Thứ năm 28/05/2026 00:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết tập trung phân tích quy định của pháp luật về thẩm giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân.

1. Đặt vấn đề

Việc trao thẩm quyền cho Tòa án nhân dân giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã là phù hợp với lý luận chung về nhà nước và pháp luật. Tuy nhiên, một số quy định của pháp luật về vấn đề này còn bất cập như việc trao thẩm quyền cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã chưa thực sự phù hợp với thực tiễn xét xử; việc xác định thẩm quyền của Tòa án theo vị trí bất động sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán cũng còn khó khăn trong việc áp dụng trên thực tế... Do đó, trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích, đánh giá những bất cập trong quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân để từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

2. Khái quát về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong giải quyết thủ tục phá sản

Phá sản là vấn đề tất yếu của nền kinh tế thị trường nhằm loại bỏ những chủ thể sản xuất, kinh doanh yếu kém ra khỏi thị trường. Bởi vì, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính các chủ thể phải tự tìm kiếm các giải pháp nâng cao năng lực quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nếu như “sức khỏe” của chủ thể sản xuất, kinh doanh yếu kém thì thị trường sẽ đào thải chủ thể sản xuất, kinh doanh đó. Ở Việt Nam, trước năm 1986 (trước thời kỳ đổi mới), với nền kinh tế quan liêu bao cấp thì không có vấn đề phá sản nên khái niệm phá sản hầu như không xuất hiện. Sau khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước đã lường trước được trong thị trường sẽ có những chủ thể kinh doanh không còn đủ năng lực cạnh tranh và bị phá sản. Do đó, Nhà nước đã ban hành những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ phát sinh từ phá sản. Văn bản quy phạm pháp luật có tính chuyên biệt đầu tiên về phá sản ở Việt Nam là Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993. Luật này bước đầu tạo lập hành lang pháp lý nhằm giải quyết vấn đề phá sản doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoàn cảnh ra đời của Luật này là khi nước ta bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường nên tình trạng phá sản chưa xảy ra nhiều và do đó kinh nghiệm trong giải quyết phá sản còn ít[1]. Để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Quốc hội đã ban hành Luật Phá sản năm 2004 có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2004. So với Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, nhiều quy định của Luật Phá sản năm 2004 được mở rộng và cụ thể hơn. Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều quan hệ kinh doanh, thương mại thay đổi nhanh chóng, việc ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất, kinh doanh cũng có thể làm cho quá trình phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã được đẩy nhanh hơn. Do đó, nhiều quy định của Luật Phá sản năm 2004 không còn phù hợp nên Luật này được thay thế bởi Luật Phá sản năm 2014.

Trải qua quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về phá sản thì khái niệm phá sản đã ngày càng hoàn thiện hơn. Khoản 2 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014 quy định: “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”. Theo Luật Phá sản năm 2014: “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán” (khoản 1 Điều 4). Như vậy, điều kiện cần và đủ để một doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản đó là: Về nội dung, doanh nghiệp, hợp tác xã đó mất khả năng thanh toán; về hình thức, doanh nghiệp, hợp tác xã đó bị Tòa án tuyên bố phá sản. Bởi vì, về bản chất, phá sản là cuộc đòi nợ tập thể và là một thủ tục giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán[2] nên Tòa án nhân dân với “nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” (khoản 1 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014) là cơ quan phù hợp nhất thực hiện việc giải quyết phá sản. Do thủ tục phá sản là một thủ tục pháp lý có tính chất phức tạp nên Tòa án phải tham gia sâu vào các giai đoạn giải quyết thủ tục phá sản, từ khi ra quyết định mở thủ tục phá sản đến giám sát hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, đánh giá và kiểm soát việc lập và thực hiện phương án phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh, xử lý tài sản, ra quyết định phá sản, phân chia tài sản... Chính vì vậy, cơ chế tố tụng phá sản phải tính đến các yếu tố đặc thù này hay nói cách khác, tố tụng phá sản là một thủ tục tư pháp đặc biệt.

3. Thực trạng pháp luật về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong giải quyết thủ tục phá sản

Hiện nay, cả Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện đều có thẩm quyền giải quyết phá sản. Thông thường, những vụ phá sản có tính chất phức tạp hơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Điều đó phù hợp với tổ chức bộ máy nhà nước của Việt Nam hiện nay. Theo quy định tại Điều 8 Luật Phá sản năm 2014, thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án được quy định theo phương pháp vừa liệt kê, vừa loại trừ. Cụ thể:

Thứ nhất, thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh:

- Thẩm quyền theo lãnh thổ: Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã tại tỉnh đó.

Trước đây, Luật Công ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Hợp tác xã năm 1996, Luật Hợp tác xã năm 2003 đều sử dụng cụm từ “đăng ký kinh doanh”. Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Hợp tác xã năm 2012, Luật Hợp tác xã năm 2023 đã dùng cụm từ “đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hợp tác xã”. Quá trình chuyển đổi từ sử dụng thuật ngữ “đăng ký kinh doanh” sang “đăng ký doanh nghiệp” đã thể hiện sự thay đổi lớn trong tư duy lập pháp nước ta. Thuật ngữ “đăng ký doanh nghiệp” và “đăng ký hợp tác xã” có phạm vi rộng hơn so với thuật ngữ “đăng ký kinh doanh”. “Đăng ký kinh doanh” là sự ghi nhận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về mặt pháp lý sự ra đời của chủ thể kinh doanh. Còn “đăng ký doanh nghiệp” và “đăng ký hợp tác xã” là bao gồm cả đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, đăng ký thay đổi và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác. Do đó, Luật Phá sản năm 2014 dùng các thuật ngữ “đăng ký kinh doanh” và “đăng ký doanh nghiệp”, “đăng ký hợp tác xã” là phù hợp với thực tiễn. Bởi vì, nếu doanh nghiệp, hợp tác xã nào được thành lập theo quy định của pháp luật trước kia thì thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh; nếu doanh nghiệp, hợp tác xã nào thành lập theo quy định của pháp luật sau này thì thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hợp tác xã.

Tuy nhiên, quy định xác định thẩm quyền giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã của Tòa án nhân dân theo phạm vi lãnh thổ là “tỉnh nơi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã” còn bất cập. Bởi vì, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã ở thời điểm trước khi hoạt động tại nơi doanh nghiệp, hợp tác xã đặt trụ sở chính. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, có nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã thay đổi địa chỉ trụ sở chính. Vậy, trong trường hợp này thì thẩm quyền vẫn thuộc về Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã. Trong khi đó, Tòa án nơi doanh nghiệp, hợp tác xã bị mất khả năng thanh toán có trụ sở chính ở thời điểm hiện tại mới là cơ quan dễ dàng có được những thông tin về doanh nghiệp, hợp tác xã. Hơn nữa, việc đặt ra yêu cầu Tòa án nơi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã cũng gây ra khó khăn nhất định cho chính Tòa án đó. Bởi vì, có thể Tòa án đó phải đi thu thập những chứng cứ ở một địa bàn rất xa về mặt địa lý nên tốn kém về chi phí, công sức, thời gian.

- Thẩm quyền theo vụ việc: Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết phá sản thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Vụ việc phá sản có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài. Nội dung này được hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP ngày 26/8/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản. Theo đó, “tài sản ở nước ngoài là tài sản được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự ở ngoài lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản”.

Còn đối với người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài gồm: (i) Cá nhân không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Thiết nghĩ, việc dùng cụm từ “không có mặt” chưa thực sự phù hợp về kỹ thuật lập pháp, bởi vì, hiện nay để chỉ một cá nhân sinh sống tại không gian nào đó thì pháp luật sử dụng cụm từ “không lưu trú” hoặc “không cư trú”[3]; (ii) Pháp nhân không có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc không có người đại diện theo quy định của pháp luật tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Trong số người tham gia thủ tục phá sản gồm cả doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán[4]. Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán “không có trụ sở tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản” thì đó không phải là doanh nghiệp Việt Nam, hợp tác xã Việt Nam[5] và Tòa án Việt Nam không có thẩm quyền giải quyết phá sản. Tuy nhiên, còn nhiều quan điểm khác nhau về cụm từ “người đại diện theo quy định của pháp luật”, bởi vì, “người đại diện theo quy định của pháp luật” bao gồm “người đại diện theo pháp luật” và “người đại diện theo ủy quyền” (Điều 137, Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015). Vì vậy, trường hợp người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán không ở tại Việt Nam mà chỉ có người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán ở tại Việt Nam thì rõ ràng không thuộc trường hợp “không có người đại diện theo quy định của pháp luật tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản”. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, người đại diện theo ủy quyền cho doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán không thể am hiểu về doanh nghiệp, hợp tác xã như người đại diện theo pháp luật. Khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán không có người đại diện theo pháp luật ở Việt Nam thì việc giải quyết phá sản trở nên khó khăn hơn.

+ Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có chi nhánh, văn phòng đại diện ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau. Quy định này chưa phù hợp với Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Vì Luật này quy định, đơn vị hành chính cấp huyện gồm: Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (khoản 2 Điều 2). Do đó, quy định trong Luật Phá sản năm 2014 chưa tính đến “thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương” trong khi nước ta đã có thành phố Thủ Đức trực thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau. Quy định này có điểm bất cập tương tự như đã phân tích ở trên khi liệt kê các đơn vị cấp huyện bị thiếu trường hợp “thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương”. Ngoài ra, quy định này còn gây khó khăn cho việc xác định thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án. Bởi vì, người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà là một số chủ thể như chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần, người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở... thì rất khó để biết doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau hay không. Ngoài ra, tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng, giả sử doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán đang tranh chấp về một bất động sản, thì người có quyền nộp đơn cũng khó biết được tình hình bên nợ có đang tranh chấp liên quan đến bất động sản ở nhiều tỉnh thành khác nhau hay không, ngay cả khi biết có tranh chấp thì cũng không thể xác định được khi nào bản án có hiệu lực. Trong khi đó, việc xác định thẩm quyền Tòa án để nộp đơn lại phụ thuộc vào kết quả của bản án xác định bất động sản đang tranh chấp thuộc về ai[6].

+ Vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh đưa lên để giải quyết do tính chất phức tạp của vụ việc. Vụ việc phá sản có tính chất phức tạp là vụ việc không thuộc một trong các trường hợp nêu trên (được quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều 8 Luật Phá sản năm 2014) và doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản thuộc một trong các trường hợp sau đây: (i) Có từ trên 300 (ba trăm) lao động trở lên hoặc có vốn điều lệ từ trên 100.000.000.000 (một trăm tỷ đồng) trở lên. (ii) Là tổ chức tín dụng; doanh nghiệp, hợp tác xã cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích; doanh nghiệp quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật. (iii) Là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. (iv) Có khoản nợ được Nhà nước bảo đảm hoặc có liên quan đến việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, văn bản thỏa thuận về đầu tư với cơ quan, tổ chức nước ngoài. (v) Có giao dịch bị yêu cầu tuyên bố là vô hiệu theo quy định tại Điều 59 Luật Phá sản năm 2014.

Thứ hai, thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện:

Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính tại huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đó và không thuộc trường hợp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Vấn đề xác định thẩm quyền giải quyết phá sản theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp huyện là nơi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có trụ sở chính phù hợp hơn so với cách xác định thẩm quyền giải quyết phá sản theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Tuy nhiên, trong quy định này cũng vấn thiếu đơn vị hành chính là “thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương” tương tự như vấn đề đã phân tích ở trên.

Ngoài ra, Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP ngày 26/8/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản (Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP) xác định cách giải quyết khi có sự thay đổi điều kiện trong quá trình Tòa án nhân dân cấp huyện đã thụ lý vụ việc phá sản đúng thẩm quyền. Theo đó, khoản 4 Điều 3 Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP quy định: “Trường hợp Tòa án nhân dân cấp huyện đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đúng thẩm quyền nhưng trong quá trình giải quyết phá sản có sự thay đổi nơi cư trú, địa chỉ của người tham gia thủ tục phá sản hoặc xuất hiện tình tiết mới làm cho vụ việc phá sản thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật Phá sản và hướng dẫn tại khoản 1 Điều này thì Tòa án nhân dân cấp huyện vẫn tiếp tục giải quyết”. Tuy nhiên, trường hợp ngược lại, Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đúng thẩm quyền nhưng trong quá trình giải quyết phá sản có sự thay đổi nơi cư trú, địa chỉ của người tham gia thủ tục phá sản hoặc xuất hiện tình tiết mới làm cho vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện sẽ xử lý như thế nào thì Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP còn đang bỏ ngỏ.

4. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong giải quyết thủ tục phá sản

Nhằm khắc phục bất cập trong quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân và hoàn thiện pháp luật về vấn đề này, tác giả đưa ra một số kiến nghị cụ thể như sau:

Một là, pháp luật cần trao thẩm quyền giải quyết phá sản cho Tòa án nhân dân nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính. Quy định này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án trong việc giải quyết thủ tục phá sản vì việc thu thập thông tin, số liệu về doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ đơn giản hơn. Bởi vì, rõ ràng những thông tin, số liệu của doanh nghiệp, hợp tác xã chủ yếu lưu trữ tại nơi doanh nghiệp, hợp tác xã đó đặt trụ sở chính.

Hai là, sửa đổi quy định về “người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài”. Cụ thể, đối với quy định về người tham gia thủ tục phá sản là cá nhân thì cần sử dụng cụm từ “không lưu trú”, “không cư trú” thay vì sử dụng cụm từ “không có mặt” như hiện nay. Vì yêu cầu trong ngôn ngữ trong các văn bản quy phạm pháp luật là phải đảm bảo tính một nghĩa, khoa học, chính xác, không sử dụng ngôn ngữ mang nghĩa lóng, nghĩa bóng.

Ngoài ra, đối với quy định về người tham gia thủ tục phá sản là pháp nhân cần sửa đổi theo hướng tách trường hợp của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và đặt ra yêu cầu cao hơn. Theo đó, nếu người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán không ở Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì đó là trường hợp “người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài”.

Ba là, bổ sung đơn vị “thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương” vào các quy định có liên quan đến xác định cấp đơn vị hành chính là cấp huyện để tạo nên sự thống nhất giữa Luật Phá sản và Luật Tổ chức chính quyền địa phương, đồng thời phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam đã có thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương.

Bốn là, bổ sung trường hợp Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đúng thẩm quyền nhưng trong quá trình giải quyết phá sản có sự thay đổi nơi cư trú, địa chỉ của người tham gia thủ tục phá sản hoặc xuất hiện tình tiết mới làm cho vụ việc phá sản không thuộc trường hợp thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh vẫn tiếp tục giải quyết.

Năm là, đối với trường hợp liên quan đến doanh nghiệp, hợp tác xã có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương thì cần quy định cụ thể hơn nhằm dễ dàng thực hiện trong thực tiễn. Trường hợp người có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì buộc phải có các tài liệu để khẳng định doanh nghiệp, hợp tác xã có hay không có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương. Trường hợp người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì không buộc phải có tài liệu như trên. Khi họ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà họ có tài liệu đến đâu thì xác định thẩm quyền của Tòa án nhân dân đến đó.

5. Kết luận

Bài viết đã phân tích những quy định của pháp luật trong xác định thẩm quyền của Tòa án nhân dân về giải quyết phá sản. Theo đó, việc trao thẩm quyền giải quyết phá sản cho cả Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện là phù hợp với chức năng của cơ quan này. Tuy nhiên, những quy định về xác định thẩm quyền của Tòa án nhân dân còn bất cập cả về kỹ thuật lập pháp và nội dung. Trên cơ sở những phân tích, đánh giá đó, bài viết đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về nội dung này như: (i) Pháp luật cần trao thẩm quyền giải quyết phá sản cho Tòa án nhân dân nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính; (ii) Sửa đổi một số vấn đề kỹ thuật lập pháp; (iii) Cần bổ sung cách giải quyết khi có những điều kiện của vụ việc phá sản thay đổi làm thay đổi thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh vào Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP; (iv) Đưa ra yêu cầu bắt buộc đối với người có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản về cung cấp tài liệu chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán thuộc trường hợp có hay không có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương./.

Nguyễn Thị Bình

Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

[1]. Phan Thị Thu Hà (2010), Chuyên đề Khoa học xét xử: Tìm hiểu Luật phá sản, Viện Khoa học xét xử Tòa án nhân dân tối cao, Nxb. Tư pháp, Tập 1.

[2]. TS. Dương Kim Thế Nguyên (2016), Khái niệm phá sản, thủ tục phá sản và những liên hệ đến Luật Phá sản năm 2014, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 24 (328)/tháng 12, tr. 34 - tr. 44.

[3]. Điều 2 Luật Cư trú năm 2020 quy định: “Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc đơn vị hành chính cấp xã hoặc đơn vị hành chính cấp huyện ở nơi không có đơn vị hành chính cấp xã”; “Lưu trú là việc công dân ở lại một địa điểm không phải nơi thường trú hoặc nơi tạm trú trong thời gian ít hơn 30 ngày”.

[4]. Khoản 10 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014 quy định: “Người tham gia thủ tục phá sản là chủ nợ; người lao động; doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán; cổ đông, nhóm cổ đông; thành viên hợp tác xã hoặc hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã; người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã và những người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình giải quyết phá sản”.

[5]. Khoản 12 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam và có trụ sở chính tại Việt Nam”.

[6]. Chế Văn Trung (2020), Pháp luật phá sản: Một số bất cập và giải pháp góp phần hoàn thiện, Tạp chí Công thương, Số 16, tháng 7, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/phap-luat-pha-san-mot-so-bat-cap-va-giai-phap-gop-phan-hoan-thien-75960.htm.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 403), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: