Thứ bảy 26/09/2026 17:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết tập trung phân tích quy định của pháp luật về thẩm giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân.

1. Đặt vấn đề

Việc trao thẩm quyền cho Tòa án nhân dân giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã là phù hợp với lý luận chung về nhà nước và pháp luật. Tuy nhiên, một số quy định của pháp luật về vấn đề này còn bất cập như việc trao thẩm quyền cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã chưa thực sự phù hợp với thực tiễn xét xử; việc xác định thẩm quyền của Tòa án theo vị trí bất động sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán cũng còn khó khăn trong việc áp dụng trên thực tế... Do đó, trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích, đánh giá những bất cập trong quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân để từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

2. Khái quát về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong giải quyết thủ tục phá sản

Phá sản là vấn đề tất yếu của nền kinh tế thị trường nhằm loại bỏ những chủ thể sản xuất, kinh doanh yếu kém ra khỏi thị trường. Bởi vì, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính các chủ thể phải tự tìm kiếm các giải pháp nâng cao năng lực quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nếu như “sức khỏe” của chủ thể sản xuất, kinh doanh yếu kém thì thị trường sẽ đào thải chủ thể sản xuất, kinh doanh đó. Ở Việt Nam, trước năm 1986 (trước thời kỳ đổi mới), với nền kinh tế quan liêu bao cấp thì không có vấn đề phá sản nên khái niệm phá sản hầu như không xuất hiện. Sau khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước đã lường trước được trong thị trường sẽ có những chủ thể kinh doanh không còn đủ năng lực cạnh tranh và bị phá sản. Do đó, Nhà nước đã ban hành những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ phát sinh từ phá sản. Văn bản quy phạm pháp luật có tính chuyên biệt đầu tiên về phá sản ở Việt Nam là Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993. Luật này bước đầu tạo lập hành lang pháp lý nhằm giải quyết vấn đề phá sản doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoàn cảnh ra đời của Luật này là khi nước ta bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường nên tình trạng phá sản chưa xảy ra nhiều và do đó kinh nghiệm trong giải quyết phá sản còn ít[1]. Để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Quốc hội đã ban hành Luật Phá sản năm 2004 có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2004. So với Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, nhiều quy định của Luật Phá sản năm 2004 được mở rộng và cụ thể hơn. Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều quan hệ kinh doanh, thương mại thay đổi nhanh chóng, việc ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất, kinh doanh cũng có thể làm cho quá trình phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã được đẩy nhanh hơn. Do đó, nhiều quy định của Luật Phá sản năm 2004 không còn phù hợp nên Luật này được thay thế bởi Luật Phá sản năm 2014.

Trải qua quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về phá sản thì khái niệm phá sản đã ngày càng hoàn thiện hơn. Khoản 2 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014 quy định: “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”. Theo Luật Phá sản năm 2014: “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán” (khoản 1 Điều 4). Như vậy, điều kiện cần và đủ để một doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản đó là: Về nội dung, doanh nghiệp, hợp tác xã đó mất khả năng thanh toán; về hình thức, doanh nghiệp, hợp tác xã đó bị Tòa án tuyên bố phá sản. Bởi vì, về bản chất, phá sản là cuộc đòi nợ tập thể và là một thủ tục giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán[2] nên Tòa án nhân dân với “nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” (khoản 1 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014) là cơ quan phù hợp nhất thực hiện việc giải quyết phá sản. Do thủ tục phá sản là một thủ tục pháp lý có tính chất phức tạp nên Tòa án phải tham gia sâu vào các giai đoạn giải quyết thủ tục phá sản, từ khi ra quyết định mở thủ tục phá sản đến giám sát hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, đánh giá và kiểm soát việc lập và thực hiện phương án phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh, xử lý tài sản, ra quyết định phá sản, phân chia tài sản... Chính vì vậy, cơ chế tố tụng phá sản phải tính đến các yếu tố đặc thù này hay nói cách khác, tố tụng phá sản là một thủ tục tư pháp đặc biệt.

3. Thực trạng pháp luật về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong giải quyết thủ tục phá sản

Hiện nay, cả Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện đều có thẩm quyền giải quyết phá sản. Thông thường, những vụ phá sản có tính chất phức tạp hơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Điều đó phù hợp với tổ chức bộ máy nhà nước của Việt Nam hiện nay. Theo quy định tại Điều 8 Luật Phá sản năm 2014, thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án được quy định theo phương pháp vừa liệt kê, vừa loại trừ. Cụ thể:

Thứ nhất, thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh:

- Thẩm quyền theo lãnh thổ: Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã tại tỉnh đó.

Trước đây, Luật Công ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Hợp tác xã năm 1996, Luật Hợp tác xã năm 2003 đều sử dụng cụm từ “đăng ký kinh doanh”. Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Hợp tác xã năm 2012, Luật Hợp tác xã năm 2023 đã dùng cụm từ “đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hợp tác xã”. Quá trình chuyển đổi từ sử dụng thuật ngữ “đăng ký kinh doanh” sang “đăng ký doanh nghiệp” đã thể hiện sự thay đổi lớn trong tư duy lập pháp nước ta. Thuật ngữ “đăng ký doanh nghiệp” và “đăng ký hợp tác xã” có phạm vi rộng hơn so với thuật ngữ “đăng ký kinh doanh”. “Đăng ký kinh doanh” là sự ghi nhận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về mặt pháp lý sự ra đời của chủ thể kinh doanh. Còn “đăng ký doanh nghiệp” và “đăng ký hợp tác xã” là bao gồm cả đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, đăng ký thay đổi và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác. Do đó, Luật Phá sản năm 2014 dùng các thuật ngữ “đăng ký kinh doanh” và “đăng ký doanh nghiệp”, “đăng ký hợp tác xã” là phù hợp với thực tiễn. Bởi vì, nếu doanh nghiệp, hợp tác xã nào được thành lập theo quy định của pháp luật trước kia thì thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh; nếu doanh nghiệp, hợp tác xã nào thành lập theo quy định của pháp luật sau này thì thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hợp tác xã.

Tuy nhiên, quy định xác định thẩm quyền giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã của Tòa án nhân dân theo phạm vi lãnh thổ là “tỉnh nơi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã” còn bất cập. Bởi vì, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã ở thời điểm trước khi hoạt động tại nơi doanh nghiệp, hợp tác xã đặt trụ sở chính. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, có nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã thay đổi địa chỉ trụ sở chính. Vậy, trong trường hợp này thì thẩm quyền vẫn thuộc về Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã. Trong khi đó, Tòa án nơi doanh nghiệp, hợp tác xã bị mất khả năng thanh toán có trụ sở chính ở thời điểm hiện tại mới là cơ quan dễ dàng có được những thông tin về doanh nghiệp, hợp tác xã. Hơn nữa, việc đặt ra yêu cầu Tòa án nơi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã cũng gây ra khó khăn nhất định cho chính Tòa án đó. Bởi vì, có thể Tòa án đó phải đi thu thập những chứng cứ ở một địa bàn rất xa về mặt địa lý nên tốn kém về chi phí, công sức, thời gian.

- Thẩm quyền theo vụ việc: Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết phá sản thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Vụ việc phá sản có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài. Nội dung này được hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP ngày 26/8/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản. Theo đó, “tài sản ở nước ngoài là tài sản được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự ở ngoài lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản”.

Còn đối với người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài gồm: (i) Cá nhân không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Thiết nghĩ, việc dùng cụm từ “không có mặt” chưa thực sự phù hợp về kỹ thuật lập pháp, bởi vì, hiện nay để chỉ một cá nhân sinh sống tại không gian nào đó thì pháp luật sử dụng cụm từ “không lưu trú” hoặc “không cư trú”[3]; (ii) Pháp nhân không có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc không có người đại diện theo quy định của pháp luật tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Trong số người tham gia thủ tục phá sản gồm cả doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán[4]. Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán “không có trụ sở tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản” thì đó không phải là doanh nghiệp Việt Nam, hợp tác xã Việt Nam[5] và Tòa án Việt Nam không có thẩm quyền giải quyết phá sản. Tuy nhiên, còn nhiều quan điểm khác nhau về cụm từ “người đại diện theo quy định của pháp luật”, bởi vì, “người đại diện theo quy định của pháp luật” bao gồm “người đại diện theo pháp luật” và “người đại diện theo ủy quyền” (Điều 137, Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015). Vì vậy, trường hợp người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán không ở tại Việt Nam mà chỉ có người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán ở tại Việt Nam thì rõ ràng không thuộc trường hợp “không có người đại diện theo quy định của pháp luật tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản”. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, người đại diện theo ủy quyền cho doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán không thể am hiểu về doanh nghiệp, hợp tác xã như người đại diện theo pháp luật. Khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán không có người đại diện theo pháp luật ở Việt Nam thì việc giải quyết phá sản trở nên khó khăn hơn.

+ Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có chi nhánh, văn phòng đại diện ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau. Quy định này chưa phù hợp với Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Vì Luật này quy định, đơn vị hành chính cấp huyện gồm: Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (khoản 2 Điều 2). Do đó, quy định trong Luật Phá sản năm 2014 chưa tính đến “thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương” trong khi nước ta đã có thành phố Thủ Đức trực thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau. Quy định này có điểm bất cập tương tự như đã phân tích ở trên khi liệt kê các đơn vị cấp huyện bị thiếu trường hợp “thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương”. Ngoài ra, quy định này còn gây khó khăn cho việc xác định thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án. Bởi vì, người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà là một số chủ thể như chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần, người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở... thì rất khó để biết doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau hay không. Ngoài ra, tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng, giả sử doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán đang tranh chấp về một bất động sản, thì người có quyền nộp đơn cũng khó biết được tình hình bên nợ có đang tranh chấp liên quan đến bất động sản ở nhiều tỉnh thành khác nhau hay không, ngay cả khi biết có tranh chấp thì cũng không thể xác định được khi nào bản án có hiệu lực. Trong khi đó, việc xác định thẩm quyền Tòa án để nộp đơn lại phụ thuộc vào kết quả của bản án xác định bất động sản đang tranh chấp thuộc về ai[6].

+ Vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh đưa lên để giải quyết do tính chất phức tạp của vụ việc. Vụ việc phá sản có tính chất phức tạp là vụ việc không thuộc một trong các trường hợp nêu trên (được quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều 8 Luật Phá sản năm 2014) và doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản thuộc một trong các trường hợp sau đây: (i) Có từ trên 300 (ba trăm) lao động trở lên hoặc có vốn điều lệ từ trên 100.000.000.000 (một trăm tỷ đồng) trở lên. (ii) Là tổ chức tín dụng; doanh nghiệp, hợp tác xã cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích; doanh nghiệp quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật. (iii) Là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. (iv) Có khoản nợ được Nhà nước bảo đảm hoặc có liên quan đến việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, văn bản thỏa thuận về đầu tư với cơ quan, tổ chức nước ngoài. (v) Có giao dịch bị yêu cầu tuyên bố là vô hiệu theo quy định tại Điều 59 Luật Phá sản năm 2014.

Thứ hai, thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện:

Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính tại huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đó và không thuộc trường hợp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Vấn đề xác định thẩm quyền giải quyết phá sản theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp huyện là nơi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có trụ sở chính phù hợp hơn so với cách xác định thẩm quyền giải quyết phá sản theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Tuy nhiên, trong quy định này cũng vấn thiếu đơn vị hành chính là “thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương” tương tự như vấn đề đã phân tích ở trên.

Ngoài ra, Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP ngày 26/8/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản (Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP) xác định cách giải quyết khi có sự thay đổi điều kiện trong quá trình Tòa án nhân dân cấp huyện đã thụ lý vụ việc phá sản đúng thẩm quyền. Theo đó, khoản 4 Điều 3 Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP quy định: “Trường hợp Tòa án nhân dân cấp huyện đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đúng thẩm quyền nhưng trong quá trình giải quyết phá sản có sự thay đổi nơi cư trú, địa chỉ của người tham gia thủ tục phá sản hoặc xuất hiện tình tiết mới làm cho vụ việc phá sản thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật Phá sản và hướng dẫn tại khoản 1 Điều này thì Tòa án nhân dân cấp huyện vẫn tiếp tục giải quyết”. Tuy nhiên, trường hợp ngược lại, Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đúng thẩm quyền nhưng trong quá trình giải quyết phá sản có sự thay đổi nơi cư trú, địa chỉ của người tham gia thủ tục phá sản hoặc xuất hiện tình tiết mới làm cho vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện sẽ xử lý như thế nào thì Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP còn đang bỏ ngỏ.

4. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong giải quyết thủ tục phá sản

Nhằm khắc phục bất cập trong quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân và hoàn thiện pháp luật về vấn đề này, tác giả đưa ra một số kiến nghị cụ thể như sau:

Một là, pháp luật cần trao thẩm quyền giải quyết phá sản cho Tòa án nhân dân nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính. Quy định này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án trong việc giải quyết thủ tục phá sản vì việc thu thập thông tin, số liệu về doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ đơn giản hơn. Bởi vì, rõ ràng những thông tin, số liệu của doanh nghiệp, hợp tác xã chủ yếu lưu trữ tại nơi doanh nghiệp, hợp tác xã đó đặt trụ sở chính.

Hai là, sửa đổi quy định về “người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài”. Cụ thể, đối với quy định về người tham gia thủ tục phá sản là cá nhân thì cần sử dụng cụm từ “không lưu trú”, “không cư trú” thay vì sử dụng cụm từ “không có mặt” như hiện nay. Vì yêu cầu trong ngôn ngữ trong các văn bản quy phạm pháp luật là phải đảm bảo tính một nghĩa, khoa học, chính xác, không sử dụng ngôn ngữ mang nghĩa lóng, nghĩa bóng.

Ngoài ra, đối với quy định về người tham gia thủ tục phá sản là pháp nhân cần sửa đổi theo hướng tách trường hợp của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và đặt ra yêu cầu cao hơn. Theo đó, nếu người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán không ở Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì đó là trường hợp “người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài”.

Ba là, bổ sung đơn vị “thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương” vào các quy định có liên quan đến xác định cấp đơn vị hành chính là cấp huyện để tạo nên sự thống nhất giữa Luật Phá sản và Luật Tổ chức chính quyền địa phương, đồng thời phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam đã có thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương.

Bốn là, bổ sung trường hợp Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đúng thẩm quyền nhưng trong quá trình giải quyết phá sản có sự thay đổi nơi cư trú, địa chỉ của người tham gia thủ tục phá sản hoặc xuất hiện tình tiết mới làm cho vụ việc phá sản không thuộc trường hợp thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh vẫn tiếp tục giải quyết.

Năm là, đối với trường hợp liên quan đến doanh nghiệp, hợp tác xã có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương thì cần quy định cụ thể hơn nhằm dễ dàng thực hiện trong thực tiễn. Trường hợp người có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì buộc phải có các tài liệu để khẳng định doanh nghiệp, hợp tác xã có hay không có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương. Trường hợp người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì không buộc phải có tài liệu như trên. Khi họ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà họ có tài liệu đến đâu thì xác định thẩm quyền của Tòa án nhân dân đến đó.

5. Kết luận

Bài viết đã phân tích những quy định của pháp luật trong xác định thẩm quyền của Tòa án nhân dân về giải quyết phá sản. Theo đó, việc trao thẩm quyền giải quyết phá sản cho cả Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện là phù hợp với chức năng của cơ quan này. Tuy nhiên, những quy định về xác định thẩm quyền của Tòa án nhân dân còn bất cập cả về kỹ thuật lập pháp và nội dung. Trên cơ sở những phân tích, đánh giá đó, bài viết đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về nội dung này như: (i) Pháp luật cần trao thẩm quyền giải quyết phá sản cho Tòa án nhân dân nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính; (ii) Sửa đổi một số vấn đề kỹ thuật lập pháp; (iii) Cần bổ sung cách giải quyết khi có những điều kiện của vụ việc phá sản thay đổi làm thay đổi thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh vào Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP; (iv) Đưa ra yêu cầu bắt buộc đối với người có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản về cung cấp tài liệu chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán thuộc trường hợp có hay không có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương./.

Nguyễn Thị Bình

Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

[1]. Phan Thị Thu Hà (2010), Chuyên đề Khoa học xét xử: Tìm hiểu Luật phá sản, Viện Khoa học xét xử Tòa án nhân dân tối cao, Nxb. Tư pháp, Tập 1.

[2]. TS. Dương Kim Thế Nguyên (2016), Khái niệm phá sản, thủ tục phá sản và những liên hệ đến Luật Phá sản năm 2014, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 24 (328)/tháng 12, tr. 34 - tr. 44.

[3]. Điều 2 Luật Cư trú năm 2020 quy định: “Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc đơn vị hành chính cấp xã hoặc đơn vị hành chính cấp huyện ở nơi không có đơn vị hành chính cấp xã”; “Lưu trú là việc công dân ở lại một địa điểm không phải nơi thường trú hoặc nơi tạm trú trong thời gian ít hơn 30 ngày”.

[4]. Khoản 10 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014 quy định: “Người tham gia thủ tục phá sản là chủ nợ; người lao động; doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán; cổ đông, nhóm cổ đông; thành viên hợp tác xã hoặc hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã; người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã và những người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình giải quyết phá sản”.

[5]. Khoản 12 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam và có trụ sở chính tại Việt Nam”.

[6]. Chế Văn Trung (2020), Pháp luật phá sản: Một số bất cập và giải pháp góp phần hoàn thiện, Tạp chí Công thương, Số 16, tháng 7, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/phap-luat-pha-san-mot-so-bat-cap-va-giai-phap-gop-phan-hoan-thien-75960.htm.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 403), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: