Thứ năm 25/06/2026 12:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình sử dụng đất - Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (viết tắt là GCN) là chứng thư pháp lý xác lập mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước và người sử dụng đất, là cơ sở pháp lý để Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sử dụng đất của họ và cũng là cơ sở để người sử dụng đất thực hiện đầy đủ quyền sử dụng đất của mình. Bên cạnh đó, khi phát sinh tranh chấp, GCN đóng vai trò quan trọng, là căn cứ để pháp luật bảo vệ quyền lợi chính đáng của người được cấp GCN.

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích các quy định pháp luật về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình sử dụng đất, đồng thời, làm rõ những vấn đề còn hạn chế, bất cập trong việc thực hiện thủ tục này trên thực tế, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện.

Abstract: The article focuses on analyzing legal provisions on procedures for granting certificates of land use rights, ownership of houses and other land-attached assets to households using land, and at the same time, clarifies that there are still limitations and inadequacies in the implementation of this procedure in practice, thereby making some recommendations for improvement.

1. Quy định pháp luật về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình sử dụng đất

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (viết tắt là GCN) là chứng thư pháp lý xác lập mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước và người sử dụng đất, là cơ sở pháp lý để Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sử dụng đất của họ và cũng là cơ sở để người sử dụng đất thực hiện đầy đủ quyền sử dụng đất của mình. Bên cạnh đó, khi phát sinh tranh chấp, GCN đóng vai trò quan trọng, là căn cứ để pháp luật bảo vệ quyền lợi chính đáng của người được cấp GCN.

Cấp GCN là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua hệ thống các quy phạm pháp luật để xác lập và công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho các chủ thể sử dụng đất trong xã hội. Hoạt động cấp GCN là một quá trình bao gồm nhiều công việc như kiểm tra, đo đạc thực địa, thẩm tra, xác minh, đối chiếu hồ sơ xin cấp GCN với hiện trạng thực tế; xem xét, quyết định, phê duyệt cấp GCN và thực hiện cấp GCN cho những trường hợp đủ điều kiện theo luật định. Như vậy, có thể hiểu, việc cấp GCN là quá trình tổ chức triển khai trong thực tế các công việc cụ thể có liên quan tới hoạt động địa chính, kiểm tra hồ sơ, xác minh thực địa và các điều kiện khác liên quan đến tính hợp pháp của tài sản là quyền sử dụng đất và các tài sản liên quan để cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp chứng thư pháp lý xác nhận quyền sở hữu và sử dụng hợp pháp đối với quyền sử dụng đất và các tài sản liên quan đó. Với tầm quan trọng của GCN đối với người sử dụng đất, hoạt động cấp GCN không đơn thuần chỉ là hoạt động quản lý, mà còn là hoạt động bảo vệ quyền của người sử dụng đất, bảo vệ một tài sản có giá trị lớn, có thể gắn bó suốt đời với người sử dụng đất, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Do vậy, tại khoản 1 Điều 166 Luật Đất đai năm 2013, Nhà nước đã khẳng định việc được cấp GCN là quyền chung quan trọng đầu tiên của người sử dụng đất và theo đó, việc cấp GCN cho người sử dụng đất là nghĩa vụ mà Nhà nước phải thực hiện.

Hiện nay, pháp luật đất đai chưa đưa ra khái niệm thủ tục cấp GCN. Dựa vào những đặc trưng trong hoạt động cấp GCN, có thể thấy, thủ tục cấp GCN là một dạng thủ tục hành chính. Tuy nhiên, đây không phải là thủ tục hành chính thông thường mà là một dạng thủ tục hành chính đặc biệt, bởi, thủ tục cấp GCN vừa mang những đặc điểm chung của một thủ tục hành chính thông thường, vừa mang những đặc điểm riêng biệt trong lĩnh vực cấp GCN.

So với các chủ thể sử dụng đất khác, thủ tục cấp GCN cho đối tượng là hộ gia đình (HGĐ) sử dụng đất cũng được thực hiện theo quy định của pháp luật đất đai. Cụ thể, việc cấp GCN cho HGĐ sẽ được thực hiện theo trình tự, thủ tục được quy định tại Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai (Nghị định số 43/2014/NĐ-CP), gồm các bước sau:

Bước 1: HGĐ sử dụng đất nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường hoặc nộp tại Ủy ban nhân dân cấp xã ở bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính. Hồ sơ gồm có: (i) Đơn đề nghị cấp GCN (theo mẫu). (ii) Bản sao sổ hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân. Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải có bản sao giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng và đủ điều kiện được sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở tại Việt Nam. (iii) Bản sao chứng thực giấy tờ về quyền sử dụng đất (nếu có). (iv) Bản sao chứng thực giấy tờ về tài sản gắn liền với đất theo quy định (nếu có tài sản và có yêu cầu chứng nhận quyền sở hữu). (v) Giấy tờ về quyền sử dụng đất theo Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (bản sao chứng thực nếu có). (vi) Sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng (trừ trường hợp trong bản sao chứng thực giấy tờ về tài sản gắn liền với đất đã có sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng). (vii) Văn bản ủy quyền nộp hồ sơ hoặc nhận GCN (nếu có). (viii) Bản sao các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật (nếu có). (xi) Tờ khai nộp lệ phí trước bạ nhà, đất (theo mẫu). (x) Đơn đề nghị được ghi nợ tiền sử dụng đất, ghi nợ lệ phí trước bạ (đối với trường hợp chưa có khả năng tài chính để nộp tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ).

Bước 2: Ủy ban nhân dân xã tiến hành:

- Kiểm tra, đối chiếu hồ sơ quản lý đất đai, quy hoạch để kiểm tra, xác nhận về nguồn gốc sử dụng đất; thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích hiện nay; nguồn gốc tạo lập tài sản; thời điểm hình thành tài sản; tình trạng tranh chấp về đất đai, tài sản gắn liền với đất; sự phù hợp với quy hoạch; sự phù hợp quy định về hành lang bảo vệ an toàn các công trình công cộng; di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng (nếu có).

- Trích lục bản đồ thửa đất (đối với khu vực đã hoàn thành công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính); đối với khu vực chưa hoàn thành công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính hoặc trường hợp chưa có sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng thì trước khi thực hiện, Ủy ban nhân dân cấp xã thông báo cho Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai và người đề nghị công nhận quyền sử dụng đất thực hiện trích đo địa chính thửa đất, sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng hoặc kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất, sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng do người sử dụng đất nộp (nếu có), thời gian trích đo hoặc kiểm tra bản trích đo không quá 10 ngày làm việc và không tính vào thời gian giải quyết thủ tục công nhận quyền sử dụng đất; đồng thời tiến hành xác nhận và đề nghị được ghi nợ tiền sử dụng đất, ghi nợ lệ phí trước bạ đối với các trường hợp có có đơn đề nghị được ghi nợ.

- Thông báo công khai kết quả kiểm tra tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và tổ dân phố, khu dân cư nơi có thửa đất đối với trường hợp xét thấy đủ điều kiện để trình Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp quyết định công nhận quyền sử dụng đất trong thời gian 15 ngày; lập biên bản kết thúc công khai; sau thời gian thông báo công khai nếu không phát sinh khiếu kiện thì lập tờ trình kèm theo hồ sơ gửi Ủy ban nhân dân cấp huyện đề nghị công nhận quyền sử dụng đất.

Trường hợp hồ sơ không đủ điều kiện hoặc cần giải trình, bổ sung hồ sơ thì trong thời gian 03 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp xã ra thông báo bằng văn bản trong đó nêu rõ lý do cho người đề nghị công nhận quyền sử dụng đất biết.

Bước 3: Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện tiến hành tiếp nhận hồ sơ từ Ủy ban nhân dân cấp xã và thực hiện các công việc sau:

- Kiểm tra hồ sơ, xác minh thực địa trong trường hợp cần thiết; xác nhận đủ điều kiện hay không đủ điều kiện được công nhận quyền sử dụng đất. Trường hợp đủ điều kiện công nhận quyền sử dụng đất thì lập tờ trình, dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, trình Ủy ban nhân dân cấp huyện ký quyết định công nhận quyền sử dụng đất.

- Trường hợp không đủ điều kiện công nhận quyền sử dụng đất thì làm thông báo gửi Ủy ban nhân dân cấp xã và HGĐ đề nghị công nhận quyền sử dụng đất biết. Trường hợp thuộc diện cho thuê đất hàng năm để sử dụng tạm thời theo hiện trạng thì hướng dẫn HGĐ làm thủ tục thuê đất theo quy định. Thời gian thực hiện các công việc tại Phòng Tài nguyên và Môi trường là không quá 07 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ từ Ủy ban nhân dân cấp xã.

Nếu HGĐ sử dụng đất nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thì trong thời gian 01 ngày, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai có trách nhiệm gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp xã (nơi có đất) để lấy ý kiến xác nhận và công khai kết quả theo quy định.

Bước 4: Phòng Tài nguyên và Môi trường gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ, tờ trình của Phòng Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm xem xét, ký quyết định công nhận quyền sử dụng đất. Phòng Tài nguyên và Môi trường sau khi nhận được quyết định của Ủy ban nhân cấp huyện gửi số liệu địa chính sang Chi cục Thuế; Chi cục Thuế có trách nhiệm tính toán các nghĩa vụ tài chính và gửi lại cho bộ phận tiếp nhận hồ sơ để bên tiếp nhận gửi thông báo cho HGĐ sử dụng đất (toàn bộ quá trình này trong thời gian khoảng 07 ngày làm việc).

Bước 5: HGĐ sử dụng đất hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo thông báo được nhận; gửi xác minh đã hoàn thành nghĩa vụ tới bộ phận tiếp nhận Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường để nhận phiếu hẹn trả kết quả.

Bước 6: Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả trao GCN cho người sử dụng theo thời gian ghi trong phiếu hẹn. Nếu HGĐ sử dụng đất nộp hồ sơ tại cơ quan cấp xã thì bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính có trách nhiệm nhận GCN từ Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai sau khi đã hoàn thiện thủ tục và gửi cho người nộp hồ sơ.

Theo quy định tại Điều 61 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, tổng thời gian thực hiện cấp GCN lần đầu là trong khoảng 30 ngày. Như vậy, so với các quy định pháp luật đất đai cũ thì thời hạn thực hiện thủ tục cấp GCN được quy định rút ngắn hơn. Đây là một quy định tiến bộ, cần thiết, phù hợp và đáp ứng kịp thời được nhu cầu của HGĐ sử dụng đất nói riêng và người sử dụng đất nói chung bởi việc quy định rút ngắn thời gian cấp GCN sẽ giúp tiết kiệm được thời gian, công sức, chi phí cho người có nhu cầu cấp GCN cũng như các nguồn lực xã hội có liên quan.

2. Thực trạng thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình sử dụng đất

Việc ban hành Nghị định số 43/2014/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc xác định các thủ tục pháp lý khi tiến hành cấp GCN cho HGĐ sử dụng đất được thực hiện một cách thống nhất tại các địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện các thủ tục cấp GCN cho HGĐ sử dụng đất nói riêng và các chủ thể sử dụng đất nói chung vẫn còn một số tồn tại, hạn chế. Tình trạng thực hiện các thủ tục giải quyết hồ sơ cấp GCN chưa đúng hạn vẫn còn nhiều và chưa được giải quyết triệt để. Đáng lưu ý, tại một số địa phương vẫn còn để xảy ra tình trạng quá tải hồ sơ, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến người dân[1]. Sự bất cập trong thủ tục cấp GCN nêu trên có thể xuất phát từ các lý do sau:

Một là, hệ thống pháp luật đất đai chưa thực sự đồng bộ, nhiều văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành còn chồng chéo, trùng lặp nhau và thường xuyên bị sửa đổi, bổ sung. Một số văn bản pháp luật chưa điều chỉnh kịp thời các trường hợp sử dụng đất phát sinh trên thực tế nên gây nhiều khó khăn cho cơ quan và cán bộ, công chức quản lý đất đai nói chung và thực hiện thủ tục cấp GCN nói riêng. Một số quy định liên quan đến thủ tục cấp GCN vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, phức tạp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tiến độ cấp GCN, gây bức xúc cho người dân. Đơn cử như, trong trường hợp quy định về việc phải niêm yết khi cấp GCN đối với những trường hợp sử dụng đất ổn định, có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 hoặc những trường hợp GCN được cấp không đúng quy định và đã thực hiện việc chuyển quyền, sau đó đương sự hoặc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện nhưng các chủ thể có liên quan không khiếu kiện và thống nhất điều chỉnh lại GCN đã cấp một cách nhanh nhất… Đối với các trường hợp trên, việc quy định phải thực hiện thủ tục niêm yết là chưa thực sự cần thiết, chưa phù hợp với xu thế đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong hoạt động quản lý nhà nước, gây mất nhiều thời gian, làm chậm tiến độ thực hiện hoạt động cấp GCN. Hơn nữa, việc quy định cứng về thời gian niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ, xác nhận hiện trạng, tình trạng tranh chấp, nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và khu dân cư nơi có đất, tài sản gắn liền với đất tại khoản 2 Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP với thời gian 15 ngày là quá cứng nhắc, điều này hạn chế sự chủ động của các địa phương trong việc quyết định thời gian niêm yết cho phù hợp với tình hình thực tế, nhất là đối với trường hợp cấp bách.

Hai là, mặc dù đã cố gắng đầu tư, hoàn thiện, tuy nhiên, hiện nay, Văn phòng Đăng ký đất đai và các chi nhánh trực thuộc vẫn còn gặp nhiều khó khăn về điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị. Việc xây dựng, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu địa chính, hệ thống thông tin đất đai thực hiện còn chậm, chưa đồng bộ; công tác cập nhật, chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính trên địa bàn tỉnh còn chưa có hướng giải quyết triệt để. Một bộ phận cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về đất đai chưa được đào tạo, tập huấn, cập nhật thường xuyên các quy định pháp luật liên quan về đất đai nên thực hiện các thủ tục cấp GCN còn lúng túng, chậm trễ hoặc thực hiện chưa đúng quy định. Ở cấp xã, một bộ phận cán bộ làm công tác địa chính còn yếu về trình độ, năng lực chuyên môn, thiếu kinh nghiệm và am hiểu về lịch sử, nguồn gốc, quá trình sử dụng đất[2]; một số cán bộ còn có biểu hiện gây khó khăn, sách nhiễu trong quá trình giải quyết các thủ tục cấp GCN. Công tác phối hợp giữa các cấp chính quyền, giữa các cơ quan chuyên môn cùng cấp trong việc thực hiện các thủ tục giải quyết hồ sơ cấp GCN có nơi, có lúc còn chưa thực sự nhuần nhuyễn, nhịp nhàng dẫn đến chậm tiến độ và gây tồn đọng hồ sơ. Đặc biệt, công tác phối hợp giữa Ủy ban nhân dân cấp xã và Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai chưa thực sự chặt chẽ, thống nhất được các nội dung về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất trong đơn đề nghị cấp GCN của HGĐ; một số trường hợp hồ sơ trả đi trả lại nhiều lần để điều chỉnh, bổ sung dẫn đến tình trạng các đơn vị phải trao đổi, thống nhất lại nội dung, ảnh hưởng đến thời gian giải quyết hồ sơ.

Ba là, nhiều HGĐ sử dụng đất chưa ý thức được quyền lợi của việc được cấp GCN, còn chậm trễ trong kê khai, đăng ký; nhiều trường hợp còn biểu hiện trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước trong thực hiện nghĩa vụ tài chính liên quan. Một bộ phận hộ dân có trình độ nhận thức chưa cao, nhất là người đồng bào dân tộc thiểu số nên mặc dù chính quyền địa phương đã tuyên truyền, vận động nhiều lần nhưng HGĐ sử dụng đất vẫn không tiến hành đăng ký theo quy định. Mặt khác, với tâm lý là đất của cha ông để lại không ai được phép xâm chiếm, sử dụng, cùng với việc ngại tìm hiểu các quy định về thủ tục cấp GCN nên trong quá trình kê khai đăng ký cấp GCN, họ đã có thiếu sót và mắc nhiều lỗi trong việc chuẩn bị hồ sơ và thực hiện các thủ tục cần thiết. Điều này đã gây không ít khó khăn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc triển khai thực hiện các thủ tục đăng ký và cấp GCN.

Bốn là, nhiều trường hợp nguồn gốc sử dụng đất phức tạp, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua nhiều lần, nhiều thời kỳ nhưng không xác lập thủ tục kê khai nên quá trình kê khai hồ sơ mất nhiều thời gian. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại các địa phương còn chưa rõ, chưa phù hợp với thực tế nên gây khó khăn trong việc cấp GCN. Ranh giới quy hoạch các trung tâm xã, cụm xã chưa xác định được thực địa nên khi xác định hạn mức đất cho các hộ tại khu vực này còn gặp nhiều khó khăn. Tình trạng diện tích đất chưa được đo đạc, lập bản đồ địa chính là rất lớn, phải đo vẽ bằng phương pháp thủ công nên mất rất nhiều thời gian. Thủ tục cấp GCN còn rườm rà, phức tạp, phải trải qua nhiều khâu trung gian làm giảm hiệu quả, gây tốn kém về thời gian, ảnh hưởng đến tiến độ, hiệu quả của công tác cấp GCN cho HGĐ, làm giảm sút lòng tin của người dân.

3. Một số kiến nghị

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả các thủ tục cấp GCN cho HGĐ sử dụng đất, qua đó góp phần thực hiện tốt Chỉ thị số 1474/CT-TTg, ngày 24/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách để chấn chỉnh việc cấp giấy chứng nhậ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, tác giả đề xuất một số nội dung như sau:

Một là, về quy định pháp luật, để thủ tục cấp GCN được diễn ra nhanh chóng, hiệu quả, cần bỏ quy định về niêm yết khi cấp GCN đối với những trường hợp sử dụng đất ổn định, có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất theo quy định; bỏ thủ tục niêm yết đối với những trường hợp GCN đã cấp không đúng quy định và đã thực hiện việc chuyển quyền nhưng sau đó đương sự hoặc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện nhưng trong trường hợp này, các chủ thể có liên quan không khiếu kiện và thống nhất điều chỉnh lại GCN đã cấp một cách nhanh nhất thì không cần phải niêm yết để rút ngắn thời gian giải quyết, đơn giản bớt thủ tục không cần thiết. Việc tinh gọn thủ tục như đề xuất trên là phù hợp với Điều 26 Luật Đất đai năm 2013 quy định về bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất. Hơn nữa, cần điều chỉnh việc quy định về thời gian niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ, xác nhận hiện trạng, tình trạng tranh chấp, nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và khu dân cư nơi có đất, tài sản gắn liền với đất tại khoản 2 Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP theo hướng linh hoạt hơn về thời gian niêm yết. Thay vì quy định là 15 ngày thì nên điều chỉnh thành khoảng thời gian niêm yết linh hoạt hơn là từ 07 - 15 ngày, như vậy sẽ giúp các địa phương chủ động hơn trong việc quyết định thời gian niêm yết cho phù hợp với tình hình thực tế, nhất là đối với trường hợp cấp bách, từ đó, giúp cho quy trình, thủ tục cấp GCN được diễn ra nhanh chóng, hiệu quả, đúng thời hạn theo quy định trên cơ sở rút ngắn được những thủ tục không cần thiết.

Hai là, cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong cấp GCN. Theo đó, Sở Tài nguyên và Môi trường cần tiếp tục chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan để thực hiện và ban hành các thủ tục hành chính liên quan đến việc cấp GCN theo hướng đơn giản hóa, tinh gọn. Cắt giảm tối đa việc phải xin ý kiến của các cơ quan có liên quan đối với những trường hợp không thực sự cần thiết. Đơn giản hóa tối đa về hồ sơ thủ tục để xét cấp GCN như chủ sử dụng đất không phải nộp hồ sơ địa chính khi đăng ký cấp GCN mà trách nhiệm cung cấp hồ sơ địa chính này thuộc về Sở Tài nguyên và Môi trường. Khi thẩm định hồ sơ, đối với những nơi đã có bản đồ địa chính, Sở Tài nguyên và Môi trường phải có trách nhiệm trích sao để làm thủ tục cấp GCN. Trường hợp chưa có bản đồ địa chính Sở Tài nguyên và Môi trường phải có trách nhiệm thuê đơn vị có tư cách pháp nhân đo trích lục bản đồ địa chính, lấy xác nhận về ranh giới, vị trí sử dụng đất không tranh chấp khiếu kiện của Ủy ban nhân dân cấp xã. Đồng thời, phối với Ủy ban nhân dân cấp xã cùng thực hiện việc xét duyệt hồ sơ ngay tại địa phương mà không phân đoạn xét duyệt theo từng cấp để đảm bảo việc xét duyệt cấp GCN được thực hiện nhanh gọn.

Ba là, tiếp tục kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về đất đai và các cơ quan chuyên môn có liên quan trên địa bàn tỉnh để phục vụ hiệu quả cho hoạt động thực hiện các thủ tục cấp GCN. Một bộ máy hoạt động chất lượng thì việc thực hiện thủ tục cấp GCN sẽ nhanh và hiệu quả. Để đạt được điều đó thì việc tổ chức, quản lý bộ máy quản lý đất đai cần dựa trên cơ sở yếu tố con người và hệ thống chính sách, tùy theo năng lực của từng người mà phân công nhiệm vụ một cách hợp lý, đúng chuyên môn đối với từng bộ phận của bộ máy quản lý. Bên cạnh đó, cần tiếp tục tăng cường tập trung đào tạo, nâng cao trình độ năng lực và đạo đức của cán bộ, công chức quản lý đất đai, bảo đảm tính ổn định, chuyên nghiệp, đặc biệt là đội ngũ địa chính cấp xã, huyện. Ngoài ra, tăng cường kiểm tra, giám sát và tổ chức triển khai thực hiện đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp GCN, đồng thời thực hiện nghiêm chế độ công vụ của cán bộ, công chức làm công tác quản lý đất đai, nhất là đối với công chức cấp xã, huyện. Đồng thời, tiếp tục thành lập và phát huy vai trò hỗ trợ từ các tổ công tác liên ngành để kịp thời xử lý, tháo gỡ những vướng mắc trong thủ tục cấp GCN cho người dân, bởi thông qua quá trình hoạt động, tiếp cận, giám sát, tổ công tác sẽ có điều kiện tiếp nhận những vấn đề khó khăn trên thực tế trong quá trình thực hiện các thủ tục cấp GCN, từ đó đề xuất cho Ủy ban nhân dân tỉnh và các chủ thể có chức năng kịp thời điều chỉnh, hướng dẫn cách xử lý phù hợp, khả thi và hiệu quả.

Bốn là, bảo đảm cơ sở hạ tầng, thiết bị công nghệ, nguồn lực tài chính để phục vụ đẩy nhanh tiến độ cấp GCN. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào lĩnh vực quản lý đất đai nói chung và cấp GCN nói riêng sẽ giúp rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục cấp GCN, tiết kiệm được nhiều thời gian, chi phí, công sức cho các chủ thể có liên quan. Vì vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý và cấp GCN, tăng cường áp dụng phần mềm một cửa liên thông và theo dõi tiến độ cấp GCN bằng phần mềm điện tử trong công tác cấp GCN. Bên cạnh đó, Sở Tài nguyên và Môi trường cần tiếp tục chỉ đạo Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh và các chi nhánh trực thuộc đẩy nhanh việc xây dựng hệ thống thông tin hiện đại, hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào việc kết nối tất cả các khâu công việc của quá trình giải quyết thủ tục cấp GCN như: Tiếp nhận hồ sơ, luân chuyển hồ sơ và giải quyết hồ sơ, tra cứu kết quả giải quyết thủ tục hành chính…

Năm là, tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất đai đến với người dân, đặc biệt là những HGĐ tại các huyện miền núi để người dân có thể nâng cao được ý thức trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về đất đai là điều kiện cần thiết để người dân nhận thức được tầm quan trọng của việc đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp GCN đối với thửa đất đang sử dụng, hiểu biết và chấp hành thực hiện pháp luật cũng như giám sát thực hiện pháp luật, từ đó góp phần hạn chế được tình trạng lạm quyền, quan liêu, tạo điều kiện cho việc thực hiện thủ tục cấp GCN diễn ra nhanh chóng, hiệu quả. Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cần xây dựng, công bố lộ trình, trách nhiệm cụ thể đối với việc thực hiện chậm tiến độ cấp GCN tại các huyện thuộc tỉnh, điều này sẽ giúp tỉnh thực hiện tốt chức năng quản lý đất đai, qua đó sẽ phát huy được hiệu quả và năng suất trong hoạt động cấp GCN.

TS. Lê Minh Thái

Đại học Kinh tế - Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Viết Hiền, “Đổi mới công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để phục vụ nhân dân tốt hơn”, http://baobinhdinh.vn/viewer.aspx?macm=5&macmp=5&mabb=119751, truy cập ngày 20/9/2022.

[2]. Thanh Hiền, “Nhiều bất cập trong cấp giấy chứng nhận”, http://dbnd.quangnam.gov.vn/ Default.aspx?tabid=286 &Group=9&NID=3796&nhieu-bat-cap-trong-cap-giay-chung-nhan-quyen-su-dung-dat&dnn_ctr905_Main_ rg_danhsachkhacChangePage=7&dnn_ctr905_Main_rg_danhsachmoiChangePage=7, truy cập ngày 20/9/2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: