Thứ bảy 07/02/2026 20:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn áp dụng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) có một ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự và cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội, là một trong bốn căn cứ để Tòa án cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) có một ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự và cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội, là một trong bốn căn cứ để Tòa án cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt. Trong tất cả các tình tiết giảm nhẹ TNHS thì tình tiết “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) là một trong những quy định không mới được áp dụng từ Bộ luật Hình sự năm 1985 và trong hầu hết các vụ án hình sự. Trước đây, tình tiết giảm nhẹ này được ghép chung với tình tiết “phạm tội mà chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”[1]. Qua các lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự, tình tiết giảm nhẹ TNHS “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” không có sự thay đổi về mặt nội dung, nhưng được tách ra thành một quy định riêng biệt, độc lập[2] khi áp dụng giải quyết vụ án hình sự. Xoay quanh việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, hiện nay, vẫn còn những quan điểm khác nhau, chưa có sự thống nhất. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, bài viết này tập trung nghiên cứu, phân tích những nội dung chưa thống nhất theo quy định của pháp luật, từ đó, đưa ra quan điểm, lập luận và kiến nghị để áp dụng thống nhất tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.

1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1.1. Khái niệm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Bộ luật Hình sự năm 2015 không nêu khái niệm mà sử dụng phương pháp liệt kê các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51. Dưới góc độ khoa học pháp lý, theo cách hiểu đơn giản và chung nhất được thừa nhận phổ biến hiện nay thì các tình tiết giảm nhẹ TNHS là những tình tiết làm cho tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm giảm đi so với trường hợp không có tình tiết giảm nhẹ TNHS. Hậu quả pháp lý là người phạm tội có các tình tiết giảm nhẹ sẽ được giảm mức hình phạt trong phạm vi một khung hình phạt nhất định hoặc áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt[3].

1.2. Đặc điểm, ý nghĩa của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1.2.1. Đặc điểm của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Căn cứ vào các quy định của pháp luật, tình tiết giảm nhẹ TNHS mang các đặc điểm chính sau:

Thứ nhất, các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự năm 2015 và văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Như vậy, các tình tiết giảm nhẹ TNHS phải được luật định. Tòa án có thể tự mình xem xét, cân nhắc coi những tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ TNHS và ghi rõ lý do trong bản án, tuy nhiên, Tòa án không được tùy tiện áp dụng mà các tình tiết này phải có trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Thứ hai, các tình tiết giảm nhẹ TNHS là một trong căn cứ để Tòa án cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo hướng nhẹ hơn.

Thứ ba, các tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc về thân nhân người phạm tội chỉ có ý nghĩa giảm nhẹ đối với cá nhân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ thuộc về người nào chỉ có người đó mới được giảm nhẹ TNHS.

Thứ tư, các tình tiết giảm nhẹ là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 khi quyết định hình phạt.

1.2.2. Ý nghĩa các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Tình tiết giảm nhẹ TNHS là cơ sở pháp lý phân hóa và cá thể hóa TNHS để áp dụng một hoặc nhiều biện pháp xử lý hình sự đối với người phạm tội, bảo đảm cho việc Tòa án ra một phán quyết có căn cứ, công bằng, nhân đạo, đủ sức răn đe, phòng ngừa, giáo dục chung, cải tạo người phạm tội trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

Là một trong các tình tiết giảm nhẹ TNHS, “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” mang những đặc điểm chung nói trên, do đó, để vận dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS được chính xác, cần có nhận thức đúng về mặt lý luận. Tuy nhiên, khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử bên cạnh các vấn đề lý luận, cần tuân thủ chặt chẽ các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, các văn bản hướng dẫn pháp luật để việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

2. Thực tiễn áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” trong điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự

2.1. Phạm tội lần đầu

“Phạm tội lần đầu” được quy định chính thức trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật tại Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP) hướng dẫn áp dụng Điều 66 và Điều 106 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện, theo đó: “Được coi là phạm tội lần đầu và có thể xem xét nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Trước đó chưa phạm tội lần nào; b) Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự; c) Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; d) Trước đó đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích”[4].

Ngoài quy định tại Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP, trước đó, trong Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao (Giải đáp nghiệp vụ số 01) khi giải đáp về tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” có hướng dẫn về tình tiết phạm tội lần đầu như sau: “Phạm tội lần đầu là từ trước đến nay chưa phạm tội lần nào. Nếu trước đó đã phạm tội và bị kết án, nhưng đã được xóa án tích hoặc chưa bị kết án, nhưng đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa bị kết án, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nay bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong cùng lần phạm tội sau, thì không được coi là phạm tội lần đầu”[5].

Như vậy, cả hai hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao trong Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP và Giải đáp nghiệp vụ số 01 đều có những quy định giống nhau về phạm tội lần đầu là trước đó chưa phạm tội lần nào.

Bên cạnh những điểm giống nhau, còn những quy định khác nhau trong hai hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, cụ thể, đối với các trường hợp như đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự; áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích theo Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP có thể xem xét là “phạm tội lần đầu”. Trong khi đó, Giải đáp nghiệp vụ số 01 không coi các trường hợp này là “phạm tội lần đầu”. Đây là nội dung chưa thống nhất và có những quan điểm khác nhau khi áp dụng trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.

Có quan điểm cho rằng, các quy định tại Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn tình tiết “phạm tội lần đầu” có thể áp dụng chung đối với tất cả các quy định về phạm tội lần đầu trong Bộ luật Hình sự năm 2015, kể cả quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015. Quan điểm khác lại cho rằng, Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP chỉ hướng dẫn áp dụng tình tiết “phạm tội lần đầu” tại điểm a khoản 1 Điều 66 và điểm a khoản 1 Điều 106 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện nên đối với các quy định về “phạm tội lần đầu” tại điểm i khoản 1 Điều 51 hay khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 không bắt buộc phải áp dụng.

Theo tác giả, quan điểm thứ hai có tính thuyết phục hơn, cả về mặt lý luận và căn cứ pháp lý, bởi:

Thứ nhất, Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP có quy định rõ “được coi là phạm tội lần đầu và có thể xem xét nếu thuộc một trong các trường hợp sau”, cụm từ “có thể xem xét” nghĩa là không bắt buộc áp dụng tất cả các trường hợp “phạm tội lần đầu” quy định tại Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP cho các quy định khác về “phạm tội lần đầu” trong Bộ luật Hình sự năm 2015 như tại điểm i khoản 1 Điều 51 hay khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Thứ hai, phạm vi áp dụng Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP chỉ đối với người chấp hành hình phạt tù được tha tù trước thời hạn có điều kiện theo quy định tại Điều 66 và Điều 106 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, các trường hợp “phạm tội lần đầu” trong tha tù trước thời hạn có điều kiện sẽ có sự mở rộng hơn so với các trường hợp “phạm tội lần đầu” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều này hoàn toàn phù hợp chính sách nhân đạo trong pháp luật hình sự Việt Nam.

Thứ ba, đối với trường hợp đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự; áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích có được coi là phạm tội lần đầu tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 hay không? Tác giả cho rằng, các trường hợp trên không được coi là “phạm tội lần đầu” tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 dựa trên căn cứ sau: Để xác định có “phạm tội lần đầu” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, cần phải làm rõ phạm tội là gì. Bộ luật Hình sự năm 2015 không đưa ra khái niệm phạm tội, tuy nhiên, căn cứ vào Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về khái niệm tội phạm thì “1.Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự; 2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”[6].

Như vậy, có thể hiểu, phạm tội là hành vi xâm phạm đến các quan hệ xã hội nói trên được pháp luật hình sự bảo vệ và bị xử lý hình sự. Xử lý hình sự hay còn gọi là truy cứu TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý và được thể hiện bằng việc người phạm tội bị áp dụng một hoặc nhiều các biện pháp cưỡng chế hình sự khác nhau của Nhà nước do luật hình sự quy định[7] như các hình phạt, các biện pháp tư pháp hoặc các biện pháp giám sát, giáo dục.

Những trường hợp mà hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và xử lý bằng các biện pháp khác như: Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự được quy định tại Chương IV Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sự kiện bất ngờ - Điều 20; Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự - Điều 21; Phòng vệ chính đáng - khoản 1 Điều 22; Tình thế cấp thiết - khoản 1 Điều 23; Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội - khoản 1 Điều 24; Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ - khoản 1 Điều 25; Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên - khoản 1 Điều 26) và các trường hợp xử lý bằng các biện pháp khác như: Xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật, xử lý bằng quan hệ pháp luật dân sự (Hành vi không cấu thành tội phạm - khoản 2 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự - khoản 3 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).

Miễn trách nhiệm hình sự là người thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn truy cứu TNHS nghĩa là người phạm tội không phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt nhưng có thể bị áp dụng một số biện pháp cưỡng chế về hình sự khác như một số biện pháp tư pháp; biện pháp giám sát, giáo dục trong những trường hợp nhất định. Các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự được quy định tại các điều 16, 29, 91, khoản 4 Điều 110, khoản 7 Điều 364 và khoản 2 Điều 390 Bộ luật Hình sự năm 2015. Việc miễn trách nhiệm hình sự có thể do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng tùy theo từng giai đoạn của vụ án[8].

Biện pháp tư pháp là biện pháp có tính cưỡng chế do Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định, được áp dụng đối với người phạm tội hoặc người có hành vi nguy hiểm cho xã hội khi không có năng lực trách nhiệm hình sự. Biện pháp tư pháp có tác dụng hỗ trợ thay thế hình phạt hoặc là biện pháp có tính chất phòng ngừa, ngăn ngừa hành vi nguy hiểm cho xã hội có thể tiếp tục xảy ra[9]. Biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng là biện pháp tư pháp áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của người đó mà cần đưa người đó vào một tổ chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ (Điều 96 Bộ luật Hình sự năm 2015).

Trường hợp được coi là không có án tích theo khoản 2 Điều 69, khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015. Án tích là đặc điểm xấu (hậu quả) về nhân thân của người phạm tội đã bị kết án và áp dụng hình phạt được ghi, lưu lại trong lý lịch tư pháp trong thời gian luật định. Án tích chỉ đặt ra khi một người vi phạm pháp luật hình sự, có bản án về tội phạm mà mình thực hiện[10]. Những trường hợp được coi không có án tích có thể hiểu là được xóa án tích ngay sau khi tuyên án kết tội.

Như vậy, các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, trường hợp được coi là không có án tích đã thực hiện hành vi phạm tội và bị xử lý hình sự bằng một trong các biện pháp cưỡng chế hình sự nên lần phạm tội sau đối với các trường hợp này không thể coi là “phạm tội lần đầu”.

2.2. Phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng

Phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hiện có rất nhiều quan điểm khác nhau, trong bài viết, tác giả trích dẫn hai quan điểm phổ biến nhất khi áp dụng tình tiết này trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử, cụ thể như sau:

Quan điểm thứ nhất, “phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” là phạm tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến ba năm tù (tội ít nghiêm trọng điểm a khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015) và tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng nhưng người phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án có đồng phạm. Quan điểm này cũng được khẳng định trong Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ số 01[11].

Quan điểm thứ hai, “phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” chỉ áp dụng đối với loại tội phạm ít nghiêm trọng được quy định điểm a khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tác giả thấy rằng, quan điểm trong giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ số 01 là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật vì tình tiết của điều luật có quy định phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng chứ không quy định là phạm tội ít nghiêm trọng nên không chỉ áp dụng đối với loại tội phạm ít nghiêm trọng mà còn áp dụng đối với loại tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng trong những trường hợp nhất định như trường hợp người phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể trong các vụ án có đồng phạm.

Thực tiễn xét xử khi áp dụng tình tiết “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” hầu hết các Tòa án chỉ áp dụng đối với tội ít nghiêm trọng tức là tội mà họ bị truy tố, xét xử có mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù, rất ít trường hợp Tòa án áp dụng đối với những tội nghiêm trọng, chưa có trường hợp nào Tòa án áp dụng đối với tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng[12]. Điều này thể hiện sự thận trọng của cơ quan tố tụng áp dụng tình tiết này khi chưa có văn bản áp dụng pháp luật hướng dẫn chính thức.

Khi áp dụng tình tiết “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 cần phân biệt với tình tiết định khung giảm nhẹ “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” trong một số tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Ví dụ: Khoản 2 Điều 110 - Tội gián điệp quy định phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm; khoản 2 Điều 114 - Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm; khoản 2 Điều 115 - Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội quy định phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm…

Đối với tình tiết “phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 có phạm vi áp dụng rộng hơn nhưng không tồn tại độc lập mà gắn liền với tình tiết “phạm tội lần đầu” thiếu một trong hai điều kiện cần và đủ này thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS. Đối với trường hợp giảm nhẹ, “phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng” là dấu hiệu định khung giảm nhẹ thuộc nhóm tội xâm phạm về an ninh quốc gia kể trên khi áp dụng tình tiết này phụ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và loại tội phạm mà người phạm tội thực hiện[13].

3. Một số kiến nghị áp dụng thống nhất tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự

Một là, trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, cán bộ làm công tác tư pháp cần nhận thức đúng quy định “phạm tội lần đầu” thuộc tình tiết giảm nhẹ TNHS “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Có thể tham khảo quy định về “phạm tội lần đầu” trong Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP nhưng phải có sự thận trọng để bảo đảm tính chính xác và có căn cứ khi áp dụng.

Hai là, sửa đổi, bổ sung lại quy định về “phạm tội lần đầu” trong Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP để tình tiết “phạm tội lần đầu” không chỉ được áp dụng đối với trường hợp tha tù trước thời hạn có điều kiện mà còn được áp dụng đối với các quy định khác về “phạm tội lần đầu” trong Bộ luật Hình sự năm 2015 như quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 hay khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Ba là, áp dụng tình tiết “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” trong các tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Hiện nay, trong Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ số 01 chỉ hướng dẫn chung 01 trường hợp được áp dụng là “người phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án có đồng phạm”. Do đó, cần có hướng dẫn chi tiết hơn về phạm vi áp dụng (chỉ áp dụng đối với các vụ án đồng phạm hay đối với cả các vụ án không có đồng phạm) và tiêu chí để xác định người phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án đồng phạm (đồng phạm phải chịu trách nhiệm chung về hành vi và hậu quả do hành vi của các đồng phạm khác gây ra, trừ trường hợp hành vi vượt quá của người thực hành và trường hợp đồng phạm có tổ chức có sự cấu kết, phân công chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện hành vi phạm tội nên rất khó xác định người phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án đồng phạm).

Hoàng Nguyên Thắng
Viện Kiểm sát quân sự Quân khu 1



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Thủy Tiên, Miễn trách nhiệm hình sự là gì ? Miễn hình phạt là gì?, https://luatminhkhue.vn/mien-trach-nhiem-hinh-su-la-gi---mien-hinh-phat-la-gi--.aspx.


[1] Điểm d khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 1985.

[2] Điểm h khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Nguyễn Văn Phi, Xác định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, https://luathoangphi.vn/xac-dinh-cac-tinh-tiet-giam-nhe-trach-nhiem-hinh-su.

[4] Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 66 và Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện.

[5] Mục 4 phần I Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ của Tòa án nhân dân tối cao số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017.

[6] Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[7] Nguyễn Thị Mai, Trách nhiệm hình sự là gì? Phân tích đặc điểm của trách nhiệm hình sự?, https://luatminhkhue.vn/trach-nhiem-hinh-su-la-gi---quy-dinh-phap-luat-ve-trach-nhiem-hinh-su.aspx.

[8] Lê Thủy Tiên, Miễn trách nhiệm hình sự là gì? Miễn hình phạt là gì?, https://luatminhkhue.vn/mien-trach-nhiem-hinh-su-la-gi---mien-hinh-phat-la-gi--.aspx.

[9] Thanh Nghị, Một số lưu ý khi kiểm sát việc áp dụng các biện pháp tư pháp theo quy định của Bộ luật Hình sự, http://vksbinhdinh.gov.vn/newsdetail.asp?newsID=71802&cat1id=3&Cat2id=19.

[10] Nguyễn Thị Kim Lan, Điều kiện và thủ tục xóa án tích, https://luatnqh.vn/xoa-an-tich/.

[11] Mục 4 phần I, Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ của Tòa án nhân dân tối cao số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017.

[12] Đinh Văn Quế, Một số vấn đề về tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, http://hvta.toaan.gov.vn.

[13] Đinh Văn Quế (2018), Bình luận Hình sự năm 2015, Phần thứ nhất: Những quy định chung, Nxb. Thông tin và Truyền thông.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: