Thứ ba 17/03/2026 02:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Bài viết đánh giá về những kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc, đồng thời chỉ ra những tồn tại và đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm thực hiện tốt pháp luật về dân chủ cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc trong thời gian tới.

Tóm tắt: Bài viết đánh giá về những kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc, đồng thời chỉ ra những tồn tại và đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm thực hiện tốt pháp luật về dân chủ cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc trong thời gian tới.

Abstract: The article makes assessments on achieved results in the implemention of democracy law at village level in the Northwest provinces, at the same time, points out remaining problems and proposes suitable solutions for best implementation of democracy law at village level in Northwest provinces in the coming time.

1. Những kết quả đạt được về thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã trên địa bàn các tỉnh Tây Bắc

Thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã được lãnh đạo các tỉnh Tây Bắc quan tâm, chú trọng. Các chuyên mục về quy chế dân chủ, thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn được xây dựng và triển khai trên hệ thống Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, loa truyền thanh, báo của địa phương nhằm tuyên truyền sâu rộng đến từng người dân. Từ cấp tỉnh đến cấp xã đều thành lập Ban Chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và được kiện toàn, bổ sung. Các Ban Chỉ đạo ở các tỉnh Tây Bắc đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể tổ chức họp quán triệt các chỉ thị, nghị quyết, thông tư hướng dẫn của Chính phủ, của các bộ, ngành trung ương; nghiên cứu các nội dung trong quy chế dân chủ ở xã, phân công các thành viên trong Ban Chỉ đạo phụ trách ở các lĩnh vực, địa phương; ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn cấp dưới thực hiện những nội dung liên quan đến thực hiện dân chủ ở cấp xã; xây dựng các kế hoạch triển khai điểm và triển khai diện; in và phát hành tài liệu về quy chế dân chủ ở xã và nhiều tài liệu khác có liên quan đến việc thực hiện quy chế dân chủ ở xã; tiến hành tập huấn, quán triệt cho các huyện, thị, thành phố trong tỉnh việc triển khai quy chế dân chủ ở xã, nhấn mạnh tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị, chú trọng và quan tâm tới các xã vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn của các dân tộc thiểu số.

Việc triển khai nghiêm túc các quy định phải công khai cho dân biết của cấp ủy, chính quyền Mặt trận Tổ quốc cấp xã các tỉnh Tây Bắc đã giúp cho người dân hiểu rõ, hiểu đúng về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và hoạt động của chính quyền cơ sở, từ đó người dân chủ động, tích cực hưởng ứng và thực hiện nghiêm túc chủ trương, kế hoạch của địa phương, điển hình là nhân dân tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Sơn La tích cực, tự nguyện tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc trên đất, thực hiện việc giải phóng mặt bằng, để xây dựng thủy điện Sơn La, thủy điện Lai Châu để đến nơi tái định cư mới; nhân dân tỉnh Hòa Bình tích cực hưởng ứng việc đóng góp ngày công trong xây dựng nông thôn mới... Việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trong việc giải quyết các công việc của nhân dân từng bước đi vào nề nếp, đã thực hiện hiệu quả nội dung chương trình cải cách hành chính nhà nước, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính; đa số các địa phương đều thực hiện việc niêm yết công khai thủ tục hành chính, quy trình giải quyết hồ sơ, phân loại thủ tục hành chính theo từng lĩnh vực và niêm yết ở những vị trí người dân tiện theo dõi; đặc biệt ở tỉnh Hòa Bình, tỉnh Sơn La đã thực hiện việc biên soạn lại nội dung ngắn gọn, dễ hiểu, dễ thấy trong hướng dẫn quy trình thủ tục một số lĩnh vực thường xuyên thực hiện, thiết thực với nhân dân như hộ tịch, tư pháp, cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất...; tỉnh Điện Biên cụ thể hóa các quy định bằng hồ sơ công việc, theo đó, mỗi thủ tục có một hồ sơ được cấp miễn phí cho các hộ dân tộc, hộ nghèo để thực hiện, có xã đồng bào dân tộc chưa thông thạo tiếng phổ thông còn phân công công chức hướng dẫn bằng tiếng dân tộc và giúp đỡ việc kê khai thủ tục...

Chính quyền cấp xã các tỉnh Tây Bắc đã tổ chức họp bàn thống nhất với nhân dân về các khoản đóng góp kinh phí xây dựng các công trình phúc lợi, lắp đặt hệ thống chiếu sáng đường giao thông ở thôn, bản, tổ dân phố để nhân dân tiện đi lại và bảo vệ an ninh nông thôn... Qua điều tra xã hội học thì hơn 70% số ý kiến được hỏi cho thấy cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc đã chủ động công khai để dân biết, tham gia ý kiến và quyết định mức đóng góp đối với từng hộ gia đình cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương. Việc tổ chức cho nhân dân bàn và quyết định trực tiếp các khoản đóng góp xây dựng các công trình phúc lợi đã được thực hiện khá nghiêm túc.

Ngoài những việc phải đưa ra để nhân dân bàn được quy định trong quy chế, một số xã ở tỉnh Sơn La còn tìm ra những vấn đề khó khăn, bức xúc nhất cần tháo gỡ trong sản xuất và đời sống để đưa ra cho nhân dân bàn như: Lựa chọn giống mới, vật tư nông nghiệp, bê tông hóa hệ thống thủy lợi nội đồng, củng cố tổ nông giang, xây dựng đường điện, nước sinh hoạt, thực hiện nghĩa vụ công dân. Một số xã của tỉnh Điện Biên đã thực hiện đưa dự thảo báo cáo tổng kết cuối năm của Ủy ban nhân dân xã về các thông để xin ý kiến tham gia của dân trước khi tổ chức họp tổng kết và kiểm điểm cuối năm. Ở tỉnh Hòa Bình, trước mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân các cấp, mọi ý kiến đóng góp của dân được tham gia trực tiếp tại các kỳ họp tiếp xúc cử tri hoặc bằng văn bản, đơn từ phản ánh đều được tiếp thu đưa vào tổng hợp và báo cáo trước hội nghị để các đại biểu thảo luận và quyết định.

Trên cơ sở những nội dung dân biết, dân bàn và quyết định hoặc những việc dân góp ý, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã quyết định, các cấp ủy đều lãnh đạo, chỉ đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân phối hợp với Mặt trận Tổ quốc chỉ đạo các trưởng thôn, bản và các tổ chức đoàn thể triển khai thực hiện.

Do làm tốt công tác triển khai cho nhân dân bàn và quyết định trực tiếp các nội dung liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là xây dựng hạ tầng cơ sở, nhất là các công trình phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội của vùng và các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, nhiều xã, phường, thị trấn trên toàn vùng Tây Bắc đã chú trọng làm tốt công tác tuyên truyền, giải thích để nhân dân hiểu rõ những lợi ích chung và lợi ích riêng của mỗi gia đình nên nhiều hộ gia đình đã tự hiến đất, chặt cây, tự di dời, tháo dỡ nhà ở để giải phóng mặt bằng, xây dựng các dự án phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, tự nguyện đóng góp kinh phí để xây dựng và mua sắm thiết bị nhà văn hóa tổ dân phố, thôn, bản; quy định về sinh hoạt dân cư; mức đóng góp quỹ an ninh trật tự; kinh phí tu tạo công trình tôn giáo, tín ngưỡng...

Đối với những việc nhân dân bàn, biểu quyết để cơ quan có thẩm quyền quyết định, người dân chủ yếu quan tâm thảo luận, đề đạt ý kiến, nguyện vọng về những vấn đề liên quan đến lợi ích thiết thực của dân như: Phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất đề án chia, tách, thành lập tổ dân phố, thôn, bản; chủ trương đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư; giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn. Qua điều tra xã hội học ở các tỉnh Tây Bắc cho thấy, về cơ bản, các dự án, đề án về quy hoạch xây dựng tổ dân phố tự quản, thôn, bản tự quản; xây dựng nông thôn mới; xây dựng các công trình phúc lợi; các phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phương án chuyển đổi ngành nghề, cơ cấu cây trồng, vật nuôi... đều đã được chính quyền cấp xã tổ chức cho nhân dân tham gia góp ý trước khi chính quyền quyết định ban hành.

2. Những hạn chế về thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã trên địa bàn các tỉnh Tây Bắc

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở tại các tỉnh Tây Bắc vẫn còn những mặt hạn chế. Có nơi, có lúc, cấp ủy Đảng và chính quyền còn lúng túng, bị động, chưa thực sự nắm chắc nội dung của pháp luật về dân chủ nên nội dung, hình thức công khai đến nhân dân chưa hiệu quả; không có tổ chức nào kiểm tra, đánh giá về nội dung, thông tin, chất lượng thông tin đến được với người dân như thế nào, do vậy mới là thông tin một chiều. Vẫn còn một số ít cán bộ cấp xã chưa phân biệt được công việc nào đưa ra dân bàn, công việc nào dân giám sát, kiểm tra; chưa đề cao vai trò của nhân dân, chưa phát huy vai trò của tổ chức nhân dân tự quản. Một số cán bộ, công chức còn chưa thực sự gương mẫu trong xây dựng nếp sống văn hóa mới; có nơi, chính quyền cấp xã còn xem nhẹ, né tránh, đối phó với những bức xúc của nhân dân.

Việc thực hiện những việc dân được bàn và được quyết cũng còn có những hạn chế. Đôi lúc, đôi nơi vẫn còn tình trạng chính quyền địa phương tự quyết định những nội dung mà lẽ ra phải do dân bàn và quyết định dẫn đến vi phạm dân chủ của nhân dân. Một số nội dung dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra chưa được triển khai cụ thể như: Việc thực hiện chế độ đền bù, giải phóng mặt bằng; thu chi ngân sách hàng năm; quy hoạch đất đai; thực hiện các Chương trình 134, 135, di dân tái định cư thủy điện Sơn La...

Hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư cộng đồng ở một số địa phương, cơ sở chưa phát huy được vai trò, trách nhiệm được giao; chưa chủ động xây dựng kế hoạch hoạt động; chất lượng còn hạn chế, do thiếu hiểu biết về chuyên môn, nghiệp vụ. Mặt khác, có nơi, có lúc, vì quan hệ dòng tộc của đồng bào dân tộc thiểu số đã kìm hãm các quan hệ trao đổi, giao lưu chỉ gói gọn trong dòng họ, chỉ nghe theo ý kiến của già làng, trưởng bản nên vẫn còn ranh giới, rào cản nhất định, vì vậy, chưa thực sự phát huy được tính dân chủ trong bàn bạc những công việc ở thôn, bản, tổ dân phố.

Qua kết quả khảo sát ở các tỉnh Tây Bắc, việc thực hiện quyền giám sát là khâu yếu hơn cả trong thực hiện dân chủ ở cơ sở. Hầu hết, việc giám sát đều qua hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát cộng đồng, nhân dân chỉ tham gia một phần nhỏ. Nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện công việc của chính quyền cơ sở là rất khó khăn, người dân khó tiếp xúc được với những tài liệu, hồ sơ cần thiết phục vụ cho việc kiểm tra, giám sát. Nhiều khiếu nại, tố cáo của nhân dân chưa được giải quyết dứt điểm và thấu đáo dẫn đến khiếu nại, khiếu kiện kéo dài gây bức xúc trong nhân dân; nhiều việc vi phạm quy chế được nhân dân phát hiện, kiến nghị nhưng bị chính quyền cơ sở gây khó dễ, không tin tưởng và còn có những thái độ thờ ơ với ý kiến của nhân dân, do đó, nhiều nơi nhân dân không mặn mà với việc giám sát của mình.

Thực trạng trên đây đã và đang gây ra những khó khăn cho việc tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả pháp luật về dân chủ cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc; tác động tiêu cực đến tiến trình cải cách hành chính, xây dựng chính quyền cấp xã trong sạch, vững mạnh; làm giảm lòng tin của nhân dân các tỉnh Tây Bắc đối với hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước.

3. Một số giải pháp

Để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ cấp xã trên địa bàn các tỉnh Tây Bắc, cần nghiên cứu, thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật về dân chủ cấp xã. Hệ thống pháp luật và mức độ hoàn thiện của nó có tác động mạnh mẽ tới chất lượng, hiệu quả của hoạt động thực hiện pháp luật. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã là một trong những yêu cầu khách quan để nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này. Trong đó, cần tập trung: Ban hành Luật Dân chủ ở xã, phường, thị trấn và tiếp tục luật hóa những hình thức thực hiện dân chủ khác ở cơ sở thay thế cho Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007; xây dựng và ban hành Luật Hoạt động giám sát của nhân dân, theo đó, quy định đầy đủ và rõ ràng về nội dung, hình thức, cơ chế và hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc. Đồng thời, luật cũng quy định rõ về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trước các yêu cầu kiến nghị giám sát của Mặt trận cũng như bảo đảm những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện quyền và trách nhiệm giám sát của Mặt trận Tổ quốc; thực hiện có hiệu quả Luật Trưng cầu ý dân năm 2015 để nhân dân được quyết định trực tiếp nhiều vấn đề thiết thực và đó là hình thức trực tiếp cao nhất thể hiện quyền lực nhân dân; nghiên cứu và xây dựng pháp luật về phản biện xã hội để nâng cao chất lượng công tác giám sát và phản biện xã hội, phát huy vai trò của của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, phản biện xã hội sớm được tiến hành như một hình thức dân chủ trực tiếp hiệu quả trong đời sống xã hội, đòi hỏi nhanh chóng nghiên cứu và ban hành pháp luật về vấn đề này. Trong đó, cần quy định rõ ràng các vấn đề như đối tượng, nội dung, hình thức, cơ chế, trình tự phản biện xã hội; vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong phản biện xã hội.

Thứ hai, hoàn thiện chế độ, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Thực tiễn cho thấy, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quan trọng, quyết định sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa ở địa phương, trong đó chế độ, chính sách đãi ngộ có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng, hiệu quả công việc của cán bộ, công chức cấp xã. Nếu chế độ, chính sách đầy đủ, phù hợp thì cán bộ, công chức sẽ hăng say công tác và có những cống hiến trong công việc; ngược lại, nếu chế độ, chính sách không đầy đủ, bất hợp lý thì cán bộ, công chức cấp xã sẽ làm việc cầm chừng, không toàn tâm, toàn ý với công việc. Thực tiễn triển khai thực hiện các quy định về chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ cấp xã hiện nay vẫn còn bất cập về chế độ tiền lương, chế độ phụ cấp, chế độ bảo hiểm xã hội, nhất là chế độ, chính sách áp dụng cho cán bộ, công chức cấp xã còn khá thấp so với mặt bằng thu nhập của người lao động nói chung, chưa có chế độ đặc thù cho cán bộ, công chức cấp xã làm việc tại các địa bàn đặc biệt khó khăn nên chưa thực sự là động lực, động viên khích lệ họ làm việc. Vì vậy, cần phải hoàn thiện chế độ, chính sách đãi ngộ để động viên cán bộ, công chức cấp xã nói chung và ở các tỉnh Tây Bắc nói riêng yên tâm công tác, ngăn ngừa tiêu cực.

Thứ ba, cần tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy ở các tỉnh Tây Bắc trong thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã. Xây dựng và thực hiện pháp luật dân chủ ở cấp xã cũng như quá trình phát huy dân chủ nói chung phải đặt dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng. Đây vừa là vấn đề lý luận vừa là kinh nghiệm thực tế; giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, đặc biệt đối với các tỉnh Tây Bắc. Các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các tỉnh Tây Bắc cần xác định việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên và lâu dài; là biện pháp làm thay đổi căn bản cách thức điều hành, giải quyết công việc nên chỉ đạo quá trình dân chủ phải quán triệt quan điểm đồng bộ, hệ thống. Đồng bộ từ chủ trương của các cấp ủy Đảng đến thể chế hóa thành các văn bản của các cấp chính quyền, đồng bộ giữa chủ trương và chỉ đạo thực hiện, đồng bộ cả ở cơ sở và cấp trên cơ sở, trong cả hệ thống chính trị trên cả ba mặt: Dân chủ, dân sinh, dân trí. Bên cạnh đó, muốn cho dân chủ trở thành nề nếp trong đời sống hàng ngày của xã hội, phải coi việc thực hiện pháp luật về dân chủ cấp xã là một nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách và thường xuyên, lâu dài của tổ chức Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp; phải gắn việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, từng mặt công tác và trách nhiệm của từng cá nhân, nhất là của người đứng đầu.

Thứ tư, cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về dân chủ cấp xã cho toàn thể nhân dân ở các tỉnh Tây Bắc. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về dân chủ cấp xã cho toàn thể nhân dân ở các tỉnh Tây Bắc nhằm mục đích cung cấp, trang bị cho mỗi người dân kiến thức, hiểu biết pháp luật về thực hiện dân chủ cấp xã, bao gồm các quyền dân chủ của nhân dân, trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức cấp xã, trưởng thôn, bản, nhân dân trong thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã, từ đó hình thành trong nhân dân các tỉnh Tây Bắc thái độ, niềm tin với pháp luật, tạo dựng thói quen, lối sống, hành vi xử sự tích cực trong thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc hiện nay. Bởi lẽ, kiến thức, hiểu biết pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở là tiền đề, nền tảng để nhân dân phát huy các quyền dân chủ của mình theo luật định. Trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân các tỉnh Tây Bắc cũng cần chú trọng phương pháp, hình thức, nội dung tuyên truyền phù hợp với trình độ dân trí và bản sắc văn hóa dân tộc của nhân dân các tỉnh Tây Bắc.

ThS. Nguyễn Thanh Huyền

Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Điện Biên

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: