Thứ bảy 24/10/2026 02:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn áp dụng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) có một ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự và cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội, là một trong bốn căn cứ để Tòa án cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) có một ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự và cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội, là một trong bốn căn cứ để Tòa án cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt. Trong tất cả các tình tiết giảm nhẹ TNHS thì tình tiết “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) là một trong những quy định không mới được áp dụng từ Bộ luật Hình sự năm 1985 và trong hầu hết các vụ án hình sự. Trước đây, tình tiết giảm nhẹ này được ghép chung với tình tiết “phạm tội mà chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”[1]. Qua các lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự, tình tiết giảm nhẹ TNHS “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” không có sự thay đổi về mặt nội dung, nhưng được tách ra thành một quy định riêng biệt, độc lập[2] khi áp dụng giải quyết vụ án hình sự. Xoay quanh việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, hiện nay, vẫn còn những quan điểm khác nhau, chưa có sự thống nhất. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, bài viết này tập trung nghiên cứu, phân tích những nội dung chưa thống nhất theo quy định của pháp luật, từ đó, đưa ra quan điểm, lập luận và kiến nghị để áp dụng thống nhất tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.

1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1.1. Khái niệm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Bộ luật Hình sự năm 2015 không nêu khái niệm mà sử dụng phương pháp liệt kê các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51. Dưới góc độ khoa học pháp lý, theo cách hiểu đơn giản và chung nhất được thừa nhận phổ biến hiện nay thì các tình tiết giảm nhẹ TNHS là những tình tiết làm cho tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm giảm đi so với trường hợp không có tình tiết giảm nhẹ TNHS. Hậu quả pháp lý là người phạm tội có các tình tiết giảm nhẹ sẽ được giảm mức hình phạt trong phạm vi một khung hình phạt nhất định hoặc áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt[3].

1.2. Đặc điểm, ý nghĩa của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1.2.1. Đặc điểm của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Căn cứ vào các quy định của pháp luật, tình tiết giảm nhẹ TNHS mang các đặc điểm chính sau:

Thứ nhất, các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự năm 2015 và văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Như vậy, các tình tiết giảm nhẹ TNHS phải được luật định. Tòa án có thể tự mình xem xét, cân nhắc coi những tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ TNHS và ghi rõ lý do trong bản án, tuy nhiên, Tòa án không được tùy tiện áp dụng mà các tình tiết này phải có trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Thứ hai, các tình tiết giảm nhẹ TNHS là một trong căn cứ để Tòa án cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo hướng nhẹ hơn.

Thứ ba, các tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc về thân nhân người phạm tội chỉ có ý nghĩa giảm nhẹ đối với cá nhân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ thuộc về người nào chỉ có người đó mới được giảm nhẹ TNHS.

Thứ tư, các tình tiết giảm nhẹ là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 khi quyết định hình phạt.

1.2.2. Ý nghĩa các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Tình tiết giảm nhẹ TNHS là cơ sở pháp lý phân hóa và cá thể hóa TNHS để áp dụng một hoặc nhiều biện pháp xử lý hình sự đối với người phạm tội, bảo đảm cho việc Tòa án ra một phán quyết có căn cứ, công bằng, nhân đạo, đủ sức răn đe, phòng ngừa, giáo dục chung, cải tạo người phạm tội trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

Là một trong các tình tiết giảm nhẹ TNHS, “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” mang những đặc điểm chung nói trên, do đó, để vận dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS được chính xác, cần có nhận thức đúng về mặt lý luận. Tuy nhiên, khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử bên cạnh các vấn đề lý luận, cần tuân thủ chặt chẽ các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, các văn bản hướng dẫn pháp luật để việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

2. Thực tiễn áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” trong điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự

2.1. Phạm tội lần đầu

“Phạm tội lần đầu” được quy định chính thức trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật tại Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP) hướng dẫn áp dụng Điều 66 và Điều 106 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện, theo đó: “Được coi là phạm tội lần đầu và có thể xem xét nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Trước đó chưa phạm tội lần nào; b) Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự; c) Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; d) Trước đó đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích”[4].

Ngoài quy định tại Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP, trước đó, trong Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao (Giải đáp nghiệp vụ số 01) khi giải đáp về tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” có hướng dẫn về tình tiết phạm tội lần đầu như sau: “Phạm tội lần đầu là từ trước đến nay chưa phạm tội lần nào. Nếu trước đó đã phạm tội và bị kết án, nhưng đã được xóa án tích hoặc chưa bị kết án, nhưng đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa bị kết án, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nay bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong cùng lần phạm tội sau, thì không được coi là phạm tội lần đầu”[5].

Như vậy, cả hai hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao trong Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP và Giải đáp nghiệp vụ số 01 đều có những quy định giống nhau về phạm tội lần đầu là trước đó chưa phạm tội lần nào.

Bên cạnh những điểm giống nhau, còn những quy định khác nhau trong hai hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, cụ thể, đối với các trường hợp như đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự; áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích theo Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP có thể xem xét là “phạm tội lần đầu”. Trong khi đó, Giải đáp nghiệp vụ số 01 không coi các trường hợp này là “phạm tội lần đầu”. Đây là nội dung chưa thống nhất và có những quan điểm khác nhau khi áp dụng trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.

Có quan điểm cho rằng, các quy định tại Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn tình tiết “phạm tội lần đầu” có thể áp dụng chung đối với tất cả các quy định về phạm tội lần đầu trong Bộ luật Hình sự năm 2015, kể cả quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015. Quan điểm khác lại cho rằng, Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP chỉ hướng dẫn áp dụng tình tiết “phạm tội lần đầu” tại điểm a khoản 1 Điều 66 và điểm a khoản 1 Điều 106 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện nên đối với các quy định về “phạm tội lần đầu” tại điểm i khoản 1 Điều 51 hay khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 không bắt buộc phải áp dụng.

Theo tác giả, quan điểm thứ hai có tính thuyết phục hơn, cả về mặt lý luận và căn cứ pháp lý, bởi:

Thứ nhất, Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP có quy định rõ “được coi là phạm tội lần đầu và có thể xem xét nếu thuộc một trong các trường hợp sau”, cụm từ “có thể xem xét” nghĩa là không bắt buộc áp dụng tất cả các trường hợp “phạm tội lần đầu” quy định tại Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP cho các quy định khác về “phạm tội lần đầu” trong Bộ luật Hình sự năm 2015 như tại điểm i khoản 1 Điều 51 hay khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Thứ hai, phạm vi áp dụng Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP chỉ đối với người chấp hành hình phạt tù được tha tù trước thời hạn có điều kiện theo quy định tại Điều 66 và Điều 106 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, các trường hợp “phạm tội lần đầu” trong tha tù trước thời hạn có điều kiện sẽ có sự mở rộng hơn so với các trường hợp “phạm tội lần đầu” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều này hoàn toàn phù hợp chính sách nhân đạo trong pháp luật hình sự Việt Nam.

Thứ ba, đối với trường hợp đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự; áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích có được coi là phạm tội lần đầu tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 hay không? Tác giả cho rằng, các trường hợp trên không được coi là “phạm tội lần đầu” tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 dựa trên căn cứ sau: Để xác định có “phạm tội lần đầu” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, cần phải làm rõ phạm tội là gì. Bộ luật Hình sự năm 2015 không đưa ra khái niệm phạm tội, tuy nhiên, căn cứ vào Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về khái niệm tội phạm thì “1.Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự; 2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”[6].

Như vậy, có thể hiểu, phạm tội là hành vi xâm phạm đến các quan hệ xã hội nói trên được pháp luật hình sự bảo vệ và bị xử lý hình sự. Xử lý hình sự hay còn gọi là truy cứu TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý và được thể hiện bằng việc người phạm tội bị áp dụng một hoặc nhiều các biện pháp cưỡng chế hình sự khác nhau của Nhà nước do luật hình sự quy định[7] như các hình phạt, các biện pháp tư pháp hoặc các biện pháp giám sát, giáo dục.

Những trường hợp mà hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và xử lý bằng các biện pháp khác như: Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự được quy định tại Chương IV Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sự kiện bất ngờ - Điều 20; Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự - Điều 21; Phòng vệ chính đáng - khoản 1 Điều 22; Tình thế cấp thiết - khoản 1 Điều 23; Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội - khoản 1 Điều 24; Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ - khoản 1 Điều 25; Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên - khoản 1 Điều 26) và các trường hợp xử lý bằng các biện pháp khác như: Xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật, xử lý bằng quan hệ pháp luật dân sự (Hành vi không cấu thành tội phạm - khoản 2 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự - khoản 3 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).

Miễn trách nhiệm hình sự là người thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn truy cứu TNHS nghĩa là người phạm tội không phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt nhưng có thể bị áp dụng một số biện pháp cưỡng chế về hình sự khác như một số biện pháp tư pháp; biện pháp giám sát, giáo dục trong những trường hợp nhất định. Các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự được quy định tại các điều 16, 29, 91, khoản 4 Điều 110, khoản 7 Điều 364 và khoản 2 Điều 390 Bộ luật Hình sự năm 2015. Việc miễn trách nhiệm hình sự có thể do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng tùy theo từng giai đoạn của vụ án[8].

Biện pháp tư pháp là biện pháp có tính cưỡng chế do Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định, được áp dụng đối với người phạm tội hoặc người có hành vi nguy hiểm cho xã hội khi không có năng lực trách nhiệm hình sự. Biện pháp tư pháp có tác dụng hỗ trợ thay thế hình phạt hoặc là biện pháp có tính chất phòng ngừa, ngăn ngừa hành vi nguy hiểm cho xã hội có thể tiếp tục xảy ra[9]. Biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng là biện pháp tư pháp áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của người đó mà cần đưa người đó vào một tổ chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ (Điều 96 Bộ luật Hình sự năm 2015).

Trường hợp được coi là không có án tích theo khoản 2 Điều 69, khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015. Án tích là đặc điểm xấu (hậu quả) về nhân thân của người phạm tội đã bị kết án và áp dụng hình phạt được ghi, lưu lại trong lý lịch tư pháp trong thời gian luật định. Án tích chỉ đặt ra khi một người vi phạm pháp luật hình sự, có bản án về tội phạm mà mình thực hiện[10]. Những trường hợp được coi không có án tích có thể hiểu là được xóa án tích ngay sau khi tuyên án kết tội.

Như vậy, các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, trường hợp được coi là không có án tích đã thực hiện hành vi phạm tội và bị xử lý hình sự bằng một trong các biện pháp cưỡng chế hình sự nên lần phạm tội sau đối với các trường hợp này không thể coi là “phạm tội lần đầu”.

2.2. Phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng

Phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hiện có rất nhiều quan điểm khác nhau, trong bài viết, tác giả trích dẫn hai quan điểm phổ biến nhất khi áp dụng tình tiết này trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử, cụ thể như sau:

Quan điểm thứ nhất, “phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” là phạm tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến ba năm tù (tội ít nghiêm trọng điểm a khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015) và tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng nhưng người phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án có đồng phạm. Quan điểm này cũng được khẳng định trong Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ số 01[11].

Quan điểm thứ hai, “phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” chỉ áp dụng đối với loại tội phạm ít nghiêm trọng được quy định điểm a khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tác giả thấy rằng, quan điểm trong giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ số 01 là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật vì tình tiết của điều luật có quy định phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng chứ không quy định là phạm tội ít nghiêm trọng nên không chỉ áp dụng đối với loại tội phạm ít nghiêm trọng mà còn áp dụng đối với loại tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng trong những trường hợp nhất định như trường hợp người phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể trong các vụ án có đồng phạm.

Thực tiễn xét xử khi áp dụng tình tiết “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” hầu hết các Tòa án chỉ áp dụng đối với tội ít nghiêm trọng tức là tội mà họ bị truy tố, xét xử có mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù, rất ít trường hợp Tòa án áp dụng đối với những tội nghiêm trọng, chưa có trường hợp nào Tòa án áp dụng đối với tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng[12]. Điều này thể hiện sự thận trọng của cơ quan tố tụng áp dụng tình tiết này khi chưa có văn bản áp dụng pháp luật hướng dẫn chính thức.

Khi áp dụng tình tiết “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 cần phân biệt với tình tiết định khung giảm nhẹ “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” trong một số tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Ví dụ: Khoản 2 Điều 110 - Tội gián điệp quy định phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm; khoản 2 Điều 114 - Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm; khoản 2 Điều 115 - Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội quy định phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm…

Đối với tình tiết “phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 có phạm vi áp dụng rộng hơn nhưng không tồn tại độc lập mà gắn liền với tình tiết “phạm tội lần đầu” thiếu một trong hai điều kiện cần và đủ này thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS. Đối với trường hợp giảm nhẹ, “phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng” là dấu hiệu định khung giảm nhẹ thuộc nhóm tội xâm phạm về an ninh quốc gia kể trên khi áp dụng tình tiết này phụ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và loại tội phạm mà người phạm tội thực hiện[13].

3. Một số kiến nghị áp dụng thống nhất tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự

Một là, trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, cán bộ làm công tác tư pháp cần nhận thức đúng quy định “phạm tội lần đầu” thuộc tình tiết giảm nhẹ TNHS “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Có thể tham khảo quy định về “phạm tội lần đầu” trong Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP nhưng phải có sự thận trọng để bảo đảm tính chính xác và có căn cứ khi áp dụng.

Hai là, sửa đổi, bổ sung lại quy định về “phạm tội lần đầu” trong Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP để tình tiết “phạm tội lần đầu” không chỉ được áp dụng đối với trường hợp tha tù trước thời hạn có điều kiện mà còn được áp dụng đối với các quy định khác về “phạm tội lần đầu” trong Bộ luật Hình sự năm 2015 như quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 hay khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Ba là, áp dụng tình tiết “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” trong các tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Hiện nay, trong Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ số 01 chỉ hướng dẫn chung 01 trường hợp được áp dụng là “người phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án có đồng phạm”. Do đó, cần có hướng dẫn chi tiết hơn về phạm vi áp dụng (chỉ áp dụng đối với các vụ án đồng phạm hay đối với cả các vụ án không có đồng phạm) và tiêu chí để xác định người phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án đồng phạm (đồng phạm phải chịu trách nhiệm chung về hành vi và hậu quả do hành vi của các đồng phạm khác gây ra, trừ trường hợp hành vi vượt quá của người thực hành và trường hợp đồng phạm có tổ chức có sự cấu kết, phân công chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện hành vi phạm tội nên rất khó xác định người phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án đồng phạm).

Hoàng Nguyên Thắng
Viện Kiểm sát quân sự Quân khu 1



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Thủy Tiên, Miễn trách nhiệm hình sự là gì ? Miễn hình phạt là gì?, https://luatminhkhue.vn/mien-trach-nhiem-hinh-su-la-gi---mien-hinh-phat-la-gi--.aspx.


[1] Điểm d khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 1985.

[2] Điểm h khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Nguyễn Văn Phi, Xác định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, https://luathoangphi.vn/xac-dinh-cac-tinh-tiet-giam-nhe-trach-nhiem-hinh-su.

[4] Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 66 và Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện.

[5] Mục 4 phần I Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ của Tòa án nhân dân tối cao số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017.

[6] Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[7] Nguyễn Thị Mai, Trách nhiệm hình sự là gì? Phân tích đặc điểm của trách nhiệm hình sự?, https://luatminhkhue.vn/trach-nhiem-hinh-su-la-gi---quy-dinh-phap-luat-ve-trach-nhiem-hinh-su.aspx.

[8] Lê Thủy Tiên, Miễn trách nhiệm hình sự là gì? Miễn hình phạt là gì?, https://luatminhkhue.vn/mien-trach-nhiem-hinh-su-la-gi---mien-hinh-phat-la-gi--.aspx.

[9] Thanh Nghị, Một số lưu ý khi kiểm sát việc áp dụng các biện pháp tư pháp theo quy định của Bộ luật Hình sự, http://vksbinhdinh.gov.vn/newsdetail.asp?newsID=71802&cat1id=3&Cat2id=19.

[10] Nguyễn Thị Kim Lan, Điều kiện và thủ tục xóa án tích, https://luatnqh.vn/xoa-an-tich/.

[11] Mục 4 phần I, Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ của Tòa án nhân dân tối cao số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017.

[12] Đinh Văn Quế, Một số vấn đề về tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, http://hvta.toaan.gov.vn.

[13] Đinh Văn Quế (2018), Bình luận Hình sự năm 2015, Phần thứ nhất: Những quy định chung, Nxb. Thông tin và Truyền thông.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: