Thứ ba 25/08/2026 08:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Bài viết đánh giá về những kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc, đồng thời chỉ ra những tồn tại và đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm thực hiện tốt pháp luật về dân chủ cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc trong thời gian tới.

Tóm tắt: Bài viết đánh giá về những kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc, đồng thời chỉ ra những tồn tại và đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm thực hiện tốt pháp luật về dân chủ cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc trong thời gian tới.

Abstract: The article makes assessments on achieved results in the implemention of democracy law at village level in the Northwest provinces, at the same time, points out remaining problems and proposes suitable solutions for best implementation of democracy law at village level in Northwest provinces in the coming time.

1. Những kết quả đạt được về thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã trên địa bàn các tỉnh Tây Bắc

Thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã được lãnh đạo các tỉnh Tây Bắc quan tâm, chú trọng. Các chuyên mục về quy chế dân chủ, thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn được xây dựng và triển khai trên hệ thống Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, loa truyền thanh, báo của địa phương nhằm tuyên truyền sâu rộng đến từng người dân. Từ cấp tỉnh đến cấp xã đều thành lập Ban Chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và được kiện toàn, bổ sung. Các Ban Chỉ đạo ở các tỉnh Tây Bắc đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể tổ chức họp quán triệt các chỉ thị, nghị quyết, thông tư hướng dẫn của Chính phủ, của các bộ, ngành trung ương; nghiên cứu các nội dung trong quy chế dân chủ ở xã, phân công các thành viên trong Ban Chỉ đạo phụ trách ở các lĩnh vực, địa phương; ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn cấp dưới thực hiện những nội dung liên quan đến thực hiện dân chủ ở cấp xã; xây dựng các kế hoạch triển khai điểm và triển khai diện; in và phát hành tài liệu về quy chế dân chủ ở xã và nhiều tài liệu khác có liên quan đến việc thực hiện quy chế dân chủ ở xã; tiến hành tập huấn, quán triệt cho các huyện, thị, thành phố trong tỉnh việc triển khai quy chế dân chủ ở xã, nhấn mạnh tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị, chú trọng và quan tâm tới các xã vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn của các dân tộc thiểu số.

Việc triển khai nghiêm túc các quy định phải công khai cho dân biết của cấp ủy, chính quyền Mặt trận Tổ quốc cấp xã các tỉnh Tây Bắc đã giúp cho người dân hiểu rõ, hiểu đúng về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và hoạt động của chính quyền cơ sở, từ đó người dân chủ động, tích cực hưởng ứng và thực hiện nghiêm túc chủ trương, kế hoạch của địa phương, điển hình là nhân dân tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Sơn La tích cực, tự nguyện tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc trên đất, thực hiện việc giải phóng mặt bằng, để xây dựng thủy điện Sơn La, thủy điện Lai Châu để đến nơi tái định cư mới; nhân dân tỉnh Hòa Bình tích cực hưởng ứng việc đóng góp ngày công trong xây dựng nông thôn mới... Việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trong việc giải quyết các công việc của nhân dân từng bước đi vào nề nếp, đã thực hiện hiệu quả nội dung chương trình cải cách hành chính nhà nước, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính; đa số các địa phương đều thực hiện việc niêm yết công khai thủ tục hành chính, quy trình giải quyết hồ sơ, phân loại thủ tục hành chính theo từng lĩnh vực và niêm yết ở những vị trí người dân tiện theo dõi; đặc biệt ở tỉnh Hòa Bình, tỉnh Sơn La đã thực hiện việc biên soạn lại nội dung ngắn gọn, dễ hiểu, dễ thấy trong hướng dẫn quy trình thủ tục một số lĩnh vực thường xuyên thực hiện, thiết thực với nhân dân như hộ tịch, tư pháp, cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất...; tỉnh Điện Biên cụ thể hóa các quy định bằng hồ sơ công việc, theo đó, mỗi thủ tục có một hồ sơ được cấp miễn phí cho các hộ dân tộc, hộ nghèo để thực hiện, có xã đồng bào dân tộc chưa thông thạo tiếng phổ thông còn phân công công chức hướng dẫn bằng tiếng dân tộc và giúp đỡ việc kê khai thủ tục...

Chính quyền cấp xã các tỉnh Tây Bắc đã tổ chức họp bàn thống nhất với nhân dân về các khoản đóng góp kinh phí xây dựng các công trình phúc lợi, lắp đặt hệ thống chiếu sáng đường giao thông ở thôn, bản, tổ dân phố để nhân dân tiện đi lại và bảo vệ an ninh nông thôn... Qua điều tra xã hội học thì hơn 70% số ý kiến được hỏi cho thấy cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc đã chủ động công khai để dân biết, tham gia ý kiến và quyết định mức đóng góp đối với từng hộ gia đình cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương. Việc tổ chức cho nhân dân bàn và quyết định trực tiếp các khoản đóng góp xây dựng các công trình phúc lợi đã được thực hiện khá nghiêm túc.

Ngoài những việc phải đưa ra để nhân dân bàn được quy định trong quy chế, một số xã ở tỉnh Sơn La còn tìm ra những vấn đề khó khăn, bức xúc nhất cần tháo gỡ trong sản xuất và đời sống để đưa ra cho nhân dân bàn như: Lựa chọn giống mới, vật tư nông nghiệp, bê tông hóa hệ thống thủy lợi nội đồng, củng cố tổ nông giang, xây dựng đường điện, nước sinh hoạt, thực hiện nghĩa vụ công dân. Một số xã của tỉnh Điện Biên đã thực hiện đưa dự thảo báo cáo tổng kết cuối năm của Ủy ban nhân dân xã về các thông để xin ý kiến tham gia của dân trước khi tổ chức họp tổng kết và kiểm điểm cuối năm. Ở tỉnh Hòa Bình, trước mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân các cấp, mọi ý kiến đóng góp của dân được tham gia trực tiếp tại các kỳ họp tiếp xúc cử tri hoặc bằng văn bản, đơn từ phản ánh đều được tiếp thu đưa vào tổng hợp và báo cáo trước hội nghị để các đại biểu thảo luận và quyết định.

Trên cơ sở những nội dung dân biết, dân bàn và quyết định hoặc những việc dân góp ý, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã quyết định, các cấp ủy đều lãnh đạo, chỉ đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân phối hợp với Mặt trận Tổ quốc chỉ đạo các trưởng thôn, bản và các tổ chức đoàn thể triển khai thực hiện.

Do làm tốt công tác triển khai cho nhân dân bàn và quyết định trực tiếp các nội dung liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là xây dựng hạ tầng cơ sở, nhất là các công trình phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội của vùng và các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, nhiều xã, phường, thị trấn trên toàn vùng Tây Bắc đã chú trọng làm tốt công tác tuyên truyền, giải thích để nhân dân hiểu rõ những lợi ích chung và lợi ích riêng của mỗi gia đình nên nhiều hộ gia đình đã tự hiến đất, chặt cây, tự di dời, tháo dỡ nhà ở để giải phóng mặt bằng, xây dựng các dự án phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, tự nguyện đóng góp kinh phí để xây dựng và mua sắm thiết bị nhà văn hóa tổ dân phố, thôn, bản; quy định về sinh hoạt dân cư; mức đóng góp quỹ an ninh trật tự; kinh phí tu tạo công trình tôn giáo, tín ngưỡng...

Đối với những việc nhân dân bàn, biểu quyết để cơ quan có thẩm quyền quyết định, người dân chủ yếu quan tâm thảo luận, đề đạt ý kiến, nguyện vọng về những vấn đề liên quan đến lợi ích thiết thực của dân như: Phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất đề án chia, tách, thành lập tổ dân phố, thôn, bản; chủ trương đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư; giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn. Qua điều tra xã hội học ở các tỉnh Tây Bắc cho thấy, về cơ bản, các dự án, đề án về quy hoạch xây dựng tổ dân phố tự quản, thôn, bản tự quản; xây dựng nông thôn mới; xây dựng các công trình phúc lợi; các phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phương án chuyển đổi ngành nghề, cơ cấu cây trồng, vật nuôi... đều đã được chính quyền cấp xã tổ chức cho nhân dân tham gia góp ý trước khi chính quyền quyết định ban hành.

2. Những hạn chế về thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã trên địa bàn các tỉnh Tây Bắc

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở tại các tỉnh Tây Bắc vẫn còn những mặt hạn chế. Có nơi, có lúc, cấp ủy Đảng và chính quyền còn lúng túng, bị động, chưa thực sự nắm chắc nội dung của pháp luật về dân chủ nên nội dung, hình thức công khai đến nhân dân chưa hiệu quả; không có tổ chức nào kiểm tra, đánh giá về nội dung, thông tin, chất lượng thông tin đến được với người dân như thế nào, do vậy mới là thông tin một chiều. Vẫn còn một số ít cán bộ cấp xã chưa phân biệt được công việc nào đưa ra dân bàn, công việc nào dân giám sát, kiểm tra; chưa đề cao vai trò của nhân dân, chưa phát huy vai trò của tổ chức nhân dân tự quản. Một số cán bộ, công chức còn chưa thực sự gương mẫu trong xây dựng nếp sống văn hóa mới; có nơi, chính quyền cấp xã còn xem nhẹ, né tránh, đối phó với những bức xúc của nhân dân.

Việc thực hiện những việc dân được bàn và được quyết cũng còn có những hạn chế. Đôi lúc, đôi nơi vẫn còn tình trạng chính quyền địa phương tự quyết định những nội dung mà lẽ ra phải do dân bàn và quyết định dẫn đến vi phạm dân chủ của nhân dân. Một số nội dung dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra chưa được triển khai cụ thể như: Việc thực hiện chế độ đền bù, giải phóng mặt bằng; thu chi ngân sách hàng năm; quy hoạch đất đai; thực hiện các Chương trình 134, 135, di dân tái định cư thủy điện Sơn La...

Hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư cộng đồng ở một số địa phương, cơ sở chưa phát huy được vai trò, trách nhiệm được giao; chưa chủ động xây dựng kế hoạch hoạt động; chất lượng còn hạn chế, do thiếu hiểu biết về chuyên môn, nghiệp vụ. Mặt khác, có nơi, có lúc, vì quan hệ dòng tộc của đồng bào dân tộc thiểu số đã kìm hãm các quan hệ trao đổi, giao lưu chỉ gói gọn trong dòng họ, chỉ nghe theo ý kiến của già làng, trưởng bản nên vẫn còn ranh giới, rào cản nhất định, vì vậy, chưa thực sự phát huy được tính dân chủ trong bàn bạc những công việc ở thôn, bản, tổ dân phố.

Qua kết quả khảo sát ở các tỉnh Tây Bắc, việc thực hiện quyền giám sát là khâu yếu hơn cả trong thực hiện dân chủ ở cơ sở. Hầu hết, việc giám sát đều qua hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát cộng đồng, nhân dân chỉ tham gia một phần nhỏ. Nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện công việc của chính quyền cơ sở là rất khó khăn, người dân khó tiếp xúc được với những tài liệu, hồ sơ cần thiết phục vụ cho việc kiểm tra, giám sát. Nhiều khiếu nại, tố cáo của nhân dân chưa được giải quyết dứt điểm và thấu đáo dẫn đến khiếu nại, khiếu kiện kéo dài gây bức xúc trong nhân dân; nhiều việc vi phạm quy chế được nhân dân phát hiện, kiến nghị nhưng bị chính quyền cơ sở gây khó dễ, không tin tưởng và còn có những thái độ thờ ơ với ý kiến của nhân dân, do đó, nhiều nơi nhân dân không mặn mà với việc giám sát của mình.

Thực trạng trên đây đã và đang gây ra những khó khăn cho việc tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả pháp luật về dân chủ cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc; tác động tiêu cực đến tiến trình cải cách hành chính, xây dựng chính quyền cấp xã trong sạch, vững mạnh; làm giảm lòng tin của nhân dân các tỉnh Tây Bắc đối với hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước.

3. Một số giải pháp

Để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ cấp xã trên địa bàn các tỉnh Tây Bắc, cần nghiên cứu, thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật về dân chủ cấp xã. Hệ thống pháp luật và mức độ hoàn thiện của nó có tác động mạnh mẽ tới chất lượng, hiệu quả của hoạt động thực hiện pháp luật. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã là một trong những yêu cầu khách quan để nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này. Trong đó, cần tập trung: Ban hành Luật Dân chủ ở xã, phường, thị trấn và tiếp tục luật hóa những hình thức thực hiện dân chủ khác ở cơ sở thay thế cho Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007; xây dựng và ban hành Luật Hoạt động giám sát của nhân dân, theo đó, quy định đầy đủ và rõ ràng về nội dung, hình thức, cơ chế và hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc. Đồng thời, luật cũng quy định rõ về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trước các yêu cầu kiến nghị giám sát của Mặt trận cũng như bảo đảm những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện quyền và trách nhiệm giám sát của Mặt trận Tổ quốc; thực hiện có hiệu quả Luật Trưng cầu ý dân năm 2015 để nhân dân được quyết định trực tiếp nhiều vấn đề thiết thực và đó là hình thức trực tiếp cao nhất thể hiện quyền lực nhân dân; nghiên cứu và xây dựng pháp luật về phản biện xã hội để nâng cao chất lượng công tác giám sát và phản biện xã hội, phát huy vai trò của của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, phản biện xã hội sớm được tiến hành như một hình thức dân chủ trực tiếp hiệu quả trong đời sống xã hội, đòi hỏi nhanh chóng nghiên cứu và ban hành pháp luật về vấn đề này. Trong đó, cần quy định rõ ràng các vấn đề như đối tượng, nội dung, hình thức, cơ chế, trình tự phản biện xã hội; vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong phản biện xã hội.

Thứ hai, hoàn thiện chế độ, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Thực tiễn cho thấy, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quan trọng, quyết định sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa ở địa phương, trong đó chế độ, chính sách đãi ngộ có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng, hiệu quả công việc của cán bộ, công chức cấp xã. Nếu chế độ, chính sách đầy đủ, phù hợp thì cán bộ, công chức sẽ hăng say công tác và có những cống hiến trong công việc; ngược lại, nếu chế độ, chính sách không đầy đủ, bất hợp lý thì cán bộ, công chức cấp xã sẽ làm việc cầm chừng, không toàn tâm, toàn ý với công việc. Thực tiễn triển khai thực hiện các quy định về chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ cấp xã hiện nay vẫn còn bất cập về chế độ tiền lương, chế độ phụ cấp, chế độ bảo hiểm xã hội, nhất là chế độ, chính sách áp dụng cho cán bộ, công chức cấp xã còn khá thấp so với mặt bằng thu nhập của người lao động nói chung, chưa có chế độ đặc thù cho cán bộ, công chức cấp xã làm việc tại các địa bàn đặc biệt khó khăn nên chưa thực sự là động lực, động viên khích lệ họ làm việc. Vì vậy, cần phải hoàn thiện chế độ, chính sách đãi ngộ để động viên cán bộ, công chức cấp xã nói chung và ở các tỉnh Tây Bắc nói riêng yên tâm công tác, ngăn ngừa tiêu cực.

Thứ ba, cần tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy ở các tỉnh Tây Bắc trong thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã. Xây dựng và thực hiện pháp luật dân chủ ở cấp xã cũng như quá trình phát huy dân chủ nói chung phải đặt dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng. Đây vừa là vấn đề lý luận vừa là kinh nghiệm thực tế; giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, đặc biệt đối với các tỉnh Tây Bắc. Các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các tỉnh Tây Bắc cần xác định việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên và lâu dài; là biện pháp làm thay đổi căn bản cách thức điều hành, giải quyết công việc nên chỉ đạo quá trình dân chủ phải quán triệt quan điểm đồng bộ, hệ thống. Đồng bộ từ chủ trương của các cấp ủy Đảng đến thể chế hóa thành các văn bản của các cấp chính quyền, đồng bộ giữa chủ trương và chỉ đạo thực hiện, đồng bộ cả ở cơ sở và cấp trên cơ sở, trong cả hệ thống chính trị trên cả ba mặt: Dân chủ, dân sinh, dân trí. Bên cạnh đó, muốn cho dân chủ trở thành nề nếp trong đời sống hàng ngày của xã hội, phải coi việc thực hiện pháp luật về dân chủ cấp xã là một nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách và thường xuyên, lâu dài của tổ chức Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp; phải gắn việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, từng mặt công tác và trách nhiệm của từng cá nhân, nhất là của người đứng đầu.

Thứ tư, cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về dân chủ cấp xã cho toàn thể nhân dân ở các tỉnh Tây Bắc. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về dân chủ cấp xã cho toàn thể nhân dân ở các tỉnh Tây Bắc nhằm mục đích cung cấp, trang bị cho mỗi người dân kiến thức, hiểu biết pháp luật về thực hiện dân chủ cấp xã, bao gồm các quyền dân chủ của nhân dân, trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức cấp xã, trưởng thôn, bản, nhân dân trong thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã, từ đó hình thành trong nhân dân các tỉnh Tây Bắc thái độ, niềm tin với pháp luật, tạo dựng thói quen, lối sống, hành vi xử sự tích cực trong thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc hiện nay. Bởi lẽ, kiến thức, hiểu biết pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở là tiền đề, nền tảng để nhân dân phát huy các quyền dân chủ của mình theo luật định. Trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân các tỉnh Tây Bắc cũng cần chú trọng phương pháp, hình thức, nội dung tuyên truyền phù hợp với trình độ dân trí và bản sắc văn hóa dân tộc của nhân dân các tỉnh Tây Bắc.

ThS. Nguyễn Thanh Huyền

Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Điện Biên

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: