Thứ bảy 13/12/2025 13:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thủ tục điều chỉnh văn bản quyết định chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư khi đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế tại Việt Nam

Bài viết tập trung phân tích các quy định hiện hành của Luật Đầu tư năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành về thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, văn bản quyết định chủ trương đầu tư, trong trường hợp có sự điều chỉnh về dự án đầu tư khi đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế. Trên cơ sở đó, bài viết chỉ ra một số điểm không thống nhất trong quy định pháp luật hiện hành, đồng thời đề xuất một số phương hướng nhằm góp phần đảm bảo tính rõ ràng, thống trong các quy định của Luật Đầu tư và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Một trong những yếu tố không kém phần quan trọng để tạo nên sức hút cho môi trường đầu tư ở mỗi quốc gia đó là vấn đề thủ tục đầu tư. Thực tế cho thấy, cùng với các yếu tố khác, một môi trường đầu tư với các thủ tục đầu tư tinh gọn, đơn giản, thống nhất sẽ có sức hút hơn so với một môi trường đầu tư với các thủ tục đầu tư phức tạp, rườm rà, không có sự đồng bộ, thống nhất. Ở Việt Nam, để thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư, vấn đề cải cách thủ tục đầu tư đang được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Các văn bản pháp luật khi quy định về các thủ tục đầu tư ở nước ta ngày càng được tinh giảm theo hướng gọn nhẹ, đơn giản và đi đến thống nhất, tránh gây phiền hà, mất thời gian cho nhà đầu tư. Những thủ tục này không những tạo điều kiện cho nhà đầu tư trong việc nhanh chóng triển khai thực hiện dự án đầu tư mà ngay cả khi có sự điều chỉnh đối với dự án đầu tư.

Hiện nay, Luật Đầu tư năm 2014 quy định có bốn hình thức đầu tư tại Việt Nam, bao gồm: Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng đối tác công tác công tư (hợp đồng PPP) và đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp đồng BCC). Trong đó, thủ tục đăng ký đầu tư khi đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế bao gồm: Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư thuộc diện phải quyết định chủ trương đầu tư (quyết định chủ trương đầu tư bởi Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh); Thủ tục quyết định chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư. Theo đó, khi có sự điều chỉnh đối với dự án đầu tư, nhà đầu tư cũng sẽ thực hiện các thủ tục tương ứng: Thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư thuộc diện phải quyết định chủ trương đầu tư (bài viết này không đề cập đến những dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội); Thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư đối với những dự án đầu tư không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư.

1. Thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

1.1. Thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

Thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư bao gồm những dự án đầu tư thuộc diện phải được quyết định chủ trương đầu tư (quyết định chủ trương đầu tư bởi Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và không thuộc diện phải quyết định chủ trương đầu tư. Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014, những dự án đầu tư phải được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư bao gồm: Dự án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài và dự án đầu tư của tổ chức kinh tế được quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014[1]. Trong đó: “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”[2] và tổ chức kinh tế được quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014 là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên hoặc có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài đối với tổ chức kinh tế là công ty hợp danh hoặc có tổ chức kinh tế theo quy định trên nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên hoặc có nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế theo quy định trên nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên[3]. Đối với những dự án đầu tư hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nếu có sự điều chỉnh đối với dự án đầu tư thì nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

Một là, thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư. Thủ tục này bao gồm những dự án đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế (được quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014) thực hiện và không thuộc đối tượng dự án được quy định tại Điều 30, Điều 31 và Điều 32 Luật Đầu tư năm 2014. Đối với những dự án đầu tư này, khi đăng ký đầu tư thì cơ quan đăng ký đầu tư căn cứ vào hồ sơ hợp lệ mà nhà đầu tư đã nộp và các điều kiện: Mục tiêu của dự án đầu tư không thuộc ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh; dự án đầu tư đáp ứng điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài[4], để cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư. Do đó, khi có sự thay đổi một trong các nội dung trong Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trừ mã số dự án đầu tư, thì nhà đầu tư nộp hồ sơ đề nghị điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho cơ quan đăng ký đầu tư, căn cứ vào hồ sơ hợp lệ mà nhà đầu tư đã nộp, cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư. Thủ tục này được thực hiện theo quy định tại Điều 33 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP.

Tuy nhiên, nếu xét về những dự án đầu tư được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nhưng không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư thì vẫn còn hai trường hợp: Thứ nhất, dự án đầu tư được nhà nước giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá, đấu thầu, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất, dự án đầu tư có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất thực hiện tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đối với dự án này, cơ quan đăng ký đầu tư lấy ý kiến thẩm định các cơ quan nhà nước có liên quan để cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư[5]. Những dự án đầu tư này nếu không phù hợp với quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư trước khi được cơ quan đăng ký đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; Thứ hai, dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 5.000 tỷ đồng trở lên quy định tại khoản 2 Điều 31 Luật Đầu tư năm 2014[6] phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt vàthuộc thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư của Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan đăng ký đầu tư lấy ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan có liên quan để thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư[7]. Cũng tương tự như trên, những dự án đầu tư này nếu không phù hợp với quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải được Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư trước khi được cơ quan đăng ký đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Đối với những dự án đầu tư thuộc một trong hai trường hợp này thủ tục đăng ký đầu tư mặc dù không phải quyết định chủ trương đầu tư nhưng cơ quan đăng ký đầu tư phải thực hiện lấy ý kiến các cơ quan nhà nước có liên quan hoặc lấy ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan nhà nước có liên quan rồi mới tiến hành cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư. Thủ tục đăng ký đầu tư rõ ràng khác với những dự án do nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế được quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014 thực hiện và không thuộc các đối tượng dự án được quy định tại các Điều 30, 31 và 32 Luật Đầu tư năm 2014. Vậy những dự án đầu tư này, nếu có sự điều chỉnh một trong các nội dung trong Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư thì vẫn thuộc trường hợp nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với những dự án đầu tư không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư được quy định tại Điều 33 Nghị định 118/2015/NĐ-CP. Nhưng nếu áp dụng thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với những dự án đầu tư này theo quy định tại Điều 33 Nghị định 118/2015/NĐ-CP thì không thống nhất với thủ tục đăng ký đầu tư như đã phân tích ở trên. Tuy nhiên, Điều 33 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP lại không có quy định riêng về thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với những dự án đầu tư này. Mặt khác, nếu áp dụng thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư thuộc diện phải quyết định chủ trương đầu tư được quy định tại Điều 34, 35 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP cũng không phù hợp. Bởi, đối với thủ tục này, trước khi cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư thì dự án đầu tư phải được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư, nhưng những dự án đầu tư này khi đăng lý đầu tư thì không phải được quyết định chủ trương đầu tư nên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Thủ tướng Chính phủ cũng không có cơ sở để quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư. Như vậy, với quy định đồng nhất thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với tất cả những dự án đầu tư không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư như tại Điều 33 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP hiện nay là chưa phù hợp.

Hai là, thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với những dự án đầu tư thuộc diện phải quyết định chủ trương đầu tư. Đối với thủ tục này, bài viết đề cập đến hai trường hợp sau:

Thứ nhất, những dự án đầu tư được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Đây là những dự án đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế được quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014 thực hiện và thuộc các đối tượng dự án được quy định tại Điều 32 Luật Đầu tư năm 2014. Những dự án đầu tư này khi đăng ký đầu tư phải được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư trước khi cơ quan đăng ký đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Do đó, khi dự án đầu tư có sự điều chỉnh mục tiêu, địa điểm đầu tư, công nghệ chính; tăng hoặc giảm vốn đầu tư trên 10% tổng vốn đầu tư làm thay đổi mục tiêu, quy mô và công suất của dự án đầu tư; điều chỉnh thời hạn thực hiện của dự án đầu tư hoặc thay đổi điều kiện đối với nhà đầu tư (nếu có)[8] thì nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư được quy định tại Điều 34 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP. Theo đó, sau khi nhận được hồ sơ đề nghị điều chỉnh dự án đầu tư hợp lệ từ nhà đầu tư, cơ quan đăng ký đầu tư lấy ý kiến các cơ quan nhà nước có liên quan, lập báo cáo thẩm định trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư, căn cứ vào quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư. Thủ tục này được thực hiện thống nhất với thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quy định tại Điều 30 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP. Trường hợp điều chỉnh các nội dung không được đề cập ở trên, nhà đầu tư thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện phải quyết định chủ trương đầu tư theo quy định tương ứng tại Điều 33 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP như đã phân tích ở trên.

Ngoài ra, những dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh còn có trường hợp dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 5.000 tỷ đồng trở lên quy định tại Khoản 2 Điều 31 Luật Đầu tư phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và thuộc thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cơ quan đăng ký đầu tư lấy ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan có liên quan, lập báo cáo thẩm định trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư, căn cứ vào quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan đăng ký đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư. Những dự án đầu tư này nếu không phù hợp với quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải được quyết định chủ trương đầu tư bởi Thủ tưởng Chính phủ trước khi được cơ quan đăng ký đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Tuy nhiên, nếu áp dụng thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư được quy định tại Điều 34 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP như trên thì không phù hợp với thủ tục đăng ký đầu tư đối với những dự án đầu tư này. Bởi nếu áp dụng Điều 34 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP thì cơ quan đăng ký đầu tư không cần lấy ý kiến Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhưng khi thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư, những đối tượng dự án này phải được lấy ý kiến Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Đây rõ ràng là một thiếu sót của Điều 34 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP. Với thiếu sót này sẽ gây không ít lúng túng cho cơ quan đăng ký đầu tư khi thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư khi rơi vào trường hợp này. Nếu cơ quan đăng ký đầu tư gửi hồ sơ dự án đầu tư cần điều chỉnh để lấy ý kiến Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì sẽ vấp phải sự phản ứng của nhà đầu tư bởi thủ tục tại Điều 34 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP không quy định, nhưng nếu không lấy ý kiến Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì không phù hợp với thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ban đầu. Còn nếu áp dụng thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với những dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ được quy định tại Điều 35 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP cho những dự án thì cũng không phù hợp. Bởi dự án này chỉ được cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư sau khi được Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư. Tuy nhiên, dự án này khi đăng ký đầu tư lại được quyết định chủ trương đầu tư bởi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nên Thủ tướng Chính phủ sẽ không có cơ sở để quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư.

Thứ hai, những dự án đầu tư được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ. Đây là những dự án đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế được quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014 thực hiện và thuộc các đối tượng dự án được quy định tại Điều 31 Luật Đầu tư năm 2014. Những dự án đầu tư này khi đăng ký đầu tư phải được Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư trước khi được cơ quan đăng ký đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Do đó, khi có sự điều chỉnh mục tiêu, địa điểm đầu tư, công nghệ chính; tăng hoặc giảm vốn đầu tư trên 10% tổng vốn đầu tư làm thay đổi mục tiêu, quy mô và công suất của dự án đầu tư; điều chỉnh thời hạn thực hiện của dự án đầu tư hoặc thay đổi điều kiện đối với nhà đầu tư (nếu có), nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư được quy định tại Điều 35 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP. Theo đó, sau khi nhận được hồ sơ hợp lệ từ nhà đầu tư, cơ quan đăng ký đầu tư gửi hồ sơ cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, lấy ý kiến các cơ quan nhà nước có liên quan, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để gửi ý kiến cho Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư lập báo cáo thẩm định trình Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư, căn cứ vào quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ, cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư. Thủ tục này được thực hiện thống nhất với thủ tục đăng ký đầu tư đối với những dự án đầu tư được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ được quy định tại Điều 31 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP. Trường hợp điều chỉnh các nội dung không được đề cập ở trên, nhà đầu tư thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện phải quyết định chủ trương đầu tư theo quy định tương ứng tại Điều 33 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP như đã phân tích ở trên.

1.2. Thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

Như đã đề cập ở trên, những dự án phải được quyết định chủ trương đầu tư là những dự án thuộc đối tượng được quy định tại Điều 30, 31, 32 Luật Đầu tư. Đồng thời theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Đầu tư năm 2014 thì những dự án sau sẽ không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư khi đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế: Dự án đầu tư của nhà đầu tư trong nước hoặc dự án đầu tư của tổ chức kinh tế quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật Đầu tư năm 2014. Trong đó, “nhà đầu tư trong nước là cá nhân có quốc tịch Việt Nam, tổ chức kinh tế không có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông”[9] và tổ chức kinh tế quy định tại khoản 2 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014 là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông nhưng không thuộc các tổ chức kinh tế được quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014[10] như đã phân tích ở trên. Những dự án đầu tư này phải được Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư và không cần phải được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Thủ tục quyết định chủ trương đầu tư đối với những dự án đầu tư này thực hiện theo quy định tương ứng tại Điều 30, 31 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP (trừ những dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội). Do đó, khi có sự điều chỉnh mục tiêu, địa điểm đầu tư, công nghệ chính; Tăng hoặc giảm trên 10% tổng vốn đầu tư làm thay đổi mục tiêu, quy mô và công suất của dự án đầu tư; Điều chỉnh thời hạn thực hiện của dự án đầu tư hoặc thay đổi điều kiện đối với nhà đầu tư (nếu có)[11], nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư. Theo đó, thủ tục này cũng thực hiện theo quy định tương ứng tại Điều 34, 35 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP cho đến khi Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư[12].

Sự thống nhất trong quy định tại Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP với các quy định trước đó tại Điều 32 Nghị định này thể hiện ở chỗ khoản 3 và khoản 4 Điều 36 đã tách thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư đối với những dự án đầu tư thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 32 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ra thành quy định riêng. Bởi những dự án đầu tư này khi đăng ký đầu tư được thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư khác với những dự án khác thuộc đối tượng dự án được quy định tại Điều 31, 32 Luật Đầu tư năm 2014. Do đó, khi có sự điều chỉnh một số nội dung được quy định tại khoản 1 Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP, nhà đầu tư sẽ thực hiện thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư theo quy định riêng tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP thay vì được Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư. Theo đó:

Thứ nhất, “đối với dự án quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị định này, Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế lấy ý kiến thẩm định theo quy định tại khoản 3 Điều 30 Nghị định này liên quan đến nội dung điều chỉnh. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến thẩm định, Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư”[13]. Những dự án đầu tư được quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP là dự án đầu tư được nhà nước giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá, đấu thầu, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất, dự án đầu tư có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32 Luật Đầu tư năm 2014 thực hiện tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Những dự án đầu tư này, khi đăng ký đầu tư sẽ được quyết định chủ trương đầu bởi Ban Quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế sau khi cơ quan đăng ký đầu tư lấy ý kiến các cơ quan nhà nước có liên quan. Do đó, quy định tại khoản 3 Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP khi thực hiện thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư là thống nhất với thủ tục quyết định chủ trương đầu tư quy định tại Khoản 2 Điều 32 Nghị định này.

Thứ hai, đối với dự án quy định tại khoản 3 Điều 32 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP, Cơ quan đăng ký đầu tư lấy ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 30 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP liên quan đến nội dung điều chỉnh để quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư theo quy định sau:

Một, đối với dự án đầu tư quy định tại điểm a khoản 3 Điều 32 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan có liên quan, cơ quan đăng ký đầu tư lập báo cáo thẩm định trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư. Ủy ban nhân cấp tỉnh quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo thẩm định của cơ quan đăng ký đầu tư. Văn bản quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư được gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cơ quan đăng ký đầu tư và nhà đầu tư[14]. Dự án đầu tư quy định tại điểm a khoản 3 Điều 32 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP là những dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 5.000 tỷ đồng trở lên quy định tại khoản 2 Điều 31 Luật Đầu tư năm 2014 phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và cơ quan đăng ký đầu tư có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ đăng ký đầu tư là Sở Kế hoạch và Đầu tư. Những dự án đầu tư này khi đăng ký đầu tư sẽ được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư (thay vì Thủ tướng Chính phủ) sau khi nhận được báo cáo thẩm định từ cơ quan đăng ký đầu tư. Do đó, với quy định về thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư đối với những dự án này tại điểm a khoản 4 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP là phù hợp và thống nhất với thủ tục quyết định chủ trương đầu tư được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 32 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP.

Hai, đối với dự án đầu tư quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 32 Nghị định 118/2015/NĐ-CP, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan có liên quan, Ban Quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế xem xét, quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư. Văn bản quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư được gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư và nhà đầu tư[15]. Dự án đầu tư quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 32 Nghị định 118/2015/NĐ-CP là dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 5.000 tỷ đồng trở lên quy định tại Khoản 2 Điều 31 Luật Đầu tư phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và cơ quan đăng ký đầu tư có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ đăng ký đầu tư là Ban Quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế. Những dự án đầu tư này khi đăng ký đầu tư sẽ được quyết định chủ trương đầu tư bởi Ban Quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế sau khi nhận được ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan nhà nước có liên quan. Do đó, quy định về thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư tại điểm b khoản 4 Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP là phù hợp và thống nhất với thủ tục quyết định chủ trương đầu tư quy định tại điểm b khoản 3 Điều 32 Nghị định này.

Mặc dù Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP đã có sự quy định rõ ràng đối với những thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đặc biệt phù hợp với khoản 2 và khoản 3 Điều 32 của Nghị định, nhưng quy định tại khoản 2 Điều 36 Nghị định này lại bộc lộ điểm bất cập nhất định. Theo đó: “Trình tự, thủ tục quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư thực hiện theo quy định tương ứng tại Điều 34 và Điều 35 Nghị định này”[16]. Nhưng tại khoản 2 Điều 34 và khoản 2 Điều 35 của Nghị định lại dẫn chiếu đến thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư được quy định tại Điều 33 của Nghị định, trong khi đó, những dự án thuộc đối tượng điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư nhưng không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư được quy định tại Điều 36 của Nghị định thì không thể áp dụng Điều 33 của Nghị định bởi những dự án này khi đăng ký đầu tư không bắt buộc được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, do đó, không thể điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Như vậy, khoản 2 Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP không nhất thiết phải dẫn chiếu đến cả Điều 34 và Điều 35 của Nghị định vì dẫn chiếu như vậy sẽ bị thừa và không cần thiết.

2. Một số kiến nghị, đề xuất

Để tạo sự thống nhất giữa thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư hoạt động theo quyết định chủ trương đầu tư với thủ tục đăng ký đầu tư, tác giả đề xuất một số nội dung sau:

Một là, thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư được quy định tại Điều 33 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP cần được sửa đổi theo hướng bổ sung thêm hai khoản phù hợp với thủ tục đăng ký đầu tư thực hiện theo quy định tại khoản 7 Điều 30 và điểm b khoản 9 Điều 31 Nghị định này. Theo đó, Điều 33 sẽ bổ sung thêm khoản 4 và khoản 5, đồng thời chuyển khoản 4 như quy định hiện hành thành khoản 6, cụ thể như sau:

Điều 33. Thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư

1. Trường hợp thay đổi tên dự án đầu tư, địa chỉ của nhà đầu tư hoặc thay đổi tên nhà đầu tư, nhà đầu tư nộp văn bản đề nghị điều chỉnh dự án đầu tư cho Cơ quan đăng ký đầu tư kèm theo tài liệu liên quan đến việc thay đổi tên, địa chỉ của nhà đầu tư hoặc tên dự án đầu tư. Cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

2. Trường hợp điều chỉnh địa điểm thực hiện dự án đầu tư, diện tích đất sử dụng; mục tiêu, quy mô dự án đầu tư; vốn đầu tư của dự án, tiến độ góp vốn và huy động các nguồn vốn; thời hạn hoạt động của dự án; tiến độ thực hiện dự án đầu tư; ưu đãi, hỗ trợ đầu tư (nếu có) và các điều kiện đối với nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư (nếu có), nhà đầu tư nộp 01 bộ hồ sơ cho Cơ quan đăng ký đầu tư, gồm:

a) Văn bản đề nghị điều chỉnh dự án đầu tư;

b) Báo cáo tình hình triển khai dự án đầu tư đến thời điểm điều chỉnh;

c) Quyết định của nhà đầu tư về việc điều chỉnh dự án đầu tư (đối với các trường hợp điều chỉnh nội dung quy định tại các Khoản 4, 5, 6, 7, 8 và 10 Điều 39 Luật Đầu tư);

d) Giải trình hoặc cung cấp giấy tờ liên quan đến việc điều chỉnh những nội dung quy định tại các Điểm b, c, d, đ, e, g Khoản 1 Điều 33 Luật Đầu tư (nếu có).

3. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ theo quy định tại Khoản 2 Điều này, Cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư.

4. Đối với dự án quy định tại Khoản 7 Điều 30 Nghị định này, cơ quan đăng ký đầu tư lấy ý kiến thẩm định theo quy định tại Khoản 3 Điều 30 Nghị định này liên quan đến nội dung điều chỉnh để cấp thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư trong thời hạn 25 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.

5. Đối với dự quy định tại Điểm b Khoản 9 Điều 31 Nghị định này, cơ quan đăng ký đầu tư lấy ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 3 Điều 30 Nghị định này liên quan đến nội dung điều chỉnh. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan có liên quan, cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư.

5.Việc điều chỉnh nhà đầu tư thực hiện theo thủ tục quy định tại các Điều 37, 38 và 39 Nghị định này”.

Hai là, thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 34 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP cần được sửa đổi theo hướng bổ sung thêm một điểm vào khoản 1 cho phù hợp với thủ tục đăng ký đầu tư theo quy định tại điểm a khoản 9 Điều 31 Nghị định này, cụ thể như sau:

“Điều 34. Thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

1. Trường hợp điều chỉnh mục tiêu, địa điểm đầu tư, công nghệ chính; tăng hoặc giảm vốn đầu tư trên 10% tổng vốn đầu tư làm thay đổi mục tiêu, quy mô và công suất của dự án đầu tư; điều chỉnh thời hạn thực hiện của dự án đầu tư hoặc thay đổi điều kiện đối với nhà đầu tư (nếu có), nhà đầu tư thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định sau:

a) Nhà đầu tư nộp 04 bộ hồ sơ quy định tại Khoản 2 Điều 33 Nghị định này cho Cơ quan đăng ký đầu tư;

b) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Cơ quan đăng ký đầu tư gửi hồ sơ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan để lấy ý kiến về những nội dung điều chỉnh;

c) Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của Cơ quan đăng ký đầu tư, các cơ quan quy định tại Điểm b Khoản này có ý kiến về nội dung điều chỉnh thuộc phạm vi quản lý của mình;

d) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của cơ quan quy định tại Điểm c Khoản này, Cơ quan đăng ký đầu tư lập báo cáo thẩm định các nội dung điều chỉnh dự án đầu tư để trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

đ) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo thẩm định của Cơ quan đăng ký đầu tư, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư và gửi cho Cơ quan đăng ký đầu tư;

e) Căn cứ văn bản quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

g) Đối với dự án đầu tư quy định tại Điểm a Khoản 9 Điều 31 Nghị định này, cơ quan đăng ký đầu tư lấy ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 3 Điều 30 Nghị định này liên quan đến nội dung điều chỉnh. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan có liên quan, cơ quan đăng ký đầu tư lập báo cáo thẩm định trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo thẩm định của Cơ quan đăng ký đầu tư, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư.

2. Trường hợp điều chỉnh các nội dung không được quy định tại Khoản 1 Điều này, nhà đầu tư thực hiện thủ tục theo quy định tương ứng tại Điều 33 Nghị định này”.

Ba là, thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư quy định tại Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP, để tránh trường hợp khoản 2 Điều 36 dẫn chiếu đến Điều 34 và Điều 35, mà hai Điều này lại dẫn chiếu đến thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư được quy định tại Điều 33 của Nghị định này thì không phù hợp, do đó, khoản 2 Điều 36 cần được sửa đổi như sau: “2. Trình tự, thủ tục quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư thực hiện theo quy định tương ứng tạiKhoản 1 Điều 34 và Khoản 1 Điều 35 Nghị định này”. Các khoản còn lại của Điều 36 vẫn được giữ lại theo quy định hiện hành.

Ngô Thị Phương Thảo

Trường Đại học Trà Vinh


[1] Khoản 1 Điều 36 Luật Đầu tư năm 2014.

[2] Khoản 14 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014.

[3] Khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014.

[4] Khoản 3 Điều 29 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP

[5] Khoản 7 Điều 30 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP

[6] Khoản 2 Điều 31 Luật Đầu tư: “Dự án không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này có quy mô vốn đầu tư từ 5.000 tỷ đồng trở lên”

[7] Điểm b Khoản 9 Điều 31 Nghị định số118/2015/NĐ-CP.

[8] Khoản 1 Điều 34 Nghị định 118/2015/NĐ-CP.

[9] Khoản 15 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014.

[10] Khoản 2 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014.

[11] Khoản 1 Điều 36 Nghị định 118/2015/NĐ-CP.

[12] Khoản 2 Điều 36 Nghị định 118/2015/NĐ-CP.

[13] Khoản 3 Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP.

[14] Điểm a khoản 4 Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP.

[15] Điểm b khoản 4 Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP.

[16] Khoản 2 Điều 36 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.
Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tóm tắt: Bài viết phân tích, làm rõ khái niệm người có ảnh hưởng, tình hình thực tiễn về mô hình quảng cáo thông qua người có ảnh hưởng và các hành vi quảng cáo gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những yêu cầu đặt ra về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như yêu cầu tháo gỡ những “điểm nghẽn”, “nút thắt” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng là cấp thiết, đặc biệt, dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) dự kiến được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10 vào tháng 10/2025. Trước bối cảnh đó, với vai trò là trụ cột, là nguồn lực chủ yếu để xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới, đồng thời là đội ngũ tiên phong tham gia các lĩnh vực mới, thanh niên ngành thi hành án dân sự cần tiếp tục phát huy vai trò và trách nhiệm trong việc tham gia vào công tác hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự.

Theo dõi chúng tôi trên: