Hành vi đưa trẻ đi hoặc giữ trẻ lại trái với quyết định của các cơ quan có thẩm quyền, trái quy định pháp luật, xâm phạm tới quyền nuôi dưỡng, thăm nom hợp pháp của cha/mẹ trẻ sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của trẻ. Trên thực tế, nhiều nước coi hành vi mà cha/mẹ hoặc người thân mang trẻ đi khỏi lãnh thổ nơi trẻ đang cư trú trái pháp luật là bắt cóc trẻ em, nhưng do tính chất đặc biệt của hành vi này (chủ thể thực hiện thường là cha, mẹ, người thân thích của trẻ) nên không xử lý bằng biện pháp hình sự mà trước hết, các nước tìm cách giải quyết hậu quả của hành vi này theo cơ chế dân sự.

Công ước La Hay năm 1980 về các khía cạnh dân sự của hành vi giữ hoặc đưa trẻ em đi trái phép (sau đây gọi tắt là Công ước) là văn bản pháp lý quốc tế quan trọng quy định về các biện pháp mang tính chất dân sự trong hợp tác giữa các quốc gia có liên quan để trả trẻ về quốc gia nơi trẻ thường trú một cách nhanh nhất, góp phần đấu tranh chống lại hành vi của cha/mẹ hoặc người thân giữ hoặc đưa đi trái phép chính con, cháu của mình[1]. Công ước hiện đã có 99 thành viên, trong đó có nhiều quốc gia mà Việt Nam có số lượng lớn các vụ việc về hôn nhân, gia đình có yếu tố nước ngoài như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ốt-xtrây-lia. Các nước thành viên đều đánh giá Công ước là một cơ chế hiệu quả để giải quyết nhanh chóng các vụ việc đưa trẻ đi trái phép.

Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực hội nhập sâu rộng, toàn diện với khu vực và thế giới, các quan hệ giao lưu dân sự, thương mại ngày càng gia tăng, trong đó phải kể đến các quan hệ hôn nhân, gia đình có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển này là số lượng vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng đang có xu hướng gia tăng kéo theo các trường hợp cha/mẹ đưa trẻ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc mang trẻ về Việt Nam một cách trái phép cũng tăng theo. Thực tế tại Việt Nam đã có nhiều vụ việc liên quan.

Hiện nay, để giải quyết các vấn đề liên quan đến bảo vệ trẻ em bị xâm hại, Việt Nam đã gia nhập một số công ước liên quan, như Nghị định thư về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em; Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị hành vi buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của Liên Hợp Quốc… Tuy nhiên, giải quyết hậu quả pháp lý của hành vi giữ hoặc đưa trẻ em đi trái phép theo khía cạnh dân sự lại là vấn đề hoàn toàn mới tại Việt Nam. Trên thực tế, quyền nuôi hoặc thăm nom con trong các bản án hôn nhân, gia đình của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài tại Việt Nam thường được thực hiện trên cơ sở quyết định của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài theo các hiệp định tương trợ tư pháp, tuy nhiên, số lượng các hiệp định tương trợ tư pháp này cũng rất hạn chế. Việt Nam chưa ký kết điều ước quốc tế nào có nội dung tương tự như Công ước. Hiện nay, pháp luật Việt Nam mới chỉ có quy định về trao trả trẻ đối với các bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài đã được công nhận tại Việt Nam. Đối với các trường hợp chưa có bản án, quyết định được công nhận thì pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục để giải quyết việc trao trả trẻ và cũng chưa có cơ chế dân sự để đảm bảo quyền thăm nom con của cha/mẹ. Chính vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền trong nước còn lúng túng vì thiếu cơ sở pháp lý quốc tế cũng như trong nước để giải quyết. Điều này thật sự là một bất cập cần được sớm giải quyết.

Vậy việc gia nhập Công ước này có tác động như thế nào đối với Việt Nam trong vấn đề hợp tác quốc tế về bảo vệ trẻ em? Trong phạm vi bài viết này, tác giả đưa ra một số nhận định có tính tham khảo cho việc nghiên cứu khả năng gia nhập Công ước của Việt Nam

1. Sự cần thiết gia nhập Công ước

Qua nghiên cứu nội dung của Công ước, nhận định về sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và xu hướng tham gia Công ước trên thế giới hiện nay, thì việc gia nhập Công ước này là cần thiết. Bởi vì:

Thứ nhất, trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực hội nhập sâu rộng, toàn diện với khu vực và thế giới, các quan hệ giao lưu dân sự, thương mại ngày càng gia tăng, kéo theo đó là số vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng có xu hướng ngày càng tăng, làm phát sinh ngày càng nhiều những trường hợp cha/mẹ đưa trẻ em ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc mang trẻ em về Việt Nam một cách trái phép… thực tế đó đòi hỏi phải có cơ sở pháp lý quốc tế thật sự hữu hiệu để giải quyết.

Thứ hai, việc cha/mẹ đưa trẻ em đi trái phép trực tiếp ảnh hưởng đến việc đảm bảo quyền nuôi dưỡng hợp pháp của cha/mẹ trẻ em và đây là vấn đề chính mà Công ước điều chỉnh nhằm đảm bảo quyền, lợi ích của trẻ em.

Thứ ba, thực tiễn Việt Nam chưa ký kết điều ước quốc tế nào có nội dung tương tự như Công ước này và cơ sở pháp lý trong nước còn quy định mang tính nguyên tắc, thiếu cơ sở pháp lý để giải quyết các vụ việc về giữ hoặc đưa trẻ em đi trái phép theo khía cạnh dân sự. Do vậy, việc Việt Nam tham gia Công ước sẽ tạo cơ sở pháp lý quốc tế nhằm điều chỉnh quan hệ hợp tác giữa các quốc gia liên quan, đảm bảo quyền, lợi ích của trẻ em, quyền lợi hợp pháp của cha/mẹ trẻ em. Công ước chính là công cụ pháp lý xử lý hiệu quả các hành vi giữ hoặc đưa trẻ em đi trái phép theo khía cạnh dân sự và đã được kiểm nghiệm tại nhiều quốc gia thành viên Công ước.

Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, nhận thức về vấn đề giải quyết trẻ em bị mang đi trái phép từ góc độ dân sự theo quy định của Công ước còn hạn chế. Pháp luật Việt Nam cũng chưa có các quy định cụ thể về trình tự, thủ tục để giải quyết yêu cầu trao trả trẻ em bị mang đi hoặc giữ lại trái phép cũng như đảm bảo quyền thăm nom hợp pháp của cha/mẹ đối với trẻ em. Bên cạnh đó, quy định của Công ước chưa đủ rõ để áp dụng trực tiếp khi Việt Nam gia nhập Công ước. Việt Nam cần có kế hoạch với lộ trình thời gian cụ thể để chuẩn bị các điều kiện về pháp lý, tổ chức bộ máy, đặc biệt là cần nâng cao nhận thức và năng lực để sẵn sàng cho việc gia nhập và thực thi Công ước một cách hiệu quả.

2. Tác động đối với Việt Nam khi gia nhập Công ước

Thực tiễn quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài của Việt Nam trong những năm gần đây ngày càng gia tăng và đã có một số vụ việc yêu cầu trao trả lại trẻ bị mang đi hoặc giữ lại trái pháp luật cũng như các yêu cầu đảm bảo quyền thăm nom phát sinh trên thực tế. Tuy nhiên, do chưa có cơ sở pháp lý trong nước cũng như Việt Nam chưa ký kết điều ước quốc tế về lĩnh vực này nên quá trình giải quyết các vụ việc này trên thực tế có nhiều vướng mắc không thể giải quyết.

Trên thực tế, trong những năm gần đây, số lượng quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở nước ta ngày càng gia tăng. Theo số liệu của Cục Quốc tịch, hộ tịch, chứng thực (Bộ Tư pháp) tổng hợp từ các địa phương trên cả nước, thì trung bình mỗi năm Việt Nam có khoảng 18.000 công dân kết hôn với người nước ngoài. Đã có những vụ việc yêu cầu trao trả lại trẻ bị mang đi hoặc giữ lại trái pháp luật cũng như các yêu cầu đảm bảo quyền thăm nom phát sinh trên thực tế, cụ thể như vụ việc ca sỹ Lý Hương giữ trái phép con đẻ của mình, vụ chủ doanh nghiệp thủy sản Diệu Hiền đơn phương mang cháu nội sang Mỹ sinh sống bất chấp sự phản đối của mẹ trẻ em, hay công dân Việt Nam Vũ Thị Hà - Angie Ha Vu bị tạm giữ tại sân bay JFK New York với cáo buộc “bắt cóc con đẻ” theo phán quyết của Tòa án Cộng hòa Pháp trên cơ sở yêu cầu của cha đẻ của trẻ em. Vấn đề tương tự cũng có thể xảy ra ngay cả đối với quan hệ hôn nhân giữa 02 công dân Việt Nam cư trú tại nước ngoài khi cha/mẹ đưa trẻ em về Việt Nam hoặc đưa ra nước ngoài chưa được sự đồng ý của người còn lại. Tuy nhiên, do chưa có cơ sở pháp lý trong nước, cũng như Việt Nam chưa ký kết điều ước quốc tế về lĩnh vực này nên quá trình giải quyết các vụ việc này gặp nhiều vướng mắc.

Vì vậy, việc gia nhập Công ước sẽ mang lại những tác động tích cực cho Việt Nam, cụ thể là:

Thứ nhất, với việc gia nhập Công ước, Việt Nam sẽ có cơ sở pháp lý quốc tế để yêu cầu/thực hiện yêu cầu trao trả lại trẻ em bị đưa đi hoặc giữ lại trái phép và bảo đảm quyền thăm nom đối với trẻ em tại quốc gia thành viên Công ước. Điều này góp phần đảm bảo quyền, lợi ích của trẻ em một cách kịp thời, an toàn, không gây ảnh hưởng đến tâm, sinh lý cũng như sự phát triển bình thường của trẻ em. Công ước tạo ra cơ chế giải quyết yêu cầu trao trả lại trẻ em cũng như đảm bảo quyền thăm nom của cha/mẹ trẻ em một cách nhanh chóng, hòa bình, góp phần giúp trẻ sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống gia đình, đồng thời góp phần giảm chi phí của cha/mẹ trẻ em khi yêu cầu giải quyết vụ việc thông thường. Việc tham gia Công ước này sẽ góp phần tạo cơ chế đảm bảo quyền nuôi dưỡng và quyền thăm nom của công dân Việt Nam và công dân nước ngoài trong quan hệ hôn nhân thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước. Điều này có tác dụng tích cực đối với xã hội, cụ thể như ổn định các mối quan hệ xã hội, bảo vệ quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung và quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng trong thời kỳ hội nhập, đồng thời bảo vệ được quyền, lợi ích của người mẹ và trẻ em Việt Nam ở nước ngoài.

Thứ hai, việc gia nhập Công ước cũng sẽ tạo cơ sở và thúc đẩy quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế trong nước của Việt Nam liên quan đến các khía cạnh dân sự của hành vi giữ hoặc đưa trẻ em đi trái phép đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và đưa pháp luật Việt Nam tiến gần và theo kịp với xu hướng phát triển của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực này.

Thứ ba, tham gia Công ước sẽ góp phần nâng cao nhận thức của cơ quan, tổ chức, cá nhân và mọi công dân về hành vi mang đi hoặc giữ lại trẻ một cách bất hợp pháp.

Thứ tư, việc tham gia Công ước góp phần đảm bảo quyền con người nói chung và quyền trẻ em nói riêng, qua đó sẽ có tác động lớn về mặt chính trị và đối ngoại, đồng thời, củng cố và thể hiện mạnh mẽ cam kết của Việt Nam đối với các điều ước quốc tế có nội dung về quyền trẻ em mà Việt Nam đã tham gia như Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1993, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966.

3. Thuận lợi, khó khăn của Việt Nam khi gia nhập Công ước

Việc tham gia Công ước của Việt Nam ngoài những lợi ích và tác động đối với thể chế chính trị, kinh tế nêu trên sẽ có một số thuận lợi, khó khăn sau:

3.1. Thuận lợi

Thứ nhất, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ta luôn ủng hộ và coi trọng việc bảo vệ quyền trẻ em, quyền hợp pháp của cha/mẹ trong việc nuôi dưỡng con[2].

Thứ hai, Việt Nam mới gia nhập Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế vào năm 2013, việc nghiên cứu, gia nhập Công ước sẽ nhận được ủng hộ từ nhiều quốc gia thành viên của Hội nghị La Hay nói chung và thành viên Công ước nói riêng, trong đó có Hoa Kỳ và Nhật Bản đã quan tâm tìm hiểu thông tin về khả năng Việt Nam gia nhập Công ước. Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong 14 nước thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016, do vậy, chắc chắn Việt Nam sẽ nhận được sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế.

Thứ ba, quy định về việc thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đang được triển khai thực hiện được coi là bước chuẩn bị về tổ chức góp phần tạo điều kiện thuận lợi khi Việt Nam gia nhập Công ước.

Thứ tư, Công ước không đòi hỏi các quốc gia thành viên phải đóng niên liễm nên không làm phát sinh nghĩa vụ tài chính cho Việt Nam.

3.2. Khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi như đã phân tích ở trên, thì Việt Nam cũng sẽ gặp một số vấn đề cần phải giải quyết nếu muốn gia nhập Công ước, trong đó phải kể đến một số khó khăn như sau:

Thứ nhất, theo quy định của Công ước cũng như thực tiễn các nước đã cho thấy, để có thể thực thi Công ước hiệu quả đòi hỏi không chỉ các cơ quan nhà nước mà cả các tổ chức, cá nhân có liên quan phải có nhận thức thống nhất và đầy đủ về các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Công ước. Trong khi đó, từ góc độ pháp lý cũng như quan điểm xã hội, việc giải quyết hậu quả hành vi của cha/mẹ hoặc người thân giữ, đưa trẻ em đi trái phép là vấn đề hoàn toàn mới đối với Việt Nam. Thực tiễn các cá nhân, tổ chức và các phương tiện thông tin truyền thông thường nhắc tới hành vi giữ hoặc đưa trẻ em đi trái phép ở khía cạnh hình sự. Việc cha, mẹ mang chính con mình đi ra nước ngoài hoặc mang từ nước ngoài về Việt Nam nhằm mục đích nuôi dưỡng thường được người dân, cơ quan, tổ chức của Việt Nam coi đó là hành vi hợp pháp mà chưa nhận thức được hành vi đó thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước. Do vậy, để giải quyết khó khăn này, Việt Nam cần có khoảng thời gian hợp lý để tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức của cá nhân, tổ chức trước, trong và sau khi Việt Nam quyết định gia nhập Công ước.

Thứ hai, hiện nay, hệ thống các quy định pháp luật trong nước có liên quan đến nội dung của Công ước còn có nhiều khoảng trống hoặc chưa tương thích. Cụ thể, pháp luật Việt Nam chưa có quy định về trình tự, thủ tục yêu cầu và giải quyết yêu cầu trao trả lại trẻ trong trường hợp trẻ bị mang đi hoặc giữ lại trái phép thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước. Những điều khoản Công ước đã quy định rõ thì có thể áp dụng trực tiếp. Tuy nhiên, nhiều quy định của Công ước cho phép quốc gia thành viên lựa chọn giải pháp phù hợp để thực thi. Do vậy, để gia nhập Công ước, Việt Nam cần nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện pháp luật trong nước với thời gian và lộ trình cụ thể.

Thứ ba, việc tổ chức thực thi Công ước đòi hỏi một cơ chế liên ngành với sự tham gia của nhiều cơ quan như: Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an… Về nguồn nhân lực thực hiện, đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ, chuyên gia có trình độ chuyên môn và kỹ năng đặc thù. Tuy nhiên, hiện nay, hầu hết các bộ, ngành liên quan đều chưa được trang bị kỹ năng, kiến thức chuyên môn về nội dung của Công ước cũng như chưa chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc thực thi Công ước.

Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy rằng, nếu tham gia Công ước, Việt Nam phải có kế hoạch, lộ trình chuẩn bị cụ thể, từ hoàn thiện thể chế, thiết chế thực thi đến đào tạo, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cũng như tuyên truyền nâng cao nhận thức về Công ước cho người dân.

ThS. Bạch Quốc An

Vụ trưởng Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp





[1]. Xem giới thiệu Công ước tại http://www.hcch.net/upload/outline28e.pdf.

[2]. Chỉ thị số 20/CT-TW ngày 05/11/2012 của Bộ Chính trị về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới; Quyết định số 267/QĐ-TTg ngày 22/02/2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 - 2015 (với mục tiêu tổng quát của chương trình là tạo dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh mà ở đó tất cả trẻ em đều được bảo vệ); Quyết định số 1555/QĐ-TTg ngày 17/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012 - 2020 (theo đó, mục tiêu của chương trình là xây dựng môi trường sống an toàn, thân thiện và lành mạnh để thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền của trẻ em).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: