Thứ sáu 13/03/2026 18:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về căn cứ hoãn phiên tòa sơ thẩm vụ án hành chính

Hiện nay, quy định của pháp luật về căn cứ hoãn phiên tòa sơ thẩm vụ án hành chính khi áp dụng trên thực tiễn còn nhiều bất cập. Bài viết này phân tích về thực trạng áp dụng các quy định về căn cứ hoãn phiên tòa sơ thẩm vụ án hành chính trên thực tiễn và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện quy định này.

1. Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về căn cứ hoãn phiên tòa sơ thẩm vụ án hành chính


Thứ nhất, nhiều trường hợp hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa không căn cứ vào quy định của Luật Tố tụng hành chính
Trong thực tiễn xét xử của Tòa án, có nhiều trường hợp, hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa không dựa vào các căn cứ do luật định nhưng lại được đánh giá là phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Ngược lại, nếu rơi vào các trường hợp tương tự nhưng hội đồng xét xử không ra quyết định hoãn phiên tòa mà vẫn tiến hành xét xử thì lại bị xem là làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể có liên quan.

Cụ thể, vụ án của ông Hoàng Xuân Quế khởi kiện đối với Quyết định hành chính của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc thu hồi bằng tiến sĩ đối với ông Hoàng Xuân Quế. Ngày 28/7/2014, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa sơ thẩm vụ án hành chính và phải ra quyết định hoãn phiên tòa vì lý do đại diện của Bộ Giáo dục và Đào tạo vắng mặt. Đến ngày 04/8/2014, Tòa án tiếp tục mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ hai, một lần nữa, hội đồng xét xử phải ban hành quyết định hoãn phiên tòa với lý do người khởi kiện vắng mặt vì lý do sức khỏe[1]. Hoặc vụ án ông Lê Văn Lý - nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Hùng Vương khởi kiện Quyết định của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc không công nhận chức danh Hiệu trưởng Trường Đại học Hùng Vương đối với ông Lý[2]. Phiên tòa sơ thẩm vụ án hành chính diễn ra vào ngày 03, 04/12/2013. Tại phiên tòa ngày 04/12/2013, hội đồng xét xử đã ra quyết định hoãn phiên tòa theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân với lý do để triệu tập thêm nhân chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Những căn cứ hoãn phiên tòa vì lý do sức khỏe hay để triệu tập thêm nhân chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên không thuộc căn cứ hoãn phiên tòa quy định tại Luật Tố tụng hành chính (Điều 136 Luật Tố tụng hành chính năm 2010, Điều 162 Luật Tố tụng hành chính năm 2015).

Đặc biệt, trên thực tế cũng xảy ra trường hợp, trong lần triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự vắng mặt vì lý do sức khỏe, hội đồng xét xử không hoãn phiên tòa mà vẫn tiến hành xét xử bình thường theo quy định của pháp luật thì bị xem là không đảm bảo được quyền lợi của các đương sự nên bản án hay quyết định của Tòa án sơ thẩm bị hủy để xét xử sơ thẩm lại[3].

Như vậy, thực tiễn xảy ra trường hợp hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa không dựa vào căn cứ quy định tại Luật Tố tụng hành chính xuất phát từ lý do Luật Tố tụng hành chính đã không quy định khi Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc trường hợp cần triệu tập thêm nhân chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là những căn cứ để hoãn phiên tòa sơ thẩm vụ án hành chính. Tuy nhiên, thực tế xét xử trong các tình huống này, hội đồng xét xử vẫn ra quyết định hoãn phiên tòa để đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thực tiễn.

Thứ hai, trong lần triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự (chủ yếu là người bị kiện) vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do dẫn đến việc giải quyết vụ án kéo dài, không đảm bảo được quyền lợi của các đương sự trong vụ án hành chính

Trên thực tế, khi được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nhiều trường hợp đương sự (chủ yếu là người bị kiện) thường không có mặt tại phiên tòa và cũng không có đơn xét xử vắng mặt nên hội đồng xét xử bắt buộc phải ra quyết định hoãn phiên tòa[4]. Trong khi đó, cũng có một số ít trường hợp, Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt và không có đơn xét xử vắng mặt nhưng hội đồng xét xử không hoãn phiên tòa mà vẫn tiếp tục xét xử vì nhận định đương sự đã từ bỏ quyền. Cụ thể, ông K khởi kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đ. Ngoài người khởi kiện và người bị kiện, Tòa án xác định bà N cũng là người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà N không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập và cũng không có tường trình nêu hoặc gửi ý kiến của mình đến Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của ông K. Tại phiên tòa sơ thẩm lần đầu tiên, bà N vẫn tiếp tục vắng mặt không lý do, xét thấy bà N đã tự từ bỏ quyền và lợi ích của mình từ giai đoạn chuẩn bị xét xử nên sự vắng mặt của bà N tại phiên tòa không ảnh hưởng đến tiến trình của phiên tòa và Viện kiểm sát cũng đề nghị hội đồng xét xử xử vắng mặt bà N mà không cần thiết phải hoãn phiên tòa. Do đó, hội đồng xét xử không hoãn phiên tòa mà vẫn tiến hành xét xử bình thường[5].

Xảy ra tình trạng như trên xuất phát từ nhiều lý do. Trước hết là về quy định của pháp luật. Cụ thể là Luật Tố tụng hành chính quy định khi Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt mà không có đơn xét xử vắng mặt thì Tòa án phải hoãn phiên tòa. Bên cạnh đó, sự không rõ ràng trong việc quy định tham gia phiên tòa có phải là nghĩa vụ của đương sự hay không dẫn đến một hạn chế lớn hơn là không có cơ chế đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ tham gia phiên tòa của các đương sự. Các quy định này đã vô tình tạo điều kiện cho đương sự (chủ yếu người bị kiện) trì hoãn hoạt động xét xử, kéo dài thời gian tố tụng khiến mục đích của phiên tòa sơ thẩm là giải quyết nhanh chóng vụ án hành chính không được thực hiện triệt để và có hiệu quả. Ngoài ra, một nguyên nhân nữa là do ý thức pháp luật của chủ thể tham gia tố tụng còn hạn chế.

2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật

Một là, bổ sung các căn cứ hoãn phiên tòa

Có thể thấy, các căn cứ quy định tại Điều 162 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 không bao quát hết các trường hợp hoãn phiên tòa. Điều này khiến cho hội đồng xét xử lúng túng trong quá trình giải quyết vụ án khi xảy ra trường hợp thực tế buộc phải hoãn phiên tòa. Trong những trường hợp này, nếu hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa thì không có cơ sở pháp lý nhưng nếu không ra quyết định hoãn phiên tòa thì không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, dẫn đến bản án sơ thẩm không phù hợp với sự thật khách quan. Do đó, theo tác giả, cần bổ sung một số căn cứ nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về hoãn phiên tòa sơ thẩm để đảm bảo tính có căn cứ và thống nhất trong hoạt động áp dụng pháp luật. Cụ thể:

- Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cần bổ sung căn cứ hoãn phiên tòa trong những trường hợp: Đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khi Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai; cần triệu tập thêm một số chủ thể có liên quan. Có thể thấy, việc bổ sung các căn cứ hoãn phiên tòa này sẽ đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của thực tiễn và có ý nghĩa trong việc giải quyết khách quan vụ án hành chính.

- Luật cũng cần ghi nhận thêm trường hợp hoãn phiên tòa khi các đương sự có yêu cầu bổ sung chứng cứ mới. Vì đương sự có quyền cung cấp chứng cứ bất kì thời điểm nào trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, nếu đương sự muốn bổ sung thêm chứng cứ mới liên quan đến vụ án để chứng minh cho yêu cầu của họ nhưng việc thu thập chứng cứ đòi hỏi các chủ thể này phải có thời gian nên cần phải hoãn phiên tòa. Quy định này bảo đảm quyền cung cấp chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh của đương sự, giúp việc giải quyết vụ án toàn diện và khách quan.

Hai là, sửa đổi quy định tại khoản 1 Điều 157 Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì khi “Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”. Quy định này đã vô tình tạo điều kiện cho các đương sự (đặc biệt là người bị kiện) trì hoãn hoạt động xét xử, gây nhiều khó khăn trong việc tiến hành phiên tòa, làm lãng phí thời gian, tốn kém về kinh phí, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Do vậy, theo tác giả, cần sửa lại quy định này theo hướng, nếu trong lần triệu tập hợp lệ lần nhất mà đương sự, người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt tại phiên tòa không vì lý do chính đáng, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử bình thường mà không phải hoãn phiên tòa. Cụ thể, “Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự, người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; trường hợp có người vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.

Ba là, cần quy định rõ ràng về việc xử lý trách nhiệm khi đương sự được triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia phiên tòa

Luật Tố tụng hành chính cần xác định rõ việc tham gia phiên tòa đồng thời vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của đương sự, có như vậy mới tạo nên cơ sở trách nhiệm cho các đương sự nhất là người bị kiện thực hiện nghĩa vụ này. Sở dĩ nói như vậy vì đương sự gồm người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, trong đó, thực tế người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều mong muốn vụ án được giải quyết, vì vậy họ tích cực tham gia phiên tòa. Hơn nữa, với hai nhóm đương sự này, theo Điều 157 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, nếu họ vắng mặt thì có thể phải chịu hậu quả pháp lý là Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu của họ. Vì vậy, đa phần các trường hợp không tham gia phiên tòa rơi vào nhóm đương sự là người bị kiện, xuất phát từ thực tế người bị kiện không mấy “mặn mà” với việc giải quyết vụ án hành chính, thêm vào đó, hầu như không có quy định về cơ chế bắt buộc họ phải tham gia phiên tòa.

Vì vậy, cần xác định ngay tại Điều 55 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 rằng đương sự có quyền và nghĩa vụ tham gia phiên tòa theo triệu tập của Tòa án, trên cơ sở đó, hoàn thiện các quy định xử lý có liên quan nếu đương sự cố tình không chấp hành giấy triệu tập tham gia phiên tòa. Theo tác giả, cần quy định rõ ràng về việc xử lý trách nhiệm khi đương sự được triệu tập không tham gia phiên tòa. Trước hết cần đặt vấn đề xử lý trách nhiệm của chính đương sự là cá nhân người bị kiện nếu là người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước, người đứng đầu cơ quan nhà nước nếu người bị kiện là cơ quan[6]. Sau đó, còn phải đặt trách nhiệm đối với cả người được các chủ thể trên ủy quyền. Có như vậy mới giải quyết được triệt để các bất cập, nhằm nâng cao trách nhiệm của cá nhân người bị kiện, người đứng đầu cơ quan bị kiện và cả người được các chủ thể này ủy quyền. Trên cơ sở đó, cần có những quy định về xử lý trách nhiệm khi đương sự không thực hiện nghĩa vụ tham gia phiên tòa. Hiện nay, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và pháp luật có liên quan chưa quy định về vấn đề này. Về việc xử lý trách nhiệm đối với người bị kiện, theo tác giả có hai biện pháp xử lý, đó là xử lý kỷ luật và xử lý vi phạm hành chính. Ở biện pháp xử lý kỷ luật, nhất thiết phải quy định việc xử lý cán bộ, công chức khi họ không thực hiện trách nhiệm này. Còn với biện pháp xử lý vi phạm hành chính, kiến nghị cần sớm ghi nhận về vi phạm hành chính đối với các trường hợp vi phạm nghĩa vụ của đương sự trong các vụ án, trong đó có nghĩa vụ tham gia phiên tòa.

ThS. Nguyễn Thanh Quyên & ThS. Nguyễn Mai Anh

Khoa Luật hành chính - nhà nước, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] http://infonet.vn/hoan-xu-vu-kien-bo-truong-gddt-vi-nguoi-khoi-kien-bi-om-post139359.info (truy cập ngày 10/5/2017).

[2] https://vnexpress.net/tin-tuc/phap-luat/nguyen-hieu-truong-dh-hung-vuong-kien-ubnd-tp-hcm-2918677.html (truy cập ngày 10/5/2017).

[3] Chẳng hạn như Quyết định sơ thẩm Số 52/2017/QĐST-HC ngày 25/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định, Quyết định phúc thẩm số 41/2018/QĐ-PT của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

[4] Tham khảo tại: Bản án số 22/2017/HC-ST ngày 14/9/2017 về khiếu kiện quyết định hành chính về việc đền bù thiệt hại, giải tỏa di dời khi Nhà nước thu hồi đất của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; http://infonet.vn/hoan-xu-vu-kien-bo-truong-gddt-vi-nguoi-khoi-kien-bi-om-post139359.info (truy cập ngày 10/5/2017); http://www.caphedaklak.com/vu-kien-hanh-chinh-truong-mam-non-1-6-toa-sai-vien-kiem-sat-dung/8146/ (truy cập ngày 06/5/2018); http://www.baomoi.com/Vu-Cong-ty-dau-tam-to-Tan-Loc-thang-kien-UBND-tinh-Dong-Nai-Bi-don-rutkhang-cao-phut-89/58/12299142.epi (truy cập ngày 10/6/2017).

[5] Bản án số 31/2017/HC-ST ngày 28/9/2017 về khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

[6] Trịnh Đức Thảo (2010), “Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (18), tr. 19.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: