Thứ sáu 13/03/2026 06:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tác động của đại dịch Covid-19 đối với vấn đề miễn trách nhiệm trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Sự bùng phát của dịch Covid -19 cùng với những hệ luỵ của nó đối với nền kinh tế đã đặt ra câu hỏi liên quan đến việc miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, đặc biệt là vi phạm nghĩa vụ giao hàng trong trường hợp bất khả kháng liên quan đến sự bùng phát dịch Covid-19.

Sự bùng phát của dịch Covid -19 cùng với những hệ luỵ của nó đối với nền kinh tế đã đặt ra câu hỏi liên quan đến việc miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, đặc biệt là vi phạm nghĩa vụ giao hàng trong trường hợp bất khả kháng liên quan đến sự bùng phát dịch Covid-19. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích vấn đề bất khả kháng để miễn trách nhiệm theo quy định của Công ước Viên của Liên Hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế năm 1980 (CISG) và pháp luật Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19.

1. Khái quát quy định của CISG về miễn trách nhiệm

1.1. Cơ sở pháp lý về miễn trách nhiệm theo CISG và pháp luật Việt Nam

Thực hiện nghiêm chỉnh hợp đồng là nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng và cũng là một nguyên tắc luật định. Tuy nhiên, không phải lúc nào hợp đồng cũng được thực hiện một cách suôn sẻ, thuận lợi. Vẫn có những biến cố xảy ra làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hợp đồng của các bên. Trong đó có những sự cố nằm ngoài khả năng dự đoán và kiểm soát của các bên và xảy ra không phải do lỗi của các bên. Pháp luật Việt Nam cũng như CISG đều có những quy định cho phép bên vi phạm nghĩa vụ được miễn trách nhiệm trong một số trường hợp nhất định, trong đó có miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng.

“Sự kiện bất khả kháng” (force majeure) là một thuật ngữ có nguồn gốc tiếng Pháp, có nghĩa là sức mạnh tối cao hoặc sức người không thể kháng cự nổi. CISG không sử dụng thuật ngữ “bất khả kháng” mà chỉ sử dụng thuật ngữ “trở ngại” (impediment) để chỉ trường hợp bên vi phạm được miễn trừ trách nhiệm. Cụ thể, khoản 1 Điều 79 CISG quy định: Một bên không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào đó của họ nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát của họ và người ta không thể chờ đợi một cách hợp lý rằng họ phải tính tới trở ngại đó vào lúc ký kết hợp đồng hoặc là tránh được hay khắc phục các hậu qủa của nó.

Theo đó, CISG sử dụng cụm từ “trở ngại khách quan” (impediment) để được miễn trách nhiệm. “Trở ngại” được giải thích ngắn gọn là một sự ngăn trở việc thực hiện hợp đồng (barrier to performanc). “Trở ngại” có thể là các sự kiện khách quan làm một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng như các sự kiện tự nhiên, chính trị, xã hội… Tuy nhiên, việc một sự kiện xảy ra có được xem là trở ngại theo cách hiểu của Điều 79 CISG hay không còn tuỳ thuộc vào các điều kiện cụ thể kèm theo. Ví dụ, cơn bão xảy ra trên biển làm ảnh hưởng tới hàng hoá trên tàu, sự kiện khách quan là cơn bão xảy ra nhưng có là trở ngại được miễn trách hay không thì cần xem xét toàn diện bối cảnh về mối tương quan giữa sự kiện xảy ra và khả năng dự đoán trước hay phòng tránh của bên vi phạm. Từ đó đặt ra yêu cầu phải xem xét toàn diện những điều kiện để được miễn trách nhiệm theo CISG.

Theo pháp luật Việt Nam, khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép; khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 quy định, bên vi phạm hợp đồng thương mại được miễn trách nhiệm khi xảy ra sự kiện bất khả kháng.

1.2. Điều kiện miễn trách nhiệm do trở ngại khách quan theo CISG

Theo quy định tại khoản 1 Điều 79 CISG có thể thấy rằng, bên vi phạm nghĩa vụ muốn miễn trách nhiệm phải chứng minh được: (i) Việc không thực hiện được là do trở ngại khách quan; (ii) Trở ngại đó phải nằm ngoài sự kiểm soát của bên vi phạm hợp đồng; (iii) Những trở ngại này bên vi phạm đã không thể lường trước được trong lúc ký kết hợp đồng hoặc trở ngại này là không thể tránh được và không thể khắc phục hậu quả của nó.

- Trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát của bên vi phạm: Trước tiên, bên vi phạm phải chứng minh trở ngại “nằm ngoài tầm kiểm soát” của mình. Theo quy định của CISG, trở ngại phải là một sự kiện xảy ra khách quan dưới góc nhìn của bên vi phạm hợp đồng. Một số trường hợp phổ biến nhất của trở ngại như các sự kiện thiên nhiên lũ lụt, động đất, sóng thần… Ngược lại, có những trở ngại không được coi là khách quan và không thể là căn cứ viện dẫn miễn trách nhiệm. Theo các nhà soạn thảo CISG, người có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng luôn được xem là “có khả năng kiểm soát” quá trình điều hành, sản xuất, lưu thông hàng hoá trong nội bộ doanh nghiệp. Song song đó, thương nhân cũng phải luôn kiểm soát được tình hình tài chính, nguồn hàng và phải luôn kiểm tra, theo dõi chính sách thương mại của các quốc gia. Vì vậy, các vấn đề xảy ra nội bộ của bên có nghĩa vụ hợp đồng thường không được xem là trở ngại theo Điều 79 CISG [1]. Các trở ngại xảy ra không nằm trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp như đã nêu sẽ được coi là trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát của bên có nghĩa vụ.

- Trở ngại không thể dự đoán được một cách hợp lý khi giao kết hợp đồng: Điều kiện tiếp theo cần chứng minh là trở ngại “không thể dự đoán được” vào thời điểm giao kết hợp đồng. Đánh giá trở ngại có nằm trong dự đoán của bên vi phạm hay không cần thực hiện nguyên tắc hợp lý. Bên vi phạm được xem “một cách hợp lý không thể dự đoán được trở ngại” nếu một người hợp lý (reasonable person) trong hoàn cảnh tương tự với bên vi phạm, cũng không thể dự đoán được trở ngại đối với hợp đồng. Ngược lại, nếu trở ngại này có thể dự đoán được bởi một người hợp lý thông thường thì bên vi phạm phải xem trở ngại đó như những rủi ro của hợp đồng mua bán mà họ đã ký kết.

- Bên vi phạm không thể tránh hoặc khắc phục được hệ quả của trở ngại khách quan: Việc không thể thực hiện được trở ngại phải có nguyên nhân từ một trở ngại mà một bên không thể lường trước và phòng tránh được một cách hợp lý. Đối với tiêu chí “tránh” (phòng tránh) có thể hiểu là bên viện dẫn trở ngại cần có phương án phòng tránh sự xuất hiện tiềm tàng của trở ngại. Hay nói cách khác, bên bị ảnh hưởng bởi sự kiện miễn trách phải thực hiện tất cả các biện pháp cần thiết để ngăn chặn sự xuất hiện của trở ngại. Tiêu chí “khắc phục” được hiểu là nếu một sự kiện đã tồn tại trên thực tế rồi thì bên vi phạm hợp đồng phải tìm mọi cách có thể để có thể khắc phục hệ quả do tác động của sự kiện trước khi yêu cầu miễn trừ trách nhiệm. Điều này đồng nghĩa với việc bên vi phạm phải thực hiện tất cả các biện pháp khả thi để thực hiện hợp đồng[2].

- Mối quan hệ nhân quả giữa vi phạm và trở ngại và nghĩa vụ thông báo của bên vi phạm

+ Về mối quan hệ nhân quả giữa vi phạm và trở ngại, thì trở ngại phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc không hoàn thành được nghĩa vụ hợp đồng. Nếu việc không hoàn thành được nghĩa vụ là do các nguyên nhân khác ngoài sự kiện bất khả kháng thì bên vi phạm không được miễn trách trên cơ sở của trở ngại khách quan.

+ Về nghĩa vụ thông báo, bên vi phạm hợp đồng chỉ được xem xét miễn trừ trách nhiệm nếu họ hoàn thành nghĩa vụ thông báo cho bên còn lại của hợp đồng về sự tồn tại của trở ngại. Theo khoản 4 Điều 79 CISG, thông báo về sự kiện bất khả kháng có hiệu lực khi bên còn lại nhận được thông báo. Nghĩa vụ thông báo thể hiện sự thiện chí trong hợp đồng để các bên được biết và cùng chủ động cho các kế hoạch kinh doanh của mình khi có sự kiện miễn trách nhiệm xảy ra.

2. Tác động của Covid-19 đến vấn đề miễn trách nhiệm trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

2.1. Tính chất của sự kiện dịch bệnh Covid-19

Như đã phân tích, để được viễn dẫn Điều 79 CISG, thì sự kiện dịch bệnh Covid-19 phải thoã mãn đầy đủ các yếu tố là trở ngại khách quan nằm ngoài khả năng dự đoán và kiểm soát của bên vi phạm, bên vi phạm không thể tránh được hoặc không thể khắc phục dược mặc dù đã thực hiện mọi biện pháp cần thiết và vấn đề thực hiện nghĩa vụ thông báo cho bên còn lại của hợp đồng.

Về tính chất của dịch bệnh, đại dịch Covid-19 là một đại dịch bệnh truyền nhiễm với tác nhân là virus SARS-CoV-2, đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu[3]. Dịch bệnh này là một trở ngại khách quan nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người. Tuy đó không phải là một hiện tượng thiên nhiên, nhưng là một dịch bệnh lạ chưa từng xuất hiện trong lịch sử cũng như khả năng hiện tại của y học thế giới chưa thể ngay lập tức kiểm soát dịch bệnh này. Nên có thể thấy, dịch bệnh Covid-19 thoã mãn yếu tố là một trở ngại khách quan.

Về khả năng dự đoán và kiểm soát của bên vi phạm, ở cấp độ toàn cầu, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tuyên bố tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu và gọi dịch Covid-19 là đại dịch[4] vì mức độ lây lan nhanh chóng của dịch bệnh. Tại Việt Nam, ngày 29/01/2020, Bộ Y tế đã ký quyết định bổ sung bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra (Covid-19) vào danh mục các bệnh truyền nhiễm nhóm A. Theo đó, các bệnh truyền nhiễm nhóm A theo Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 gồm những bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm, có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh. Theo tình hình hiện nay, dịch bệnh Covid-19 có mức độ lây lan nhanh, thuộc trường hợp khẩn cấp toàn cầu. Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ đã công bố dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra tại Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 01/02/2020 và hiện chưa có thông báo hết dịch. Hiện nay, ngay cả Chính phủ nhiều quốc gia trên thế giới cũng gặp khó khăn trong việc kiểm soát dịch bệnh. Do đó, việc các thương nhân thông thường có thể dự đoán hay kiểm soát bệnh dịch này là khó khả thi.

Về yếu tố “bên vi phạm không thể tránh được hoặc không thể khắc phục dược mặc dù đã thực hiện mọi biện pháp cần thiết”. Yếu tố này còn tuỳ thuộc vào việc đại dịch Covid-19 ảnh hưởng như thế nào đến hợp đồng mua bán hàng hoá giữa các bên và tác động ra sao, vào thời điểm nào của hợp đồng. Phải tuỳ từng tranh chấp cụ thể để có thể kết luận bên vi phạm có thể tránh được hay khắc phục được hệ quả của đại dịch Covid-19 với hợp đồng của mình hay không.

Có thể nói, vì tính chất diễn biến nhanh và phức tạp của dịch bệnh, dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có một bên là thương nhân Việt Nam. Để kiềm chế sự lây lan nhanh của bệnh dịch này, Chính phủ Việt Nam đã ban hành các biện pháp như hạn chế đi lại, ban bố tình trạng khẩn cấp, cách lý xã hội, cấm xuất khẩu một số mặt hàng thiết yếu. Trong đó, lệnh cấm xuất khẩu và lệnh hạn chế đi lại, dừng các chuyến bay quốc tế được xem là có tác động trực tiếp đến các hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế của các bên.

2.2. Tác động của lệnh cấm xuất khẩu của Chính phủ đến vấn đề miễn trách nhiệm trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Do tác động của dịch Covid-19, để đảm bảo an ninh lương thực trong nước, Tổng cục Hải Quan ban hành Công văn hỏa tốc số 03/TCHQ ngày 24/3/2020 gửi Cục Hải quan các tỉnh, thành phố về vấn đề xuất khẩu gạo. Theo đó, Tổng cục Hải quan yêu cầu Cục Hải quan các tỉnh, thành phố tạm dừng đăng ký, tiếp nhận và thông quan các lô hàng các loại gạo xuất khẩu từ 0 giờ ngày 24/3. Tuy nhiên, các lô hàng gạo xuất khẩu đã đăng ký tờ khai hải quan trước thời điểm trên vẫn được giải quyết theo quy định. Tổng cục Hải quan cũng giao Cục Quản lý rủi ro thiết lập tiêu chí đưa một số mặt hàng gạo các loại thuộc phân nhóm HS: 1006.20, 1006.30 và 1006.40 vào diện cấm xuất khẩu.

Như vậy, theo Công văn này, các hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có đối tượng mua bán là mặt hàng gạo sẽ không thể xuất khẩu trong giai đoạn này. Do đó, các thương nhân Việt Nam là bên có nghĩa vụ giao hàng sẽ không thực hiện được nghĩa vụ của mình. Vậy vấn đề đặt ra là, trong trường hợp này thương nhân Việt Nam với tư cách là bên bán có thể được miễn trách nhiệm hay không? Để trả lời câu hỏi này chúng ta cần bám sát các yêu cầu về miễn trách của Điều 79 CISG, cũng như xem xét án lệ của CISG về quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về vấn đề này như sau.

Ví dụ, vụ Bulgarian Chamber of Commerce and Industry (Coal case)[5]. Trong tranh chấp này, các bên thoả thuận bên bán sẽ vận chuyển một số lượng than nhất định với giá trị cụ thể và bên mua sẽ thanh toán giá trị hợp đồng theo 05 tín dụng thư được mở bởi bên mua. Do hàng hoá vận chuyển đến không đủ số lượng yêu cầu nên bên mua từ chối thanh toán 10% giá trị hợp đồng còn lại. Bên bán cho rằng mình được miễn trách nhiệm theo Điều 79 CISG, vì thực tế là Chính phủ Ukraine đã ban hành nghị định cấm xuất khẩu than và cuộc biểu tình của công nhân mỏ than tại Ukraine đã khiến nghĩa vụ giao hàng không thể thực hiện được. Vấn đề đặt ra là, bên bán có được miễn trách theo khoản 1 Điều 79 CISG hay không? Phán quyết giải quyết tranh chấp này cho rằng, bên bán không được miễn trách nhiệm theo khoản 1 Điều 79 CISG vì lệnh cấm xuất khẩu than của Chính phủ tuy là sự kiện bất ngờ, khách quan nhưng xảy ra trước thời điểm các bên giao kết hợp đồng và vào thời điểm xảy ra các cuộc biểu tình của công nhân mỏ, bên bán đã có mặt tại đó và biết được điều này. Bên bán cũng không thông báo ngay cho bên mua về việc không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Vì các lý do nêu trên, Toà án phán quyết bên bán không được miễn trách nhiệm.

Từ tranh chấp này, có thể thấy, lệnh cấm của các Chính phủ đều được các cơ quan tài phán cho rằng là trở ngại khách quan nằm ngoài sự kiểm soát của bên vi phạm. Tuy nhiên, lệnh cấm của các Chính phủ không đương nhiên cấu thành một sự kiện miễn trách. Trong các tranh chấp đã nêu, toà án tập trung xem xét liệu bên vi phạm có thể biết trước/lường trước được lệnh cấm này hay không. Nếu tại thời điểm giao kết hợp đồng, bên vi phạm đã biết đến/lường trước được lệnh cấm thì không được xem là thoả mãn điều kiện miễn trách. Tương tự CISG, Luật Thương mại năm 2005 của Việt Nam cũng có quy định cụ thể quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là một trong số căn cứ miễn trách nhiệm.

Từ án lệ đã nêu, trở lại với lệnh cấm xuất khẩu gạo của Chính phủ Việt Nam vào tháng 3/2020, vì những diễn tiến bất ngờ của dịch bệnh mà Chính phủ ban hành lệnh cấm xuất khẩu gạo để đảm bảo an ninh lương thực trong nước. Dưới tác động của lệnh cấm này, các thương nhân Việt Nam có thể vi phạm nghĩa vụ giao hàng trong các hợp đồng mua bán hàng hoá có đối tượng mua bán là gạo. Đây là một lệnh cấm có yếu tố đột xuất (bằng công văn hoả tốc và có hiệu lực ngay lập tức) và khó lường trước, do đó, nếu các bên ký hợp đồng vào trước thời điểm này thì gần như không thể biết hoặc dự đoán trước được lệnh cấm sẽ được ban hành. Đồng thời, lệnh cấm này có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam nên bên vi phạm thực sự muốn tìm cách thức khác để giao hàng đúng hạn cũng gần như là bất khả thi. Vì vậy, điều kiện về khả năng khắc phục cũng có thể thấy là không thể thực hiện được.

Vì các yếu tố nêu trên, các thương nhân xuất khẩu gạo sẽ không thể thực hiện được các hợp đồng đã ký với đối tác nước ngoài. Xem xét quy định của Điều 79 CISG và các án lệ của CISG, tác giả cho rằng, sự vi phạm nghĩa vụ giao hàng của thuơng nhân Việt Nam do lệnh cấm xuất khẩu gạo vì Covid-19 có thể được miễn trách nhiệm. Tuy nhiên, các thương nhân cũng cần lưu ý rằng, miễn trách nhiệm chỉ có hiệu lực trong khoảng thời gian xảy ra sự kiện miễn trách nhiệm. Nếu sau đó Chính phủ dỡ bỏ lệnh cấm này, việc thực hiện nghĩa vụ lại phải được khôi phục. Trên thực tế, Thông báo số 172/TB-VPCP ngày 29/4/2020 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về giải pháp điều hành xuất khẩu gạo trong thời gian tới nêu rõ: Từ ngày 01/5/2020 cho phép hoạt động xuất khẩu gạo trở lại bình thường theo quy định tại Nghị định số 107/2018/NĐ-CP ngày 15/8/2018 của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo và thực hiện nghiêm việc chỉ xuất khẩu gạo qua cửa khẩu quốc tế có sự kiểm soát chặt chẽ của các lực lượng chức năng.

2.3. Tác động của lệnh tạm dừng các chuyến bay quốc tế do Covid-19 đến vấn đề miễn trách nhiệm trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Bên cạnh lệnh cấm xuất khẩu của Chính phủ, một sự kiện nữa cũng có khả năng tác động đến khả năng thực hiện hợp đồng là lệnh tạm dừng các chuyến bay quốc tế do ảnh hưởng của Covid-19. Ngày 17/3/2020, Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 102/TB-VPCP về kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về phòng, chống dịch Covid-19. Theo văn bản này, Chính phủ hạn chế các chuyến bay từ vùng dịch đến Việt Nam cũng như các chuyến bay quốc tế ở Việt Nam phải tạm dừng.

Như vậy, đối với các hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có điều khoản giao hàng bằng đường hàng không lúc này sẽ không thể thực hiện được việc giao hàng do các chuyến bay thương mại bị tạm dừng hai chiều. Lệnh tạm dừng đường bay quốc tế là một quyết định của cơ quan nhà nước, bằng văn bản hoả tốc và có hiệu lực thi hành ngay nên các thuơng nhân Việt Nam không thể dự đoán trước hoặc kiểm soát được tình hình. Tuy nhiên, về yếu tố có khả năng khắc phục được hay không để làm căn cứ miễn trách nhiệm, có thể chia thành hai khả năng như sau: Khả năng thứ nhất, các bên có thể thương lượng với nhau về việc thay đổi điều khoản giao hàng bằng đường hàng không thành giao hàng bằng các phương thức vận tải khác ví dụ giao hàng bằng đường biển. Lúc này, được xem như bên vi phạm có khả năng khắc phục được nên sẽ không coi các lệnh cấm này là căn cứ miễn trách nhiệm. Ngược lại, khả năng thứ hai có thể xảy ra là vì tính chất đặc biệt của các mặt hàng hoặc yêu cầu gấp rút về mặt thời gian giao hàng nên không thể chuyển sang giao hàng bằng các phương tiện vận tải khác mà bắt buộc giao bằng đường hàng không. Lúc này, với lệnh dừng bay tất cả đường bay thương mại quốc tế của Chính phủ, bên vi phạm không thể có biện pháp nào để khắc phục tình hình và không thể giao hàng đúng hạn có thể lấy đó làm căn cứ để được miễn trách nhiệm theo Điều 79 CISG.

Dưới tác động của đại dịch Covid-19, nhiều hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có một bên là thương nhân Việt Nam bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Theo đó, các thương nhân Việt Nam nếu không thể hoàn thành nghĩa vụ giao hàng do quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mà cụ thể là lệnh cấm xuất khẩu hàng hoá hoặc lệnh tạm dừng đường bay thương mại quốc tế, có thể căn cứ vào tình hình thực tế của giao dịch để chứng minh mình có thể được miễn trách nhiệm. Muốn chứng minh việc được miễn trách nhiệm trong trường hợp này cần bám sát đầy đủ các yêu cầu của Điều 79 CISG, đặc biệt là yếu tố khả năng dự đoán trước hay khả năng khắc phục được trở ngại. Đồng thời, lưu lý nghĩa vụ thông báo trong thời hạn hợp lý cho bên còn lại của hợp đồng. Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 vẫn đang tiếp tục diễn biến phức tạp cả trên thế giới và ở Việt Nam, để hạn chế tối đa các tranh chấp phát sinh, các bên có thể quy định chi tiết về trường hợp miễn trách do dịch bệnh vào điều khoản miễn trách nhiệm trong hợp đồng. Các bên nên đưa điều khoản này vào hợp đồng, xác định rõ các yếu tố của sự kiện bất khả kháng theo quy định của pháp luật và có thể thỏa thuận các trường hợp cụ thể được xem là bất khả kháng được miễn trừ trách nhiệm. Chẳng hạn, các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng rằng dịch bệnh là sự kiện được miễn trừ trách nhiệm theo Điều 79 CISG. Có thể thiết lập điều khoản miễn trách nhiệm do Covid-19 như sau: “Các sự kiện liên quan đến Covid-19, bao gồm, nhưng không giới hạn, các biện pháp kiểm dịch, bên thứ ba là nhà cung cấp bị đóng cửa, lệnh ngừng kinh doanh hoặc hạn chế đi lại của chính phủ, lệnh cấm xuất nhập khẩu của Chính phủ làm gián đoạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng và nằm ngoài khả năng dự đoán, kiểm soát và khắc phục của các bên sẽ là căn cứ miễn trách nhiệm”. Ghi nhận cụ thể điều khoản miễn trách nhiệm do Covid-19 vào trong hợp đồng sẽ bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên cũng như hạn chế các tranh chấp phát sinh trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế./.

ThS. Phạm Thị Hiền
Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

[1] Nguyễn Hoàng Thái Hy, Ngô Nguyễn Thảo Vy (2020), Đọc hiểu CISG qua thực tiễn giải quyết các tranh chấp tiêu biểu, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr. 211.

[2]Dennis Tallon (1987), Commentary on the International Sales Law Article 79



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: