Chủ nhật 11/10/2026 06:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thủ tục điều chỉnh văn bản quyết định chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư khi đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế tại Việt Nam

Bài viết tập trung phân tích các quy định hiện hành của Luật Đầu tư năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành về thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, văn bản quyết định chủ trương đầu tư, trong trường hợp có sự điều chỉnh về dự án đầu tư khi đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế. Trên cơ sở đó, bài viết chỉ ra một số điểm không thống nhất trong quy định pháp luật hiện hành, đồng thời đề xuất một số phương hướng nhằm góp phần đảm bảo tính rõ ràng, thống trong các quy định của Luật Đầu tư và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Một trong những yếu tố không kém phần quan trọng để tạo nên sức hút cho môi trường đầu tư ở mỗi quốc gia đó là vấn đề thủ tục đầu tư. Thực tế cho thấy, cùng với các yếu tố khác, một môi trường đầu tư với các thủ tục đầu tư tinh gọn, đơn giản, thống nhất sẽ có sức hút hơn so với một môi trường đầu tư với các thủ tục đầu tư phức tạp, rườm rà, không có sự đồng bộ, thống nhất. Ở Việt Nam, để thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư, vấn đề cải cách thủ tục đầu tư đang được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Các văn bản pháp luật khi quy định về các thủ tục đầu tư ở nước ta ngày càng được tinh giảm theo hướng gọn nhẹ, đơn giản và đi đến thống nhất, tránh gây phiền hà, mất thời gian cho nhà đầu tư. Những thủ tục này không những tạo điều kiện cho nhà đầu tư trong việc nhanh chóng triển khai thực hiện dự án đầu tư mà ngay cả khi có sự điều chỉnh đối với dự án đầu tư.

Hiện nay, Luật Đầu tư năm 2014 quy định có bốn hình thức đầu tư tại Việt Nam, bao gồm: Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng đối tác công tác công tư (hợp đồng PPP) và đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp đồng BCC). Trong đó, thủ tục đăng ký đầu tư khi đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế bao gồm: Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư thuộc diện phải quyết định chủ trương đầu tư (quyết định chủ trương đầu tư bởi Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh); Thủ tục quyết định chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư. Theo đó, khi có sự điều chỉnh đối với dự án đầu tư, nhà đầu tư cũng sẽ thực hiện các thủ tục tương ứng: Thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư thuộc diện phải quyết định chủ trương đầu tư (bài viết này không đề cập đến những dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội); Thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư đối với những dự án đầu tư không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư.

1. Thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

1.1. Thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

Thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư bao gồm những dự án đầu tư thuộc diện phải được quyết định chủ trương đầu tư (quyết định chủ trương đầu tư bởi Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và không thuộc diện phải quyết định chủ trương đầu tư. Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014, những dự án đầu tư phải được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư bao gồm: Dự án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài và dự án đầu tư của tổ chức kinh tế được quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014[1]. Trong đó: “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”[2] và tổ chức kinh tế được quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014 là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên hoặc có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài đối với tổ chức kinh tế là công ty hợp danh hoặc có tổ chức kinh tế theo quy định trên nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên hoặc có nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế theo quy định trên nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên[3]. Đối với những dự án đầu tư hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nếu có sự điều chỉnh đối với dự án đầu tư thì nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

Một là, thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư. Thủ tục này bao gồm những dự án đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế (được quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014) thực hiện và không thuộc đối tượng dự án được quy định tại Điều 30, Điều 31 và Điều 32 Luật Đầu tư năm 2014. Đối với những dự án đầu tư này, khi đăng ký đầu tư thì cơ quan đăng ký đầu tư căn cứ vào hồ sơ hợp lệ mà nhà đầu tư đã nộp và các điều kiện: Mục tiêu của dự án đầu tư không thuộc ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh; dự án đầu tư đáp ứng điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài[4], để cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư. Do đó, khi có sự thay đổi một trong các nội dung trong Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trừ mã số dự án đầu tư, thì nhà đầu tư nộp hồ sơ đề nghị điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho cơ quan đăng ký đầu tư, căn cứ vào hồ sơ hợp lệ mà nhà đầu tư đã nộp, cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư. Thủ tục này được thực hiện theo quy định tại Điều 33 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP.

Tuy nhiên, nếu xét về những dự án đầu tư được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nhưng không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư thì vẫn còn hai trường hợp: Thứ nhất, dự án đầu tư được nhà nước giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá, đấu thầu, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất, dự án đầu tư có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất thực hiện tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đối với dự án này, cơ quan đăng ký đầu tư lấy ý kiến thẩm định các cơ quan nhà nước có liên quan để cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư[5]. Những dự án đầu tư này nếu không phù hợp với quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư trước khi được cơ quan đăng ký đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; Thứ hai, dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 5.000 tỷ đồng trở lên quy định tại khoản 2 Điều 31 Luật Đầu tư năm 2014[6] phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt vàthuộc thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư của Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan đăng ký đầu tư lấy ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan có liên quan để thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư[7]. Cũng tương tự như trên, những dự án đầu tư này nếu không phù hợp với quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải được Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư trước khi được cơ quan đăng ký đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Đối với những dự án đầu tư thuộc một trong hai trường hợp này thủ tục đăng ký đầu tư mặc dù không phải quyết định chủ trương đầu tư nhưng cơ quan đăng ký đầu tư phải thực hiện lấy ý kiến các cơ quan nhà nước có liên quan hoặc lấy ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan nhà nước có liên quan rồi mới tiến hành cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư. Thủ tục đăng ký đầu tư rõ ràng khác với những dự án do nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế được quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014 thực hiện và không thuộc các đối tượng dự án được quy định tại các Điều 30, 31 và 32 Luật Đầu tư năm 2014. Vậy những dự án đầu tư này, nếu có sự điều chỉnh một trong các nội dung trong Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư thì vẫn thuộc trường hợp nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với những dự án đầu tư không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư được quy định tại Điều 33 Nghị định 118/2015/NĐ-CP. Nhưng nếu áp dụng thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với những dự án đầu tư này theo quy định tại Điều 33 Nghị định 118/2015/NĐ-CP thì không thống nhất với thủ tục đăng ký đầu tư như đã phân tích ở trên. Tuy nhiên, Điều 33 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP lại không có quy định riêng về thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với những dự án đầu tư này. Mặt khác, nếu áp dụng thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư thuộc diện phải quyết định chủ trương đầu tư được quy định tại Điều 34, 35 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP cũng không phù hợp. Bởi, đối với thủ tục này, trước khi cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư thì dự án đầu tư phải được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư, nhưng những dự án đầu tư này khi đăng lý đầu tư thì không phải được quyết định chủ trương đầu tư nên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Thủ tướng Chính phủ cũng không có cơ sở để quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư. Như vậy, với quy định đồng nhất thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với tất cả những dự án đầu tư không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư như tại Điều 33 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP hiện nay là chưa phù hợp.

Hai là, thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với những dự án đầu tư thuộc diện phải quyết định chủ trương đầu tư. Đối với thủ tục này, bài viết đề cập đến hai trường hợp sau:

Thứ nhất, những dự án đầu tư được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Đây là những dự án đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế được quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014 thực hiện và thuộc các đối tượng dự án được quy định tại Điều 32 Luật Đầu tư năm 2014. Những dự án đầu tư này khi đăng ký đầu tư phải được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư trước khi cơ quan đăng ký đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Do đó, khi dự án đầu tư có sự điều chỉnh mục tiêu, địa điểm đầu tư, công nghệ chính; tăng hoặc giảm vốn đầu tư trên 10% tổng vốn đầu tư làm thay đổi mục tiêu, quy mô và công suất của dự án đầu tư; điều chỉnh thời hạn thực hiện của dự án đầu tư hoặc thay đổi điều kiện đối với nhà đầu tư (nếu có)[8] thì nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư được quy định tại Điều 34 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP. Theo đó, sau khi nhận được hồ sơ đề nghị điều chỉnh dự án đầu tư hợp lệ từ nhà đầu tư, cơ quan đăng ký đầu tư lấy ý kiến các cơ quan nhà nước có liên quan, lập báo cáo thẩm định trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư, căn cứ vào quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư. Thủ tục này được thực hiện thống nhất với thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quy định tại Điều 30 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP. Trường hợp điều chỉnh các nội dung không được đề cập ở trên, nhà đầu tư thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện phải quyết định chủ trương đầu tư theo quy định tương ứng tại Điều 33 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP như đã phân tích ở trên.

Ngoài ra, những dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh còn có trường hợp dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 5.000 tỷ đồng trở lên quy định tại Khoản 2 Điều 31 Luật Đầu tư phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và thuộc thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cơ quan đăng ký đầu tư lấy ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan có liên quan, lập báo cáo thẩm định trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư, căn cứ vào quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan đăng ký đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư. Những dự án đầu tư này nếu không phù hợp với quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải được quyết định chủ trương đầu tư bởi Thủ tưởng Chính phủ trước khi được cơ quan đăng ký đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Tuy nhiên, nếu áp dụng thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư được quy định tại Điều 34 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP như trên thì không phù hợp với thủ tục đăng ký đầu tư đối với những dự án đầu tư này. Bởi nếu áp dụng Điều 34 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP thì cơ quan đăng ký đầu tư không cần lấy ý kiến Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhưng khi thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư, những đối tượng dự án này phải được lấy ý kiến Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Đây rõ ràng là một thiếu sót của Điều 34 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP. Với thiếu sót này sẽ gây không ít lúng túng cho cơ quan đăng ký đầu tư khi thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư khi rơi vào trường hợp này. Nếu cơ quan đăng ký đầu tư gửi hồ sơ dự án đầu tư cần điều chỉnh để lấy ý kiến Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì sẽ vấp phải sự phản ứng của nhà đầu tư bởi thủ tục tại Điều 34 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP không quy định, nhưng nếu không lấy ý kiến Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì không phù hợp với thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ban đầu. Còn nếu áp dụng thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với những dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ được quy định tại Điều 35 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP cho những dự án thì cũng không phù hợp. Bởi dự án này chỉ được cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư sau khi được Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư. Tuy nhiên, dự án này khi đăng ký đầu tư lại được quyết định chủ trương đầu tư bởi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nên Thủ tướng Chính phủ sẽ không có cơ sở để quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư.

Thứ hai, những dự án đầu tư được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ. Đây là những dự án đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế được quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014 thực hiện và thuộc các đối tượng dự án được quy định tại Điều 31 Luật Đầu tư năm 2014. Những dự án đầu tư này khi đăng ký đầu tư phải được Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư trước khi được cơ quan đăng ký đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Do đó, khi có sự điều chỉnh mục tiêu, địa điểm đầu tư, công nghệ chính; tăng hoặc giảm vốn đầu tư trên 10% tổng vốn đầu tư làm thay đổi mục tiêu, quy mô và công suất của dự án đầu tư; điều chỉnh thời hạn thực hiện của dự án đầu tư hoặc thay đổi điều kiện đối với nhà đầu tư (nếu có), nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư được quy định tại Điều 35 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP. Theo đó, sau khi nhận được hồ sơ hợp lệ từ nhà đầu tư, cơ quan đăng ký đầu tư gửi hồ sơ cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, lấy ý kiến các cơ quan nhà nước có liên quan, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để gửi ý kiến cho Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư lập báo cáo thẩm định trình Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư, căn cứ vào quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ, cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư. Thủ tục này được thực hiện thống nhất với thủ tục đăng ký đầu tư đối với những dự án đầu tư được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ được quy định tại Điều 31 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP. Trường hợp điều chỉnh các nội dung không được đề cập ở trên, nhà đầu tư thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện phải quyết định chủ trương đầu tư theo quy định tương ứng tại Điều 33 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP như đã phân tích ở trên.

1.2. Thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

Như đã đề cập ở trên, những dự án phải được quyết định chủ trương đầu tư là những dự án thuộc đối tượng được quy định tại Điều 30, 31, 32 Luật Đầu tư. Đồng thời theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Đầu tư năm 2014 thì những dự án sau sẽ không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư khi đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế: Dự án đầu tư của nhà đầu tư trong nước hoặc dự án đầu tư của tổ chức kinh tế quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật Đầu tư năm 2014. Trong đó, “nhà đầu tư trong nước là cá nhân có quốc tịch Việt Nam, tổ chức kinh tế không có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông”[9] và tổ chức kinh tế quy định tại khoản 2 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014 là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông nhưng không thuộc các tổ chức kinh tế được quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014[10] như đã phân tích ở trên. Những dự án đầu tư này phải được Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư và không cần phải được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Thủ tục quyết định chủ trương đầu tư đối với những dự án đầu tư này thực hiện theo quy định tương ứng tại Điều 30, 31 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP (trừ những dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội). Do đó, khi có sự điều chỉnh mục tiêu, địa điểm đầu tư, công nghệ chính; Tăng hoặc giảm trên 10% tổng vốn đầu tư làm thay đổi mục tiêu, quy mô và công suất của dự án đầu tư; Điều chỉnh thời hạn thực hiện của dự án đầu tư hoặc thay đổi điều kiện đối với nhà đầu tư (nếu có)[11], nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư. Theo đó, thủ tục này cũng thực hiện theo quy định tương ứng tại Điều 34, 35 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP cho đến khi Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư[12].

Sự thống nhất trong quy định tại Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP với các quy định trước đó tại Điều 32 Nghị định này thể hiện ở chỗ khoản 3 và khoản 4 Điều 36 đã tách thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư đối với những dự án đầu tư thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 32 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ra thành quy định riêng. Bởi những dự án đầu tư này khi đăng ký đầu tư được thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư khác với những dự án khác thuộc đối tượng dự án được quy định tại Điều 31, 32 Luật Đầu tư năm 2014. Do đó, khi có sự điều chỉnh một số nội dung được quy định tại khoản 1 Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP, nhà đầu tư sẽ thực hiện thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư theo quy định riêng tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP thay vì được Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư. Theo đó:

Thứ nhất, “đối với dự án quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị định này, Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế lấy ý kiến thẩm định theo quy định tại khoản 3 Điều 30 Nghị định này liên quan đến nội dung điều chỉnh. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến thẩm định, Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư”[13]. Những dự án đầu tư được quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP là dự án đầu tư được nhà nước giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá, đấu thầu, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất, dự án đầu tư có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32 Luật Đầu tư năm 2014 thực hiện tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Những dự án đầu tư này, khi đăng ký đầu tư sẽ được quyết định chủ trương đầu bởi Ban Quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế sau khi cơ quan đăng ký đầu tư lấy ý kiến các cơ quan nhà nước có liên quan. Do đó, quy định tại khoản 3 Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP khi thực hiện thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư là thống nhất với thủ tục quyết định chủ trương đầu tư quy định tại Khoản 2 Điều 32 Nghị định này.

Thứ hai, đối với dự án quy định tại khoản 3 Điều 32 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP, Cơ quan đăng ký đầu tư lấy ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 30 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP liên quan đến nội dung điều chỉnh để quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư theo quy định sau:

Một, đối với dự án đầu tư quy định tại điểm a khoản 3 Điều 32 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan có liên quan, cơ quan đăng ký đầu tư lập báo cáo thẩm định trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư. Ủy ban nhân cấp tỉnh quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo thẩm định của cơ quan đăng ký đầu tư. Văn bản quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư được gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cơ quan đăng ký đầu tư và nhà đầu tư[14]. Dự án đầu tư quy định tại điểm a khoản 3 Điều 32 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP là những dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 5.000 tỷ đồng trở lên quy định tại khoản 2 Điều 31 Luật Đầu tư năm 2014 phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và cơ quan đăng ký đầu tư có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ đăng ký đầu tư là Sở Kế hoạch và Đầu tư. Những dự án đầu tư này khi đăng ký đầu tư sẽ được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư (thay vì Thủ tướng Chính phủ) sau khi nhận được báo cáo thẩm định từ cơ quan đăng ký đầu tư. Do đó, với quy định về thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư đối với những dự án này tại điểm a khoản 4 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP là phù hợp và thống nhất với thủ tục quyết định chủ trương đầu tư được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 32 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP.

Hai, đối với dự án đầu tư quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 32 Nghị định 118/2015/NĐ-CP, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan có liên quan, Ban Quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế xem xét, quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư. Văn bản quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư được gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư và nhà đầu tư[15]. Dự án đầu tư quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 32 Nghị định 118/2015/NĐ-CP là dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 5.000 tỷ đồng trở lên quy định tại Khoản 2 Điều 31 Luật Đầu tư phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và cơ quan đăng ký đầu tư có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ đăng ký đầu tư là Ban Quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế. Những dự án đầu tư này khi đăng ký đầu tư sẽ được quyết định chủ trương đầu tư bởi Ban Quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế sau khi nhận được ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan nhà nước có liên quan. Do đó, quy định về thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư tại điểm b khoản 4 Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP là phù hợp và thống nhất với thủ tục quyết định chủ trương đầu tư quy định tại điểm b khoản 3 Điều 32 Nghị định này.

Mặc dù Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP đã có sự quy định rõ ràng đối với những thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đặc biệt phù hợp với khoản 2 và khoản 3 Điều 32 của Nghị định, nhưng quy định tại khoản 2 Điều 36 Nghị định này lại bộc lộ điểm bất cập nhất định. Theo đó: “Trình tự, thủ tục quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư thực hiện theo quy định tương ứng tại Điều 34 và Điều 35 Nghị định này”[16]. Nhưng tại khoản 2 Điều 34 và khoản 2 Điều 35 của Nghị định lại dẫn chiếu đến thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư được quy định tại Điều 33 của Nghị định, trong khi đó, những dự án thuộc đối tượng điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư nhưng không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư được quy định tại Điều 36 của Nghị định thì không thể áp dụng Điều 33 của Nghị định bởi những dự án này khi đăng ký đầu tư không bắt buộc được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, do đó, không thể điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Như vậy, khoản 2 Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP không nhất thiết phải dẫn chiếu đến cả Điều 34 và Điều 35 của Nghị định vì dẫn chiếu như vậy sẽ bị thừa và không cần thiết.

2. Một số kiến nghị, đề xuất

Để tạo sự thống nhất giữa thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư hoạt động theo quyết định chủ trương đầu tư với thủ tục đăng ký đầu tư, tác giả đề xuất một số nội dung sau:

Một là, thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư được quy định tại Điều 33 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP cần được sửa đổi theo hướng bổ sung thêm hai khoản phù hợp với thủ tục đăng ký đầu tư thực hiện theo quy định tại khoản 7 Điều 30 và điểm b khoản 9 Điều 31 Nghị định này. Theo đó, Điều 33 sẽ bổ sung thêm khoản 4 và khoản 5, đồng thời chuyển khoản 4 như quy định hiện hành thành khoản 6, cụ thể như sau:

“Điều 33. Thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư

1. Trường hợp thay đổi tên dự án đầu tư, địa chỉ của nhà đầu tư hoặc thay đổi tên nhà đầu tư, nhà đầu tư nộp văn bản đề nghị điều chỉnh dự án đầu tư cho Cơ quan đăng ký đầu tư kèm theo tài liệu liên quan đến việc thay đổi tên, địa chỉ của nhà đầu tư hoặc tên dự án đầu tư. Cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

2. Trường hợp điều chỉnh địa điểm thực hiện dự án đầu tư, diện tích đất sử dụng; mục tiêu, quy mô dự án đầu tư; vốn đầu tư của dự án, tiến độ góp vốn và huy động các nguồn vốn; thời hạn hoạt động của dự án; tiến độ thực hiện dự án đầu tư; ưu đãi, hỗ trợ đầu tư (nếu có) và các điều kiện đối với nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư (nếu có), nhà đầu tư nộp 01 bộ hồ sơ cho Cơ quan đăng ký đầu tư, gồm:

a) Văn bản đề nghị điều chỉnh dự án đầu tư;

b) Báo cáo tình hình triển khai dự án đầu tư đến thời điểm điều chỉnh;

c) Quyết định của nhà đầu tư về việc điều chỉnh dự án đầu tư (đối với các trường hợp điều chỉnh nội dung quy định tại các Khoản 4, 5, 6, 7, 8 và 10 Điều 39 Luật Đầu tư);

d) Giải trình hoặc cung cấp giấy tờ liên quan đến việc điều chỉnh những nội dung quy định tại các Điểm b, c, d, đ, e, g Khoản 1 Điều 33 Luật Đầu tư (nếu có).

3. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ theo quy định tại Khoản 2 Điều này, Cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư.

4. Đối với dự án quy định tại Khoản 7 Điều 30 Nghị định này, cơ quan đăng ký đầu tư lấy ý kiến thẩm định theo quy định tại Khoản 3 Điều 30 Nghị định này liên quan đến nội dung điều chỉnh để cấp thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư trong thời hạn 25 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.

5. Đối với dự quy định tại Điểm b Khoản 9 Điều 31 Nghị định này, cơ quan đăng ký đầu tư lấy ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 3 Điều 30 Nghị định này liên quan đến nội dung điều chỉnh. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan có liên quan, cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư.

5.Việc điều chỉnh nhà đầu tư thực hiện theo thủ tục quy định tại các Điều 37, 38 và 39 Nghị định này”.

Hai là, thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 34 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP cần được sửa đổi theo hướng bổ sung thêm một điểm vào khoản 1 cho phù hợp với thủ tục đăng ký đầu tư theo quy định tại điểm a khoản 9 Điều 31 Nghị định này, cụ thể như sau:

“Điều 34. Thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

1. Trường hợp điều chỉnh mục tiêu, địa điểm đầu tư, công nghệ chính; tăng hoặc giảm vốn đầu tư trên 10% tổng vốn đầu tư làm thay đổi mục tiêu, quy mô và công suất của dự án đầu tư; điều chỉnh thời hạn thực hiện của dự án đầu tư hoặc thay đổi điều kiện đối với nhà đầu tư (nếu có), nhà đầu tư thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định sau:

a) Nhà đầu tư nộp 04 bộ hồ sơ quy định tại Khoản 2 Điều 33 Nghị định này cho Cơ quan đăng ký đầu tư;

b) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Cơ quan đăng ký đầu tư gửi hồ sơ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan để lấy ý kiến về những nội dung điều chỉnh;

c) Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của Cơ quan đăng ký đầu tư, các cơ quan quy định tại Điểm b Khoản này có ý kiến về nội dung điều chỉnh thuộc phạm vi quản lý của mình;

d) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của cơ quan quy định tại Điểm c Khoản này, Cơ quan đăng ký đầu tư lập báo cáo thẩm định các nội dung điều chỉnh dự án đầu tư để trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

đ) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo thẩm định của Cơ quan đăng ký đầu tư, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư và gửi cho Cơ quan đăng ký đầu tư;

e) Căn cứ văn bản quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

g) Đối với dự án đầu tư quy định tại Điểm a Khoản 9 Điều 31 Nghị định này, cơ quan đăng ký đầu tư lấy ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 3 Điều 30 Nghị định này liên quan đến nội dung điều chỉnh. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan có liên quan, cơ quan đăng ký đầu tư lập báo cáo thẩm định trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo thẩm định của Cơ quan đăng ký đầu tư, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư.

2. Trường hợp điều chỉnh các nội dung không được quy định tại Khoản 1 Điều này, nhà đầu tư thực hiện thủ tục theo quy định tương ứng tại Điều 33 Nghị định này”.

Ba là, thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư quy định tại Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP, để tránh trường hợp khoản 2 Điều 36 dẫn chiếu đến Điều 34 và Điều 35, mà hai Điều này lại dẫn chiếu đến thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư được quy định tại Điều 33 của Nghị định này thì không phù hợp, do đó, khoản 2 Điều 36 cần được sửa đổi như sau: “2. Trình tự, thủ tục quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư thực hiện theo quy định tương ứng tạiKhoản 1 Điều 34 và Khoản 1 Điều 35 Nghị định này”. Các khoản còn lại của Điều 36 vẫn được giữ lại theo quy định hiện hành.

Ngô Thị Phương Thảo

Trường Đại học Trà Vinh


[1] Khoản 1 Điều 36 Luật Đầu tư năm 2014.

[2] Khoản 14 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014.

[3] Khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014.

[4] Khoản 3 Điều 29 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP

[5] Khoản 7 Điều 30 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP

[6] Khoản 2 Điều 31 Luật Đầu tư: “Dự án không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này có quy mô vốn đầu tư từ 5.000 tỷ đồng trở lên”

[7] Điểm b Khoản 9 Điều 31 Nghị định số118/2015/NĐ-CP.

[8] Khoản 1 Điều 34 Nghị định 118/2015/NĐ-CP.

[9] Khoản 15 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014.

[10] Khoản 2 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014.

[11] Khoản 1 Điều 36 Nghị định 118/2015/NĐ-CP.

[12] Khoản 2 Điều 36 Nghị định 118/2015/NĐ-CP.

[13] Khoản 3 Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP.

[14] Điểm a khoản 4 Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP.

[15] Điểm b khoản 4 Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP.

[16] Khoản 2 Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.

Theo dõi chúng tôi trên: