Thứ tư 08/04/2026 13:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết tập trung phân tích quy định của pháp luật về thẩm giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân.

1. Đặt vấn đề

Việc trao thẩm quyền cho Tòa án nhân dân giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã là phù hợp với lý luận chung về nhà nước và pháp luật. Tuy nhiên, một số quy định của pháp luật về vấn đề này còn bất cập như việc trao thẩm quyền cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã chưa thực sự phù hợp với thực tiễn xét xử; việc xác định thẩm quyền của Tòa án theo vị trí bất động sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán cũng còn khó khăn trong việc áp dụng trên thực tế... Do đó, trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích, đánh giá những bất cập trong quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân để từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

2. Khái quát về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong giải quyết thủ tục phá sản

Phá sản là vấn đề tất yếu của nền kinh tế thị trường nhằm loại bỏ những chủ thể sản xuất, kinh doanh yếu kém ra khỏi thị trường. Bởi vì, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính các chủ thể phải tự tìm kiếm các giải pháp nâng cao năng lực quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nếu như “sức khỏe” của chủ thể sản xuất, kinh doanh yếu kém thì thị trường sẽ đào thải chủ thể sản xuất, kinh doanh đó. Ở Việt Nam, trước năm 1986 (trước thời kỳ đổi mới), với nền kinh tế quan liêu bao cấp thì không có vấn đề phá sản nên khái niệm phá sản hầu như không xuất hiện. Sau khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước đã lường trước được trong thị trường sẽ có những chủ thể kinh doanh không còn đủ năng lực cạnh tranh và bị phá sản. Do đó, Nhà nước đã ban hành những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ phát sinh từ phá sản. Văn bản quy phạm pháp luật có tính chuyên biệt đầu tiên về phá sản ở Việt Nam là Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993. Luật này bước đầu tạo lập hành lang pháp lý nhằm giải quyết vấn đề phá sản doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoàn cảnh ra đời của Luật này là khi nước ta bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường nên tình trạng phá sản chưa xảy ra nhiều và do đó kinh nghiệm trong giải quyết phá sản còn ít[1]. Để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Quốc hội đã ban hành Luật Phá sản năm 2004 có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2004. So với Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, nhiều quy định của Luật Phá sản năm 2004 được mở rộng và cụ thể hơn. Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều quan hệ kinh doanh, thương mại thay đổi nhanh chóng, việc ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất, kinh doanh cũng có thể làm cho quá trình phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã được đẩy nhanh hơn. Do đó, nhiều quy định của Luật Phá sản năm 2004 không còn phù hợp nên Luật này được thay thế bởi Luật Phá sản năm 2014.

Trải qua quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về phá sản thì khái niệm phá sản đã ngày càng hoàn thiện hơn. Khoản 2 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014 quy định: “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”. Theo Luật Phá sản năm 2014: “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán” (khoản 1 Điều 4). Như vậy, điều kiện cần và đủ để một doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản đó là: Về nội dung, doanh nghiệp, hợp tác xã đó mất khả năng thanh toán; về hình thức, doanh nghiệp, hợp tác xã đó bị Tòa án tuyên bố phá sản. Bởi vì, về bản chất, phá sản là cuộc đòi nợ tập thể và là một thủ tục giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán[2] nên Tòa án nhân dân với “nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” (khoản 1 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014) là cơ quan phù hợp nhất thực hiện việc giải quyết phá sản. Do thủ tục phá sản là một thủ tục pháp lý có tính chất phức tạp nên Tòa án phải tham gia sâu vào các giai đoạn giải quyết thủ tục phá sản, từ khi ra quyết định mở thủ tục phá sản đến giám sát hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, đánh giá và kiểm soát việc lập và thực hiện phương án phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh, xử lý tài sản, ra quyết định phá sản, phân chia tài sản... Chính vì vậy, cơ chế tố tụng phá sản phải tính đến các yếu tố đặc thù này hay nói cách khác, tố tụng phá sản là một thủ tục tư pháp đặc biệt.

3. Thực trạng pháp luật về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong giải quyết thủ tục phá sản

Hiện nay, cả Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện đều có thẩm quyền giải quyết phá sản. Thông thường, những vụ phá sản có tính chất phức tạp hơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Điều đó phù hợp với tổ chức bộ máy nhà nước của Việt Nam hiện nay. Theo quy định tại Điều 8 Luật Phá sản năm 2014, thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án được quy định theo phương pháp vừa liệt kê, vừa loại trừ. Cụ thể:

Thứ nhất, thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh:

- Thẩm quyền theo lãnh thổ: Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã tại tỉnh đó.

Trước đây, Luật Công ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Hợp tác xã năm 1996, Luật Hợp tác xã năm 2003 đều sử dụng cụm từ “đăng ký kinh doanh”. Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Hợp tác xã năm 2012, Luật Hợp tác xã năm 2023 đã dùng cụm từ “đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hợp tác xã”. Quá trình chuyển đổi từ sử dụng thuật ngữ “đăng ký kinh doanh” sang “đăng ký doanh nghiệp” đã thể hiện sự thay đổi lớn trong tư duy lập pháp nước ta. Thuật ngữ “đăng ký doanh nghiệp” và “đăng ký hợp tác xã” có phạm vi rộng hơn so với thuật ngữ “đăng ký kinh doanh”. “Đăng ký kinh doanh” là sự ghi nhận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về mặt pháp lý sự ra đời của chủ thể kinh doanh. Còn “đăng ký doanh nghiệp” và “đăng ký hợp tác xã” là bao gồm cả đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, đăng ký thay đổi và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác. Do đó, Luật Phá sản năm 2014 dùng các thuật ngữ “đăng ký kinh doanh” và “đăng ký doanh nghiệp”, “đăng ký hợp tác xã” là phù hợp với thực tiễn. Bởi vì, nếu doanh nghiệp, hợp tác xã nào được thành lập theo quy định của pháp luật trước kia thì thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh; nếu doanh nghiệp, hợp tác xã nào thành lập theo quy định của pháp luật sau này thì thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hợp tác xã.

Tuy nhiên, quy định xác định thẩm quyền giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã của Tòa án nhân dân theo phạm vi lãnh thổ là “tỉnh nơi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã” còn bất cập. Bởi vì, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã ở thời điểm trước khi hoạt động tại nơi doanh nghiệp, hợp tác xã đặt trụ sở chính. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, có nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã thay đổi địa chỉ trụ sở chính. Vậy, trong trường hợp này thì thẩm quyền vẫn thuộc về Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã. Trong khi đó, Tòa án nơi doanh nghiệp, hợp tác xã bị mất khả năng thanh toán có trụ sở chính ở thời điểm hiện tại mới là cơ quan dễ dàng có được những thông tin về doanh nghiệp, hợp tác xã. Hơn nữa, việc đặt ra yêu cầu Tòa án nơi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã cũng gây ra khó khăn nhất định cho chính Tòa án đó. Bởi vì, có thể Tòa án đó phải đi thu thập những chứng cứ ở một địa bàn rất xa về mặt địa lý nên tốn kém về chi phí, công sức, thời gian.

- Thẩm quyền theo vụ việc: Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết phá sản thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Vụ việc phá sản có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài. Nội dung này được hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP ngày 26/8/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản. Theo đó, “tài sản ở nước ngoài là tài sản được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự ở ngoài lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản”.

Còn đối với người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài gồm: (i) Cá nhân không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Thiết nghĩ, việc dùng cụm từ “không có mặt” chưa thực sự phù hợp về kỹ thuật lập pháp, bởi vì, hiện nay để chỉ một cá nhân sinh sống tại không gian nào đó thì pháp luật sử dụng cụm từ “không lưu trú” hoặc “không cư trú”[3]; (ii) Pháp nhân không có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc không có người đại diện theo quy định của pháp luật tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Trong số người tham gia thủ tục phá sản gồm cả doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán[4]. Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán “không có trụ sở tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản” thì đó không phải là doanh nghiệp Việt Nam, hợp tác xã Việt Nam[5] và Tòa án Việt Nam không có thẩm quyền giải quyết phá sản. Tuy nhiên, còn nhiều quan điểm khác nhau về cụm từ “người đại diện theo quy định của pháp luật”, bởi vì, “người đại diện theo quy định của pháp luật” bao gồm “người đại diện theo pháp luật” và “người đại diện theo ủy quyền” (Điều 137, Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015). Vì vậy, trường hợp người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán không ở tại Việt Nam mà chỉ có người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán ở tại Việt Nam thì rõ ràng không thuộc trường hợp “không có người đại diện theo quy định của pháp luật tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản”. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, người đại diện theo ủy quyền cho doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán không thể am hiểu về doanh nghiệp, hợp tác xã như người đại diện theo pháp luật. Khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán không có người đại diện theo pháp luật ở Việt Nam thì việc giải quyết phá sản trở nên khó khăn hơn.

+ Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có chi nhánh, văn phòng đại diện ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau. Quy định này chưa phù hợp với Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Vì Luật này quy định, đơn vị hành chính cấp huyện gồm: Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (khoản 2 Điều 2). Do đó, quy định trong Luật Phá sản năm 2014 chưa tính đến “thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương” trong khi nước ta đã có thành phố Thủ Đức trực thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau. Quy định này có điểm bất cập tương tự như đã phân tích ở trên khi liệt kê các đơn vị cấp huyện bị thiếu trường hợp “thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương”. Ngoài ra, quy định này còn gây khó khăn cho việc xác định thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án. Bởi vì, người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà là một số chủ thể như chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần, người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở... thì rất khó để biết doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau hay không. Ngoài ra, tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng, giả sử doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán đang tranh chấp về một bất động sản, thì người có quyền nộp đơn cũng khó biết được tình hình bên nợ có đang tranh chấp liên quan đến bất động sản ở nhiều tỉnh thành khác nhau hay không, ngay cả khi biết có tranh chấp thì cũng không thể xác định được khi nào bản án có hiệu lực. Trong khi đó, việc xác định thẩm quyền Tòa án để nộp đơn lại phụ thuộc vào kết quả của bản án xác định bất động sản đang tranh chấp thuộc về ai[6].

+ Vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh đưa lên để giải quyết do tính chất phức tạp của vụ việc. Vụ việc phá sản có tính chất phức tạp là vụ việc không thuộc một trong các trường hợp nêu trên (được quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều 8 Luật Phá sản năm 2014) và doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản thuộc một trong các trường hợp sau đây: (i) Có từ trên 300 (ba trăm) lao động trở lên hoặc có vốn điều lệ từ trên 100.000.000.000 (một trăm tỷ đồng) trở lên. (ii) Là tổ chức tín dụng; doanh nghiệp, hợp tác xã cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích; doanh nghiệp quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật. (iii) Là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. (iv) Có khoản nợ được Nhà nước bảo đảm hoặc có liên quan đến việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, văn bản thỏa thuận về đầu tư với cơ quan, tổ chức nước ngoài. (v) Có giao dịch bị yêu cầu tuyên bố là vô hiệu theo quy định tại Điều 59 Luật Phá sản năm 2014.

Thứ hai, thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện:

Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính tại huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đó và không thuộc trường hợp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Vấn đề xác định thẩm quyền giải quyết phá sản theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp huyện là nơi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có trụ sở chính phù hợp hơn so với cách xác định thẩm quyền giải quyết phá sản theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Tuy nhiên, trong quy định này cũng vấn thiếu đơn vị hành chính là “thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương” tương tự như vấn đề đã phân tích ở trên.

Ngoài ra, Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP ngày 26/8/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản (Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP) xác định cách giải quyết khi có sự thay đổi điều kiện trong quá trình Tòa án nhân dân cấp huyện đã thụ lý vụ việc phá sản đúng thẩm quyền. Theo đó, khoản 4 Điều 3 Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP quy định: “Trường hợp Tòa án nhân dân cấp huyện đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đúng thẩm quyền nhưng trong quá trình giải quyết phá sản có sự thay đổi nơi cư trú, địa chỉ của người tham gia thủ tục phá sản hoặc xuất hiện tình tiết mới làm cho vụ việc phá sản thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật Phá sản và hướng dẫn tại khoản 1 Điều này thì Tòa án nhân dân cấp huyện vẫn tiếp tục giải quyết”. Tuy nhiên, trường hợp ngược lại, Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đúng thẩm quyền nhưng trong quá trình giải quyết phá sản có sự thay đổi nơi cư trú, địa chỉ của người tham gia thủ tục phá sản hoặc xuất hiện tình tiết mới làm cho vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện sẽ xử lý như thế nào thì Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP còn đang bỏ ngỏ.

4. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong giải quyết thủ tục phá sản

Nhằm khắc phục bất cập trong quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân và hoàn thiện pháp luật về vấn đề này, tác giả đưa ra một số kiến nghị cụ thể như sau:

Một là, pháp luật cần trao thẩm quyền giải quyết phá sản cho Tòa án nhân dân nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính. Quy định này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án trong việc giải quyết thủ tục phá sản vì việc thu thập thông tin, số liệu về doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ đơn giản hơn. Bởi vì, rõ ràng những thông tin, số liệu của doanh nghiệp, hợp tác xã chủ yếu lưu trữ tại nơi doanh nghiệp, hợp tác xã đó đặt trụ sở chính.

Hai là, sửa đổi quy định về “người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài”. Cụ thể, đối với quy định về người tham gia thủ tục phá sản là cá nhân thì cần sử dụng cụm từ “không lưu trú”, “không cư trú” thay vì sử dụng cụm từ “không có mặt” như hiện nay. Vì yêu cầu trong ngôn ngữ trong các văn bản quy phạm pháp luật là phải đảm bảo tính một nghĩa, khoa học, chính xác, không sử dụng ngôn ngữ mang nghĩa lóng, nghĩa bóng.

Ngoài ra, đối với quy định về người tham gia thủ tục phá sản là pháp nhân cần sửa đổi theo hướng tách trường hợp của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và đặt ra yêu cầu cao hơn. Theo đó, nếu người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán không ở Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì đó là trường hợp “người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài”.

Ba là, bổ sung đơn vị “thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương” vào các quy định có liên quan đến xác định cấp đơn vị hành chính là cấp huyện để tạo nên sự thống nhất giữa Luật Phá sản và Luật Tổ chức chính quyền địa phương, đồng thời phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam đã có thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương.

Bốn là, bổ sung trường hợp Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đúng thẩm quyền nhưng trong quá trình giải quyết phá sản có sự thay đổi nơi cư trú, địa chỉ của người tham gia thủ tục phá sản hoặc xuất hiện tình tiết mới làm cho vụ việc phá sản không thuộc trường hợp thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh vẫn tiếp tục giải quyết.

Năm là, đối với trường hợp liên quan đến doanh nghiệp, hợp tác xã có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương thì cần quy định cụ thể hơn nhằm dễ dàng thực hiện trong thực tiễn. Trường hợp người có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì buộc phải có các tài liệu để khẳng định doanh nghiệp, hợp tác xã có hay không có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương. Trường hợp người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì không buộc phải có tài liệu như trên. Khi họ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà họ có tài liệu đến đâu thì xác định thẩm quyền của Tòa án nhân dân đến đó.

5. Kết luận

Bài viết đã phân tích những quy định của pháp luật trong xác định thẩm quyền của Tòa án nhân dân về giải quyết phá sản. Theo đó, việc trao thẩm quyền giải quyết phá sản cho cả Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện là phù hợp với chức năng của cơ quan này. Tuy nhiên, những quy định về xác định thẩm quyền của Tòa án nhân dân còn bất cập cả về kỹ thuật lập pháp và nội dung. Trên cơ sở những phân tích, đánh giá đó, bài viết đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về nội dung này như: (i) Pháp luật cần trao thẩm quyền giải quyết phá sản cho Tòa án nhân dân nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính; (ii) Sửa đổi một số vấn đề kỹ thuật lập pháp; (iii) Cần bổ sung cách giải quyết khi có những điều kiện của vụ việc phá sản thay đổi làm thay đổi thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh vào Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP; (iv) Đưa ra yêu cầu bắt buộc đối với người có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản về cung cấp tài liệu chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán thuộc trường hợp có hay không có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương./.

Nguyễn Thị Bình

Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

[1]. Phan Thị Thu Hà (2010), Chuyên đề Khoa học xét xử: Tìm hiểu Luật phá sản, Viện Khoa học xét xử Tòa án nhân dân tối cao, Nxb. Tư pháp, Tập 1.

[2]. TS. Dương Kim Thế Nguyên (2016), Khái niệm phá sản, thủ tục phá sản và những liên hệ đến Luật Phá sản năm 2014, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 24 (328)/tháng 12, tr. 34 - tr. 44.

[3]. Điều 2 Luật Cư trú năm 2020 quy định: “Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc đơn vị hành chính cấp xã hoặc đơn vị hành chính cấp huyện ở nơi không có đơn vị hành chính cấp xã”; “Lưu trú là việc công dân ở lại một địa điểm không phải nơi thường trú hoặc nơi tạm trú trong thời gian ít hơn 30 ngày”.

[4]. Khoản 10 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014 quy định: “Người tham gia thủ tục phá sản là chủ nợ; người lao động; doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán; cổ đông, nhóm cổ đông; thành viên hợp tác xã hoặc hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã; người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã và những người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình giải quyết phá sản”.

[5]. Khoản 12 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam và có trụ sở chính tại Việt Nam”.

[6]. Chế Văn Trung (2020), Pháp luật phá sản: Một số bất cập và giải pháp góp phần hoàn thiện, Tạp chí Công thương, Số 16, tháng 7, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/phap-luat-pha-san-mot-so-bat-cap-va-giai-phap-gop-phan-hoan-thien-75960.htm.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 403), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.

Theo dõi chúng tôi trên: