Thứ hai 27/07/2026 00:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng trong trường hợp nào?

Cưỡng chế thi hành án dân sự là sự cưỡng bức bắt buộc của cơ quan thi hành án do chấp hành viên quyết định, nhằm buộc người phải thi hành án phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án trong thời hạn do chấp hành viên ấn định hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản.

Cưỡng chế thi hành án dân sự là sự cưỡng bức bắt buộc của cơ quan thi hành án do chấp hành viên quyết định, nhằm buộc người phải thi hành án phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án trong thời hạn do chấp hành viên ấn định hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản.

Như vậy, xác định áp dụng biện pháp cưỡng chế thuộc thẩm quyền của chấp hành viên và khi chấp hành viên áp dụng biện pháp này phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Việc cưỡng chế thi hành án thường được chấp hành viên chuẩn bị lên kế hoạch kỹ càng, mất nhiều thời gian, công sức cho một vụ việc, có những vụ việc cưỡng chế thành công, nhưng có những vụ thất bại do nhiều nguyên nhân (có cả khách quan, chủ quan), những vụ cưỡng chế thất bại (không thành công) có thể dẫn đến tạm dừng việc cưỡng chế. Xung quanh vấn đề “tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án” có nhiều ý kiến khác nhau.

Có ý kiến cho rằng, chấp hành viên không có quyền tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án, đơn giản là vì pháp luật không quy định trường hợp này, chấp hành viên tạm dừng việc cưỡng chế, vì bất kỳ lý do gì đều do lỗi của chấp hành viên và phải chịu trách nhiệm, gánh chịu mọi hậu quả đối với việc làm của mình. Bởi trước khi tổ chức việc cưỡng chế, chấp hành viên đã chuẩn bị kỹ, đầy đủ mọi vấn đề như: Xác minh, họp ban chỉ đạo thi hành án dân sự, xin chỉ đạo chuyên môn của cấp trên (khi cần thiết) và quan trọng nhất chấp hành viên đã có những dự liệu, tình huống phức tạp phát sinh…

Ý kiến khác cho rằng, trong trường hợp cần thiết, chấp hành viên có quyền tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án, pháp luật quy định thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế là của chấp hành viên và chỉ có chấp hành viên có quyền áp dụng và đương nhiên chấp hành viên có quyền tạm dừng vì lý do nào đó nếu xét thấy cần thiết, sự tạm dừng này phù hợp với điều kiện thực tiễn phát sinh. Việc cưỡng chế sẽ được tổ chức lại khi những yếu tố khách quan cản trở không còn, đảm bảo cho việc cưỡng chế thành công.

Pháp luật về thi hành án dân sự ngày càng được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, song trước thực tế phát sinh trong đời sống xã hội thì pháp luật về thi hành án dân sự chưa thể điều chỉnh hết được, cụ thể là vấn đề tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án. Tạm dừng - một thuật ngữ được quy định trong Luật Thi hành án dân sự năm 2008 nhưng chỉ được dùng trong trường hợp để giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại (điểm b, khoản 1 Điều 145), còn những trường hợp khác thì không được áp dụng, song không vì thế mà có những trường hợp chấp hành viên không thể không tạm dừng việc cưỡng chế. Ví dụ thực tế đã xảy ra, chẳng hạn: Khi có quyết định cưỡng chế, kế hoạch cưỡng chế, thông báo cưỡng chế, thì Ủy ban nhân dân huyện có văn bản chỉ đạo xem xét tạm dừng việc cưỡng chế do tình hình chính trị tại địa phương đó có những dấu hiệu bất ổn về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội (bạo loạn, biểu tình, có thể thế lực thù địch lợi dụng kích động nhân dân…) như vậy trong trường hợp này, chấp hành viên không thể không tạm dừng, hoặc trường hợp khác khi tổ chức cưỡng chế, thông thường hội đồng cưỡng chế và những người tham gia cưỡng chế tập kết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế để bàn bạc, thống nhất và hội ý để triển khai, bố trí lực lượng, kiểm tra thành phần, nhưng thiếu thành phần tham gia là đại diện địa phương mà không có lý do, lãnh đạo xã cũng không phân công cán bộ chuyên môn cấp xã tham gia buổi cưỡng chế (đại diện Ủy ban nhân dân xã, cán bộ địa chính xây dựng xã...) theo quy định tại khoản 2 Điều 88 Luật Thi hành án dân sự thì việc kê biên phải lập thành biên bản và đại diện chính quyền địa phương, tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế... phải ký vào biên bản cưỡng chế, như vậy đại diện địa phương, tổ dân phố tham gia chứng kiến việc cưỡng chế là bắt buộc, không được vắng dù bất kỳ lý do gì, bởi theo quy định tại khoản 3 Điều 72 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, thì kế hoạch cưỡng chế phải gửi ngay cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế, do đó, Uỷ ban nhân dân xã phải sắp xếp bố trí thời gian, cử người tham gia, đây là trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp xã trong công tác phối hợp tổ chức cưỡng chế nói riêng và công tác thi hành án nói chung (Điều 175 Luật Thi hành án dân sự). Vì thế, khi Uỷ ban nhân dân cấp xã vắng, thì phải tạm dừng, việc cưỡng chế không thể thực hiện được khi thiếu thành phần đại diện Uỷ ban nhân dân cấp xã, tổ dân phố, thôn làng. Đó là một trong những ví dụ, lý do về việc tạm dừng cưỡng chế của chấp hành viên, đối chiếu với các quy định của pháp luật thi hành án dân sự, những ý kiến khác nhau về việc tạm dừng cưỡng chế thi hành án, thiết nghĩ, khoảng trống pháp lý này cần được cấp có thẩm quyền xem xét để bổ sung hoàn thiện các quy định pháp lý của pháp luật thi hành án dân sự, tránh việc áp dụng không thống nhất, sai quy định và xảy ra những hậu quả pháp lý như các chi phí cưỡng chế mà chấp hành viên đã tạm ứng trước để thực hiện việc cưỡng chế, nay tạm dừng, thì chi phí này ai chịu, bởi trong trường hợp này không phải do lỗi của người phải thi hành án…?

Do đó, chúng tôi cho rằng, vấn đề là chấp hành viên phải xác định và nhận thức đúng việc “tạm dừng”, chấp hành viên không được “tạm dừng” khi xét thấy không cần thiết để tránh gây ra những hậu quả pháp lý khó xử lý, có thể bị khiếu kiện do hành vi, quyết định của mình.

Trịnh Văn Tuyên

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.

Theo dõi chúng tôi trên: