Thứ ba 17/02/2026 04:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thủ tục đưa người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng vào trong tố tụng dân sự

Ở bài viết này, tác giả nêu lên các thủ tục pháp lý tại Tòa án được đưa ra khi xuất hiện người kế thừa tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cũng như hậu quả pháp lý và bất cập của các thủ tục này đối với vụ án dân sự đang giải quyết.


Quá trình giải quyết vụ án dân sự là một chuỗi các trình tự, thủ tục áp dụng tại Tòa án được luật quy định. Tuy nhiên, các trình tự, thủ tục được luật quy định có thể sẽ diễn ra hoặc không diễn ra trong từng trường hợp vụ án cụ thể. Quá trình giải quyết vụ án dân sự kéo dài từ khi bắt đầu vào thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết đến thời điểm ngừng giải quyết vụ việc dân sự bằng một bản án, quyết định cụ thể của Tòa án. Trong suốt quá trình này, có thể xảy ra sự kiện đương sự là cá nhân chết, đương sự là tổ chức phải chấm dứt tồn tại ở bất kỳ thời điểm nào mà đôi khi các sự kiện đó không phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể trong quan hệ tố tụng dân sự. Khi tư cách của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự được xác định theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự. Mỗi giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án dân sự mà đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết, đương sự là cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự theo luật định thì Tòa án ra các loại quyết định khác nhau để tác động vào quá trình tố tụng dân sự, sao cho đảm bảo tốt nhất quyền, lợi ích của các đương sự, trong đó có cả người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng. Loại quyết định nào mà Tòa án sẽ đưa ra tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng xuất hiện sự kiện nêu trên. Cụ thể:

1. Xuất hiện người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự vào giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự

Đối với vụ án dân sự, nếu đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết, cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Trường hợp này thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Cụ thể, thời hạn chuẩn bị xét xử các vụ án dân sự và vụ án hôn nhân và gia đình là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án, thời hạn chuẩn bị xét xử các vụ án kinh doanh, thương mại và vụ án lao động là hai tháng kể từ ngày thụ lý vụ án.

2. Xuất hiện người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự khi Tòa án tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Nếu đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết, cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự ở giai đoạn xét xử sơ thẩm thì có thể xếp vào trường hợp đương sự vắng mặt, Tòa án phải hoãn phiên tòa theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Sỡ dĩ chúng tôi cho rằng lúc này Tòa án không thể ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án là bởi vì chính cơ cấu của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã xếp quy định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vào Chương XIII về thủ tục hòa giải và chuẩn bị xét xử, trong khi đó, Chương XIV quy định về phiên tòa sơ thẩm, nói cách khác, theo cách sắp xếp điều luật hiện tại, làm cho người đọc và người áp dụng pháp luật được quyền hiểu rằng quy định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự chỉ dành cho giai đoạn chuẩn bị xét xử, bởi nó không nằm ở phần các quy định chung.

Điều đáng nói là, nếu đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết, cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự nhưng Tòa án có biết về sự kiện thì Tòa án ra quyết định hoãn phiên tòa để có thể sử dụng Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cho phép người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng tham gia phiên xét xử sẽ được tiếp tục tổ chức sau đó. Tuy nhiên, nếu sự kiện trên xảy ra sau lần vắng mặt lần thứ nhất, nhưng ngay trước lần xét xử sau mà Tòa án không hay biết thì Tòa án có thể coi đương sự đã từ bỏ việc khởi kiện để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (nếu đương sự là nguyên đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập) hoặc thực hiện xét xử vắng mặt theo luật định (nếu đương sự là bị đơn), việc đình chỉ xét xử hoặc xét xử này không sai theo luật nhưng lại làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Vấn đề này được giải quyết bằng thủ tục kháng cáo, kháng nghị bản án sơ thẩm khi chưa có hiệu lực hoặc khi đã phát sinh hiệu lực sẽ được giải quyết bằng thủ tục giám đốc thẩm nếu có khiếu nại dẫn đến kháng nghị về căn cứ đương sự chết, đương sự phải chấm dứt hoạt động mà chưa xác định được người kế thừa quyền, nghĩa vụ nên không thể tham gia tố tụng nhưng Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

Điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 giải quyết được cả trường hợp Tòa án đã hoãn phiên tòa lần thứ hai, việc xét xử được tiếp tục tiến hành thì ngay trước thời điểm này đương sự là cá nhân chết, đương sự là cơ quan, tổ chức phải chấm dứt hoạt động. Lúc này, Tòa án không thể hoãn phiên tòa thêm nữa, thì ở Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ghi nhận thêm một thủ tục mới là tạm dừng phiên tòa, sau thời gian tạm dừng mà căn cứ tạm dừng chưa khắc phục được thì Tòa án có thể ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự để tiếp tục khắc phục. Có thể xem đây là một cách linh hoạt của Tòa án trên thực tế để đưa người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự vào tham gia tố tụng trong trường hợp khá đặc biệt này dù việc đương sự là cá nhân chết không là căn cứ xuất hiện trong quy định về tạm ngừng phiên tòa. Theo quan điểm của tác giả, cần có quy định hướng dẫn bổ sung về trường hợp bất khả kháng liên quan đến sức khỏe, khả năng của người tham gia tố tụng dân sự dẫn đến tạm ngừng phiên tòa, trong đó dự liệu bao gồm cả trường hợp đương sự đang tham gia tố tụng dân sự tại phiên tòa chết dẫn đến tạm ngừng phiên tòa. Khi đã xác định người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự, vụ án được tiếp tục giải quyết theo luật định.

3. Xuất hiện người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự khi đã có bản án dân sự sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị

Điều đáng chú ý là trường hợp đương sự là cá nhân chết, đương sự là cơ quan, tổ chức phải chấm dứt hoạt động vào thời điểm bản án dân sự sơ thẩm đã được tuyên nhưng chưa phát sinh hiệu lực, đang trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng như Bộ luật Tố tụng dân sự trước đó không có quy định đề cập một cách trực tiếp về quyền kháng cáo của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự. Nếu vận dụng Điều 70 và Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để suy lý và cho rằng người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự là kế thừa tất cả các quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự để chấp nhận họ có quyền này thì thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo sẽ được tính như thế nào? Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự tiếp tục thực hiện quyền này trong thời hạn còn lại hay bắt đầu tính lại thời hạn kháng cáo mới? Hiện nay, các quy định pháp luật tố tụng dân sự chưa có hướng dẫn cụ thể về trường hợp này. Nếu đương sự là cá nhân chết, đương sự là tổ chức phải chấm dứt tồn tại vào thời điểm sắp hết hạn kháng cáo và nhất là đối với đương sự là cá nhân chết thì đang lúc “tang gia bối rối”, liệu rằng người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự có thể thực hiện được quyền kháng cáo đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án hay không?

Về vấn đề này, theo luật sư Tôn Thất Quỳnh Bằng, trên cơ sở chuyển giao quyền và nghĩa vụ về tài sản từ đương sự sang cho các thừa kế khi họ chết thì quyền kháng cáo của những người kế quyền sẽ dễ dàng được chấp nhận. Luật sư Tôn Thất Quỳnh Bằng cho rằng, “đối với đương sự có mặt tại phiên xét xử nhưng lại chết trong thời hạn kháng cáo, phải chăng chỉ cần căn cứ vào quy định thời điểm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người thừa kế ở Bộ luật Dân sự để xác định quyền kháng cáo của người kế quyền chẳng qua chỉ là tiếp nối quyền của đương sự tham gia tố tụng. Điều này dẫn đến thời hạn kháng cáo của người kế quyền phải được tính trong khuôn khổ của thời hạn kháng cáo của đương sự theo quy định của Điều 245 Bộ luật Tố tụng dân sự? Nhưng trong trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên xét xử và bản án cần được tống đạt thì việc tống đạt bản án hay quyết định cho một người đã chết sẽ trở thành vô nghĩa; liệu sự tống đạt này có phát sinh hiệu lực pháp luật đối với người kế quyền để có thể áp dụng quy định của Điều 245 Bộ luật Tố tụng dân sự? Bộ luật Tố tụng dân sự đã không dự liệu trường hợp này”[1]. Mặc dù bài viết đánh giá các quy định về quyền kháng cáo theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) nhưng bởi các quy định về quyền, thời hạn kháng cáo không có sự thay đổi theo hướng bổ sung chủ thể yêu cầu nên vẫn còn nguyên giá trị tham khảo, đánh giá các quy định ở Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Quy định kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự cũng được ghi nhận ở pháp luật của nhiều nước. Điển hình là pháp luật của Nga, tại Điều 44 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2003 của Liên bang Nga quy định rõ: “… Việc thay thế có thể được tiến hành ở bất cứ giai đoạn nào của tố tụng dân sự” và “những hành vi tố tụng được thực hiện trước khi người thay thế nếu có hiệu lực bắt buộc đối với người được thay thế thì cũng có hiệu lực bắt buộc đối với người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng”. Thời hạn gửi đơn kháng cáo phúc thẩm, đề nghị phúc thẩm theo Điều 338 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2003 của Liên bang Nga quy định là 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra bản án[2]. Tuy nhiên, tại Điều 342 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2003 của Liên bang Nga cũng có quy định hết thời hạn kháng cáo, nếu trong đơn kháng cáo phúc thẩm, đề nghị phúc thẩm không có yêu cầu khôi phục thời hạn hoặc yêu cầu khôi phục thời hạn không được chấp nhận sẽ bị trả lại đơn kháng cáo phúc thẩm, đề nghị phúc thẩm. Như vậy, nói cách khác, Bộ luật Tố tụng dân sự Nga cho phép các bên (bao gồm cả người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự) yêu cầu khôi phục thời hạn kháng cáo trong đơn kháng cáo dù đã hết thời hạn kháng cáo. Việc chấp nhận hay không chấp nhận sẽ được xem xét trong từng trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, quy định này cũng tạo nên một hành lang pháp lý hiện hữu và một lối thoát cho người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự, tạo điều kiện cho họ thực hiện tốt trách nhiệm của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự. Theo tác giả, đây có thể là một hướng tham khảo để hướng dẫn áp dụng pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam trên thực tiễn về việc thực hiện quyền kháng cáo của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự xuất hiện ở giai đoạn bản án sơ thẩm đã được tuyên. Quan điểm này cũng được tác giả Lê Thanh Lâm đồng tình: “Pháp luật tố tụng cần bổ sung quy định để Tòa án có nghĩa vụ cấp, tống đạt bản án, quyết định sơ thẩm cho người thừa kế của đương sự khi có căn cứ xác định đương sự đã chết sau khi có bản án, quyết định mà thời hạn kháng cáo của họ vẫn còn; từ đó ghi nhận quyền kháng cáo và cách tính thời hạn kháng cáo của người kế thừa tố tụng của đương sự trong trường hợp này theo hướng bắt đầu lại thời hạn kháng cáo để phù hợp với thực tế khách quan và đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của đương sự trong vụ án”[3].

Tác giả cũng cho rằng, cần phân tích rõ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 của Việt Nam về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong trường hợp nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được kế thừa. Theo quy định của điều luật này, khái niệm “quyền, nghĩa vụ của họ không được kế thừa” cần được hiểu như thế nào? Cần hiểu điều luật muốn nói đến các quyền, nghĩa vụ về nhân thân hoặc tài sản không thể chuyển giao cho người khác theo quy định của luật hay trong trường hợp nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân chết nhưng không có người thừa kế di sản? Xét theo câu chữ của luật, thì “không được kế thừa” cần được hiểu theo nghĩa thứ nhất. Bởi vì: (i) Khái niệm kế thừa và khái niệm thừa kế hoàn toàn khác biệt nhau. Khái niệm kế thừa xuất hiện trong quan hệ tố tụng dân sự với ý nghĩa tiếp nhận quyền, nghĩa vụ tố tụng từ chủ thể trước, trong khi khái niệm thừa kế xuất hiện trong quan hệ luật nội dung về thừa kế với ý nghĩa tiếp nhận tài sản là di sản; (ii) Việc không thể kế thừa chỉ có thể xuất hiện do quyền, nghĩa vụ về nội dung hoặc về luật tố tụng quy định rõ quyền, nghĩa vụ đó gắn với cá nhân, không thể chuyển giao. Trong khi đó, quan hệ thừa kế sẽ không bao giờ không xuất hiện người nhận di sản. Trong trường hợp di sản không có người thừa kế theo di chúc và theo pháp luật thì Nhà nước chính là chủ thể tiếp nhận khối di sản đó sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại. Nói cách khác, kể cả khi người thừa kế di sản là Nhà nước vẫn phải để quan hệ tố tụng dân sự diễn ra để có thể xác định chủ thể có quyền, có nghĩa vụ liên quan đến di sản cần được Nhà nước thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại nếu có, trước khi Nhà nước nhận về khối di sản ấy. Đến đây, lại có một vấn đề pháp lý phát sinh là trong trường hợp Nhà nước là người nhận di sản thừa kế do không có người nhận thừa kế thì ai sẽ là người đại diện cho Nhà nước tham gia tố tụng để thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại? Như vậy, có thể thấy rằng, quy định của Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành hoàn toàn không dự liệu trước trường hợp người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự là Nhà nước.

Bên cạnh đó, Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự còn bỏ sót trường hợp tổ chức chuyển đổi hình thức tổ chức dẫn đến chấm dứt tồn tại, thay đổi chủ sở hữu của tổ chức và có việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ cho chủ sở hữu mới, trường hợp tổ chức không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự mà người đại diện đang tham gia tố tụng chết. Tác giả cho rằng, cần có hướng dẫn bổ sung về căn cứ này nhằm đảm bảo tính đồng bộ giữa Điều 74 và Điều 214 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giữa Bộ luật Tố tụng dân sự và các căn cứ chấm dứt pháp nhân tại Điều 96 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Đồng thời, việc bổ sung này vào căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sẽ đảm bảo quyền tham gia tố tụng của chủ thể kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng sau này.

ThS. Trần Thị Thanh Huyền

Nguyễn Thị Anh Thư

Khoa Kinh tế, Luật, Đại học Trà Vinh

Tài liệu tham khảo:


[1] Tôn Thất Quỳnh Bằng, Quyền kháng cáo của người kế thừa quyền và nghĩa vụ dân sự, https://luatsuquynhbang.wordpress.com/2011/12/10, truy cập ngày 30/12/2017.

[2] Điều 44, Điều 338 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2003 của Liên bang Nga, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2005.

[3] Lê Thanh Lâm, Một số vấn đề pháp lý về người kế thừa quyền và nghĩa vụ của cá nhân, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 5 (325)/2015, trang 22.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: