Thứ sáu 15/05/2026 21:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng trong trường hợp nào?

Cưỡng chế thi hành án dân sự là sự cưỡng bức bắt buộc của cơ quan thi hành án do chấp hành viên quyết định, nhằm buộc người phải thi hành án phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án trong thời hạn do chấp hành viên ấn định hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản.

Cưỡng chế thi hành án dân sự là sự cưỡng bức bắt buộc của cơ quan thi hành án do chấp hành viên quyết định, nhằm buộc người phải thi hành án phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án trong thời hạn do chấp hành viên ấn định hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản.

Như vậy, xác định áp dụng biện pháp cưỡng chế thuộc thẩm quyền của chấp hành viên và khi chấp hành viên áp dụng biện pháp này phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Việc cưỡng chế thi hành án thường được chấp hành viên chuẩn bị lên kế hoạch kỹ càng, mất nhiều thời gian, công sức cho một vụ việc, có những vụ việc cưỡng chế thành công, nhưng có những vụ thất bại do nhiều nguyên nhân (có cả khách quan, chủ quan), những vụ cưỡng chế thất bại (không thành công) có thể dẫn đến tạm dừng việc cưỡng chế. Xung quanh vấn đề “tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án” có nhiều ý kiến khác nhau.

Có ý kiến cho rằng, chấp hành viên không có quyền tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án, đơn giản là vì pháp luật không quy định trường hợp này, chấp hành viên tạm dừng việc cưỡng chế, vì bất kỳ lý do gì đều do lỗi của chấp hành viên và phải chịu trách nhiệm, gánh chịu mọi hậu quả đối với việc làm của mình. Bởi trước khi tổ chức việc cưỡng chế, chấp hành viên đã chuẩn bị kỹ, đầy đủ mọi vấn đề như: Xác minh, họp ban chỉ đạo thi hành án dân sự, xin chỉ đạo chuyên môn của cấp trên (khi cần thiết) và quan trọng nhất chấp hành viên đã có những dự liệu, tình huống phức tạp phát sinh…

Ý kiến khác cho rằng, trong trường hợp cần thiết, chấp hành viên có quyền tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án, pháp luật quy định thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế là của chấp hành viên và chỉ có chấp hành viên có quyền áp dụng và đương nhiên chấp hành viên có quyền tạm dừng vì lý do nào đó nếu xét thấy cần thiết, sự tạm dừng này phù hợp với điều kiện thực tiễn phát sinh. Việc cưỡng chế sẽ được tổ chức lại khi những yếu tố khách quan cản trở không còn, đảm bảo cho việc cưỡng chế thành công.

Pháp luật về thi hành án dân sự ngày càng được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, song trước thực tế phát sinh trong đời sống xã hội thì pháp luật về thi hành án dân sự chưa thể điều chỉnh hết được, cụ thể là vấn đề tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án. Tạm dừng - một thuật ngữ được quy định trong Luật Thi hành án dân sự năm 2008 nhưng chỉ được dùng trong trường hợp để giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại (điểm b, khoản 1 Điều 145), còn những trường hợp khác thì không được áp dụng, song không vì thế mà có những trường hợp chấp hành viên không thể không tạm dừng việc cưỡng chế. Ví dụ thực tế đã xảy ra, chẳng hạn: Khi có quyết định cưỡng chế, kế hoạch cưỡng chế, thông báo cưỡng chế, thì Ủy ban nhân dân huyện có văn bản chỉ đạo xem xét tạm dừng việc cưỡng chế do tình hình chính trị tại địa phương đó có những dấu hiệu bất ổn về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội (bạo loạn, biểu tình, có thể thế lực thù địch lợi dụng kích động nhân dân…) như vậy trong trường hợp này, chấp hành viên không thể không tạm dừng, hoặc trường hợp khác khi tổ chức cưỡng chế, thông thường hội đồng cưỡng chế và những người tham gia cưỡng chế tập kết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế để bàn bạc, thống nhất và hội ý để triển khai, bố trí lực lượng, kiểm tra thành phần, nhưng thiếu thành phần tham gia là đại diện địa phương mà không có lý do, lãnh đạo xã cũng không phân công cán bộ chuyên môn cấp xã tham gia buổi cưỡng chế (đại diện Ủy ban nhân dân xã, cán bộ địa chính xây dựng xã...) theo quy định tại khoản 2 Điều 88 Luật Thi hành án dân sự thì việc kê biên phải lập thành biên bản và đại diện chính quyền địa phương, tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế... phải ký vào biên bản cưỡng chế, như vậy đại diện địa phương, tổ dân phố tham gia chứng kiến việc cưỡng chế là bắt buộc, không được vắng dù bất kỳ lý do gì, bởi theo quy định tại khoản 3 Điều 72 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, thì kế hoạch cưỡng chế phải gửi ngay cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế, do đó, Uỷ ban nhân dân xã phải sắp xếp bố trí thời gian, cử người tham gia, đây là trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp xã trong công tác phối hợp tổ chức cưỡng chế nói riêng và công tác thi hành án nói chung (Điều 175 Luật Thi hành án dân sự). Vì thế, khi Uỷ ban nhân dân cấp xã vắng, thì phải tạm dừng, việc cưỡng chế không thể thực hiện được khi thiếu thành phần đại diện Uỷ ban nhân dân cấp xã, tổ dân phố, thôn làng. Đó là một trong những ví dụ, lý do về việc tạm dừng cưỡng chế của chấp hành viên, đối chiếu với các quy định của pháp luật thi hành án dân sự, những ý kiến khác nhau về việc tạm dừng cưỡng chế thi hành án, thiết nghĩ, khoảng trống pháp lý này cần được cấp có thẩm quyền xem xét để bổ sung hoàn thiện các quy định pháp lý của pháp luật thi hành án dân sự, tránh việc áp dụng không thống nhất, sai quy định và xảy ra những hậu quả pháp lý như các chi phí cưỡng chế mà chấp hành viên đã tạm ứng trước để thực hiện việc cưỡng chế, nay tạm dừng, thì chi phí này ai chịu, bởi trong trường hợp này không phải do lỗi của người phải thi hành án…?

Do đó, chúng tôi cho rằng, vấn đề là chấp hành viên phải xác định và nhận thức đúng việc “tạm dừng”, chấp hành viên không được “tạm dừng” khi xét thấy không cần thiết để tránh gây ra những hậu quả pháp lý khó xử lý, có thể bị khiếu kiện do hành vi, quyết định của mình.

Trịnh Văn Tuyên

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: