Thứ tư 04/03/2026 03:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tăng cường quản lý nhà nước đối với đội ngũ chấp hành viên trong thi hành án dân sự ở Việt Nam

Trong hoạt động quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay, thi hành án dân sự là lĩnh vực được xây dựng, hoàn thiện và tăng cường theo xu thế chung của thế giới về quản lý nhà nước đa ngành và liên ngành. Trong đó, chấp hành viên được coi là trung tâm, là người trực tiếp tổ chức thi hành phần dân sự trong các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, làm cho nó được thi hành trên thực tế, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật.

Vì vậy, đội ngũ chấp hành viên ngày càng được củng cố và tăng cường về số lượng, chú trọng về chất lượng, đó là không ngừng giáo dục về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Để hoạt động thi hành án dân sự theo tinh thần cải cách tư pháp ngày càng hoàn thiện, phát huy được đúng vai trò, vị trí của hoạt động thi hành án dân sự trong đời sống xã hội, đòi hỏi phải có những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động thi hành án dân sự, trong đó việc xây dựng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự là một yêu cầu khách quan, có ý nghĩa quyết định trong thi hành án dân sự. Bài viết này tập trung phân tích những đặc thù của quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với đội ngũ chấp hành viên trong thi hành án dân sự giai đoạn 2011- 2016 và đưa ra một số giải pháp tăng cường quản lý đối với đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự, góp phần bảo đảm cho hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

1. Quản lý nhà nước đối với hoạt động thi hành án dân sự và chấp hành viên thi hành án dân sự

Quản lý nhà nước (QLNN) trong lĩnh vực thi hành án dân sự (THADS) là một bộ phận của QLNN, vì vậy nó có đầy đủ các đặc điểm của hoạt động QLNN nói chung. Đồng thời, QLNN trong lĩnh vực THADS là một lĩnh vực cụ thể, mang tính chất hành chính - tư pháp nên có các đặc thù như:

Thứ nhất, chủ thể tham gia QLNN đối với hoạt động THADS rất đa dạng, không chỉ là các cơ quan nhà nước, mà còn bao gồm cả các tổ chức, cá nhân có liên quan. Chính vì vậy, trong hoạt động QLNN đối với hoạt động THADS, các cá nhân, tổ chức đều có quyền đưa ra góp ý, khuyến nghị và được yêu cầu cơ quan nhà nước tiếp thu hoặc giải trình tiếp thu ý kiến của mình.

Thứ hai, hoạt động QLNN đối với hoạt động THADS là hoạt động QLNN có đối tượng quản lý đặc biệt. Bởi lẽ, cơ sở làm phát sinh hoạt động QLNN trong lĩnh vực THADS là các văn bản áp dụng pháp luật (bản án, quyết định), văn bản liên quan đến hoạt động THADS (quyết định THADS, quyết định hoãn THADS...) của hệ thống các cơ quan thi hành án có thẩm quyền. Hoạt động QLNN trong lĩnh vực THADS do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành trên khuôn khổ những quy định của pháp luật về THADS nhằm tác động, điều chỉnh có định hướng đến hành vi của đối tượng quản lý (đối tượng bị thi hành án) nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra trong lĩnh vực THADS là bảo đảm cho các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được thi hành chứ không phải là ra các quyết định áp dụng pháp luật hoặc quyết định có tính điều hành, nét đặc trưng của các cơ quan hành chính nhà nước. Mặt khác, hoạt động quản lý của cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực THADS có quan hệ chặt chẽ với cơ quan tư pháp (Tòa án). Đối tượng QLNN đối với hoạt động THADS có tính chất đặc biệt quan trọng, quan hệ trực tiếp đến sự ổn định chính trị, xã hội, an ninh.

Thứ ba, QLNN đối với hoạt động THADS là hoạt động có mục đích. Mục tiêu cơ bản của QLNN trong lĩnh vực THADS đó là đảm bảo cho mọi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đều phải được thi hành kịp thời, đầy đủ, nghiêm minh và đúng pháp luật, phát huy hiệu lực xét xử của Tòa án, giáo dục nhân dân ý thức tôn trọng pháp luật, phục vụ đắc lực nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, QLNN đối với hoạt động THADS đòi hỏi phải tuân thủ trình tự, thủ tục chặt chẽ; tính chất quan trọng của khách thể QLNN trong lĩnh vực THADS đòi hỏi chủ thể quản lý - cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền phải có năng lực quản lý cao, bảo đảm đầy đủ các yếu tố chính trị, tư tưởng, pháp lý, vật chất, lực lượng... cho hoạt động QLNN trong lĩnh vực này.

Thứ năm, phương thức QLNN đối với hoạt động THADS có tính linh hoạt, đa chiều.

Thứ sáu, QLNN đối với hoạt động THADS được xây dựng, hoàn thiện và tăng cường theo xu thế chung của thế giới về QLNN đa ngành và liên ngành.

Điều này đòi hỏi phải xem xét việc quản lý nhà nước đối với hoạt động THADS trong mối tương quan với các hoạt động thi hành án hình sự, hoạt động của luật sư, công chứng và các hoạt động dân sự liên quan đến tài sản và phi tài sản của các chủ thể được thi hành án, phải thi hành án và những người có liên quan. Trước xu thế đó, QLNN đối với hoạt động THADS không thể dừng lại ở nội dung thi hành bản án, quyết định dân sự mà phải bao quát toàn bộ việc thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án và phán quyết, quyết định của trọng tài thương mại.

Thứ bảy, QLNN đối với hoạt động THADS gồm quản lý về tổ chức và quản lý về nghiệp vụ thi hành án, nhằm đảm bảo THADS là hoạt động đưa pháp luật THADS vào đời sống thực tiễn, khắc phục những khó khăn, phức tạp của quá trình quản lý, thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế - xã hội phát triển.

Như vậy, có thể nhận thấy, tính chất, mức độ, nội dung của đối tượng bị quản lý đối với hoạt động THADS rất đa dạng, phức tạp. Vì vậy, để QLNN trong từng nội dung THADS có hiệu quả, cần phải quán triệt các nguyên tắc của pháp luật THADS, phải kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố pháp luật và yếu tố chính trị; giữa pháp luật và đạo đức; giữa thẩm quyền của các cơ quan chức năng và sự tham gia của toàn xã hội... Đây là những cơ sở để xác định mô hình chuẩn cho tổ chức bộ máy quản lý, tổ chức cơ quan THADS, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho công tác quản lý và tổ chức THADS, xây dựng cơ chế quản lý thích hợp với từng loại đối tượng, huy động các công cụ quản lý để nâng cao hiệu quả quản lý...

2. Thực trạng quản lý nhà nước đối với đội ngũ chấp hành viên trong thi hành án dân sự giai đoạn 2011 - 2016

Hoạt động QLNN đối với đội ngũ chấp hành viên (CHV) trong THADS đã được Bộ Tư pháp triển khai tích cực, đồng bộ các giải pháp nhằm tiếp tục kiện toàn một bước về tổ chức bộ máy các cơ quan THADS, đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ THADS trong sạch, vững mạnh, đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng. Hoạt động quy hoạch để tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý thường xuyên được rà soát, bổ sung. Trong đó chú trọng tới hoạt động xây dựng và triển khai kế hoạch luân chuyển cán bộ và kế hoạch chuyển đổi vị trí công tác trong nội bộ các cơ quan THADS. Việc kiện toàn lãnh đạo các Cục, Chi cục THADS, nhất là các địa bàn còn hạn chế, yếu kém hoặc những đơn vị mới thành lập được tập trung giải quyết có chất lượng. Các hình thức và biện pháp tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính được triển khai rộng khắp nhằm mục đích kiên quyết thay thế cán bộ quản lý có vi phạm về phẩm chất đạo đức hoặc hạn chế về năng lực, trình độ nghiệp vụ. Công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức được đổi mới căn bản, có trọng tâm, trọng điểm. Mặt khác, việc tăng cường phòng, chống tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động THADS được chú trọng. Trong đó, các hành vi, biểu hiện tham nhũng luôn được nhận diện để có được các biện pháp phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng có hiệu quả. Hoạt động tự kiểm tra, kiểm tra và thanh tra, kịp thời phát hiện và kiên quyết xử lý các trường hợp sai phạm được tiến hành thường xuyên.

Bên cạnh kết quả đạt được, thời gian qua, hoạt động QLNN đối với đội ngũ CHV THADS còn bộc lộ những khiếm khuyết như:

Một là, công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành ở một số đơn vị, địa phương còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiều việc còn chậm, kể cả ở Tổng cục, nhất là các Cục và Chi cục, mặc dù ngay sau khi kết thúc năm công tác, Bộ Tư pháp đã có văn bản đôn đốc các cơ quan THADS chủ động triển khai công tác từ những tháng đầu năm nhưng vẫn có lúc có nơi chưa sâu sát, chưa quyết liệt triển khai công tác, thậm chí qua kiểm tra phát hiện nhiều nơi có dấu hiệu buông lỏng quản lý và đã phải xử lý kỷ luật cả Lãnh đạo Cục, Chi cục...

Hai là, công tác tổ chức cán bộ chưa thực sự có hiệu quả. Chất lượng tham mưu ở cả cấp Tổng cục và cấp Cục còn hạn chế; kỷ cương, kỷ luật tại một số đơn vị còn chưa nghiêm; số lượng công chức vi phạm bị xử lý kỷ luật còn nhiều; vẫn còn có nơi để xảy ra việc nhũng nhiễu, gây phiền hà cho các bên đương sự, gây bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng tới hình ảnh cán bộ, công chức cũng như hình ảnh của các cơ quan THADS.

Ba là, trình độ, năng lực của một bộ phận cán bộ, công chức, kể cả cán bộ lãnh đạo quản lý còn chưa đồng đều, chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ, thậm chí là còn yếu kém trong chỉ đạo, điều hành; đội ngũ công chức ngành thi hành án còn thiếu, đặc biệt là số lượng CHV, thẩm tra viên thi hành án chưa đủ để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; số cán bộ, công chức trong ngành vi phạm, bị xử lý kỷ luật, nhất là các trường hợp vi phạm, bị khởi tố hình sự có phần gia tăng.

3. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay

Cần quán triệt tinh thần của Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức xác định: Hết sức chú trọng và làm tốt công tác cán bộ, quan tâm xây dựng, kiện toàn đội ngũ công chức bảo đảm cả về số lượng và chất lượng, chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm của đội ngũ công chức thi hành án, nhất là đối với đội ngũ lãnh đạo quản lý và chức danh pháp lý; thực hiện nghiêm túc chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp, chuẩn mực đạo đức CHV gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4; đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; tăng cường kỷ luật, kỷ cương; kiên quyết xử lý nghiêm đối với những trường hợp sai phạm để làm trong sạch bộ máy, đẩy mạnh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, phấn đấu xây dựng các cơ quan THADS trong sạch, vững mạnh, toàn diện; đồng thời, quan tâm xây dựng đội ngũ công chức trẻ để tạo nguồn bổ nhiệm thế hệ lãnh đạo kế cận bảo đảm sự phát triển bền vững.

Về đội ngũ CHV, thực tế cho thấy, trong thời gian qua, các cơ quan chức năng đề cập khá nhiều đến tình trạng CHV yếu (trong đó chủ yếu là CHV còn yếu về chuyên môn nghiệp vụ). Điều này đúng nhưng chưa đủ. Qua nghiên cứu cho thấy, có rất nhiều yếu tố hội tụ để khẳng định chất lượng đội ngũ CHV, trong đó không chỉ có yếu tố chuyên môn nghiệp vụ mà còn bao gồm cả yếu tố tinh thần và vị trí xã hội. Thực tế cho thấy, có trường hợp CHV tuy nắm vững chuyên môn nghiệp vụ nhưng không dám quyết định tổ chức cưỡng chế thi hành án. Trong trường hợp này, có thể xem là CHV yếu về bản lĩnh kinh nghiệm nghề nghiệp. Ngược lại, có trường hợp do non kém về nghiệp vụ nên đã thi hành án trái pháp luật. Hay có trường hợp, tuy nội dung vụ việc khá rõ ràng và thuộc thẩm quyền quyết định của mình nhưng do sợ trách nhiệm hoặc vì một lý do nào đó nên đã tìm kiếm sự hỗ trợ, đồng thuận từ phía các cơ quan cấp trên hoặc các cơ quan, ban, ngành có liên quan.

Tinh thần là liều thuốc vô giá đối với mọi hoạt động của con người nói chung và đối với CHV nói riêng. Tinh thần tốt chắc chắn sẽ tạo hưng phấn, đồng nghĩa với hiệu quả công việc cao. Tuy nhiên, với cơ chế hiện nay, tạo yếu tố tinh thần cho CHV vẫn chưa được như mong muốn. THADS là hoạt động vô cùng phức tạp, dễ sai phạm và khó khắc phục. Trong khi đó, cơ chế bảo đảm cho CHV hầu như không có, thiệt hại trong quá trình thi hành án có thể do nhiều cơ quan, cá nhân cùng gây ra, nhưng việc khắc phục hậu quả lại không rõ ràng. Cuối cùng, đương sự chỉ biết “kêu” CHV. Hậu quả, tâm lý “nơm nớp” sợ sai có lẽ luôn thường trực trong hành động của CHV. Chưa kể, yếu tố nguy hiểm do chính quá trình THADS đưa lại cũng rất khó lường. Thế nhưng hầu như chưa có bất kỳ một cơ chế nào để bảo vệ tính mạng, thân thể, danh dự của chính CHV và thân nhân của họ. Ngoài ra, cơ chế bổ nhiệm lại CHV, bên cạnh mặt tích cực hiện cũng đang nảy sinh một số vấn đề cần phải xem xét kỹ, nhất là thời hạn bổ nhiệm lại chỉ 05 năm một lần. Vì vậy, ngoài quy định miễn trừ trách nhiệm bồi thường cho CHV khi người đó không có lỗi thì nên chăng bỏ cơ chế bổ nhiệm lại hoặc kéo dài thêm thời hạn bổ nhiệm.

Về xã hội, công việc của CHV phức tạp, nguy hiểm nhưng vị thế trong xã hội của CHV vẫn chưa thật tương xứng. Nếu nhìn nhận về pháp lý, có vẻ như CHV rất nhiều quyền, nhưng đáng tiếc điều kiện để bảo đảm cho quyền đó được thực hiện hầu như không có. Ví dụ như, cơ sở quan trọng nhất để xác định người phải thi hành án có điều kiện hay không là qua kiểm tra, khám xét nhưng quyền này thì CHV không có. Chưa kể chế tài xử lý đối với trường hợp không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ quyết định của CHV vẫn chưa nghiêm. Vì vậy, muốn khắc phục được tình trạng CHV yếu thì phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trong đó có cả giải pháp về chuyên môn nghiệp vụ, giải pháp về tinh thần và xã hội.

Bên cạnh đó, cần phải xây dựng các cơ quan THADS có tổ chức phù hợp, trong sạch, vững mạnh, kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm cho hiệu lực và hiệu quả QLNN. Cụ thể:

Thứ nhất, trên cơ sở số liệu thực tiễn các bản án và vụ việc phải THADS cần phải có biện pháp hoàn thiện bộ máy theo hướng không phải cấp quận, huyện nào cũng có cơ quan THADS (chi cục) mà cần phải có các biện pháp sát nhập hai hoặc ba cơ quan THADS (chi cục) để bảo đảm bộ máy THADS không bị cồng kềnh, vừa tiết kiệm cơ sở vật chất cho địa phương, vừa bảo đảm không lãng phí nhân lực, đồng thời đảm bảo cho việc QLNN dễ dàng và bớt chồng chéo. Hiện nay, bộ máy cơ quan THADS là 63 Cục và 710 Chi cục đã tạo nên một bộ máy đồ sộ, gây khó khăn cho việc QLNN đối với hoạt động THADS. So với năm 2011, số lượng chi cục đã nhiều hơn 15 chi cục, lượng biên chế cũng tăng mạnh nên đòi hỏi phải tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan quản lý và cơ quan trực tiếp thi hành.

Thứ hai, kiện toàn bộ máy cần đi đôi với đẩy mạnh công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành ở một số đơn vị và địa phương để bảo đảm đáp ứng các yêu cầu công việc. Do vậy, bộ máy cần thống nhất trong tổ chức, thống nhất trong điều hành và triển khai các hoạt động QLNN. Việc kiện toàn bộ máy phải được tiến hành quyết liệt và theo quan điểm hiệu quả.

ThS. Trương Công Lý
Tòa án nhân dân Tối cao



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: