Thứ ba 13/01/2026 13:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng hỗ trợ nạn nhân bị mua bán người trở về Việt Nam và một số kiến nghị

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết này, tác giả đánh giá thực trạng hỗ trợ nạn nhân bị mua bán người trở về Việt Nam và kiến nghị một số giải pháp trong thời gian tới.

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết này, tác giả đánh giá thực trạng hỗ trợ nạn nhân bị mua bán người trở về Việt Nam và kiến nghị một số giải pháp trong thời gian tới.

Abstract: Within the scope of this article, the author assesses the current situation of supporting victims of human trafficking to return to Vietnam and recommends some solutions in the coming time.

Mua bán người được Liên Hợp quốc xác định là một trong bốn loại tội phạm nguy hiểm nhất, được đưa vào “Chương trình phòng, chống tội phạm toàn cầu” và ngày 30/7 hàng năm được chọn là “Ngày thế giới phòng, chống mua bán người”. Tội phạm về mua bán người được các quốc gia trên thế giới lên án và tích cực hợp tác quốc tế trong phòng ngừa, đấu tranh cũng như hỗ trợ những nạn nhân bị mua bán. Ở nước ta, trong những năm gần đây, tình hình tội phạm mua bán người có xu hướng gia tăng cả về số vụ, số đối tượng, số nạn nhân bị mua bán và đã gây ra những hậu quả nặng nề cho xã hội, bức xúc trong nhân dân. Việc phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm mua bán người luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, tiến hành trên rất nhiều lĩnh vực. Trong đó, về công tác thực thi pháp luật, lực lượng Công an, chủ công là Cảnh sát hình sự phối hợp với Bộ đội Biên phòng các cấp xây dựng và phối hợp triển khai các kế hoạch nghiệp vụ, điều tra theo tuyến, địa bàn trọng điểm; triển khai các biện pháp nghiệp vụ, kết hợp với tuần tra, kiểm soát và quản lý xuất nhập cảnh qua biên giới; tổ chức triển khai thực hiện cao điểm tấn công trấn áp tội phạm mua bán người trên phạm vi toàn quốc... Theo thống kê của Bộ Công an từ năm 2016 đến hết năm 2021, trên phạm vi cả nước đã phát hiện 2.159 vụ mua bán người (trong đó, phụ nữ và trẻ em chiếm hơn 90%.)[1]. Phụ nữ và trẻ em bị bán sang các nước châu Á vì mục đích cưỡng ép tình dục, đẻ thuê như: Trung Quốc (chiếm 75%), Cam-pu-chia (chiếm 11%). Một số phụ nữ sang Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao, Singapore hay Hàn Quốc thông qua những cuộc môi giới hôn nhân với người nước ngoài, sau đó bị cưỡng ép phục vụ trong gia đình, hành nghề mại dâm. Việc môi giới hôn nhân với người nước ngoài có xu hướng tăng mạnh ở các tỉnh phía Nam Việt Nam; trong khi đó, tình trạng mua bán, bắt cóc, chiếm đoạt trẻ em xảy ra nhiều ở các tỉnh khu vực phía Bắc. Ngoài ra, thủ đoạn tổ chức xuất cảnh trái phép để lao động thời vụ[2], sau đó lừa bán để cưỡng bức lao động, ép bán dâm, bán cho đàn ông mua làm vợ, thậm chí bán nội tạng.

Bên cạnh những nỗ lực phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm mua bán người thì việc hỗ trợ các nạn nhân của mua, bán người trong thời gian qua cũng được Đảng, Nhà nước và Chính phủ dành nhiều sự quan tâm. Theo thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, đến nay, cả nước có 425 cơ sở trợ giúp xã hội, trong đó 195 cơ sở công lập và 230 cơ sở ngoài công lập, thuộc các loại hình cơ sở trợ giúp xã hội theo Nghị định số 103/2017/NĐ-CP ngày 12/9/2017 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội[3]. Tùy theo điều kiện của từng địa phương, khả năng của từng cơ sở trợ giúp xã hội, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố giao nhiệm vụ tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về cho Trung tâm Bảo trợ xã hội hoặc Trung tâm Công tác xã hội. Một số tỉnh do điều kiện khó khăn, bố trí cơ sở điều dưỡng người có công hoặc cơ sở cai nghiện ma túy tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về. Trên thực tế, có 51 Trung tâm Bảo trợ xã hội và 43 Trung tâm công tác xã hội có chức năng tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân. Mặc dù còn khó khăn nhưng tại các cơ sở này vẫn bố trí từ 01 đến 02 phòng, chuẩn bị tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về. Từ năm 2017 - 2021 số người được tiếp nhận, xác minh là gần 4.000 người; xác định 1.715 người là nạn nhân bị mua bán, trong đó: Nạn nhân là nữ giới 1.663 người (chiếm 96,9%), nam giới 52 người (chiếm 3,1%); nạn nhân dưới 18 tuổi là 469 người (chiếm 28,75%); dân tộc kinh 608 người (chiếm 35,45%), dân tộc khác 1.101 người (chiếm 64,19%), có 06 nạn nhân là người nước ngoài. Nạn nhân bị mua bán ra nước ngoài là 1.684 người, trong đó, là bị bán sang Trung Quốc là 1.510 người (chiếm 88,04%). Số nạn nhân tự trở về là 483 người, được giải cứu là 630 người, trao trả song phương là 602 người. Trên cơ sở nhu cầu của nạn nhân, các đơn vị có chức năng tiếp nhận, hỗ trợ đã thực hiện hỗ trợ nhu cầu thiết yếu cho 100% nạn nhân; hỗ trợ chi phí đi lại cho 1.388 người. Số nạn nhân có nhu cầu vào cơ sở trợ giúp xã hội là 692 người, số nạn nhân được hỗ trợ hòa nhập cộng đồng 413 người (trong đó, trợ giúp pháp lý cho 316 người, hỗ trợ học văn hóa cho 39 người, học nghề cho 74 người, hỗ trợ tìm việc làm cho 47 người, hỗ trợ vay vốn cho 05 người với số tiền 363 triệu đồng, trợ cấp khó khăn ban đầu cho 216 người với số tiền 514 triệu đồng)[4].

Với những kết quả đạt được trong việc hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân với mong muốn giúp cho họ nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng, ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, thực tiễn hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về vẫn còn một số bất cập, cụ thể:

- Đôi khi việc xác minh nạn nhân bị mua bán gặp nhiều khó khăn do các nạn nhân không muốn tiết lộ thông tin cá nhân họ không đủ căn cứ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý; hoặc do tâm lý e ngại, hoảng sợ nên họ không hợp tác gây khó khăn cho người thực hiện trợ giúp pháp lý.

- Công tác phối hợp giữa Trung tâm Trợ giúp pháp lý và các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ sở hỗ trợ, trợ giúp, bảo vệ nạn nhân và các cấp chính quyền cơ sở cũng như các đoàn thể xã hội trong hoạt động trợ giúp pháp lý, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân, tham gia phòng, chống mua bán người có lúc, có nơi chưa được kịp thời nên việc phát hiện và chuyển gửi nhu cầu trợ giúp pháp lý của nạn nhân bị mua bán còn hạn chế.

- Một số tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý chưa được trang bị đồng bộ cơ cở vật chất, trang thiết bị phù hợp, chưa bố trí đủ kinh phí cho việc bồi dưỡng nâng cao các kỹ năng chuyên sâu khi tiến hành thực hiện trợ giúp pháp lý cho nhóm đối tượng đặc thù này, đặc biệt là các tỉnh có chung biên giới có nguy cơ cao về tình trạng mua, bán người.

- Quy định pháp luật về hỗ trợ nhu cầu thiết yếu ban đầu, trong đó có hỗ trợ quần áo nạn nhân còn hạn chế khi chưa quy định quần áo mùa đông đối với các nạn nhân lưu trú tại các tỉnh miền Bắc. Ngoài ra, nạn nhân bị mua bán trở về thường bị sang chấn về mặt tâm lý, hoảng loạn, lo lắng bị trả thù sau khi cung cấp lời khai cho công an, biên phòng[5].

Để ổn định cuộc sống của nạn nhân bị mua bán trở về và giảm gánh nặng cho xã hội, theo tác giả, trong thời gian tới, cần tăng cường thực hiện một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất, lực lượng chức năng cần tăng cường công tác nắm bắt tình hình về nhân khẩu các hộ dân thông qua công tác đăng ký thường trú, tạm trú, tạm vắng để kịp thời lên danh sách các trường hợp vắng mặt tại địa phương đi mà không rõ lý do. Đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền về phương thức thủ đoạn của tội phạm mua bán người, hướng dẫn nhân dân một số biện pháp để họ kịp thời phát hiện đối tượng có hành vi mua bán và tự đưa ra các giải pháp phòng ngừa cho bản thân.

Thứ hai, các cơ quan, ban ngành, đoàn thể từ trung ương đến địa phương cần tăng cường mối quan hệ phối hợp một cách nhịp nhàng để kịp thời hỗ trợ nạn nhân bị mua bán. Đồng thời, cần tham mưu, đề xuất để chuẩn hóa quy trình hỗ trợ nạn nhân. Trong đó, quy trình hỗ trợ nạn nhân bị mua bán người cần được xây dựng theo từng vùng miền cụ thể, có các chế độ hỗ trợ riêng.

Thứ ba, tăng cường công tác hợp tác quốc tế với các quốc gia lân cận trong việc trao trả, tiếp nhận nạn nhân bị mua bán (thời gian, địa điểm, danh sách nạn nhân, số lượng nạn nhân...). Khi tiếp nhận nạn nhân bị mua bán, cơ quan Công an, Biên phòng cần phối hợp ngay với các cơ quan có liên quan trong việc hỗ trợ nạn nhân bị mua bán ngay từ giai đoạn ban đầu, từ khâu tiếp nhận, xác định nạn nhân bị mua bán người và lấy đó làm căn cứ để tiến hành các hoạt động hỗ trợ tiếp theo.

Thứ tư, tăng cường bố trí cán bộ (đặc biệt là cán bộ nữ) tại các trung tâm tiếp nhận nạn nhân bị mua bán để hỗ trợ nạn nhân bị mua bán là nữ giới nhằm bảo đảm một số yếu tố nhạy cảm riêng của phụ nữ. Đồng thời, số cán bộ nữ này phải được đào tạo bài bản về kỹ năng, kiến thức chuyên môn để có thể tiếp xúc trực tiếp với nạn nhân và tác động tư tưởng để nạn nhân bị mua bán vượt qua giai đoạn bị sang chấm tâm lý do hành vi phạm tội của các đối tượng tác động đến. Ngoài ra, khi hỗ trợ y tế cho nạn nhân bị mua bán, cần xác định mức hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trong từng trường hợp cụ thể. Đối với nạn nhân bị mua bán là phụ nữ đã bị xâm hại về tình dục cần phải được thăm khám kỹ hơn, đặc biệt là cần phải xét nghiệm HIV để tránh các trường hợp lây nhiễm nếu nạn nhân tái hòa nhập cộng đồng hoặc đối với nhạn nhân bị đánh đập tàn nhẫn dẫn đến thương tích thì cần có sự hỗ trợ toàn diện về y tế để kịp thời điều trị.

Thứ năm, tăng cường nguồn lực xã hội để có thêm nguồn kinh phí hỗ trợ cho nạn nhân bị mua bán thông qua các cá nhân, doanh nghiệp trong nước có lòng hảo tâm tài trợ về kinh phí hoặc đào tạo nghề, tạo việc làm cho nạn nhân bị mua bán người. Đồng thời, cho phép thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân với sự hỗ trợ của tổ chức, cá nhân nước ngoài không chỉ dưới dạng vật chất, mà cả về nhân lực, kỹ năng quản lý, hỗ trợ về tâm lý, y tế cho nạn nhân.

Thứ sáu, tăng thời gian hỗ trợ phục hồi tại cơ sở hỗ trợ nạn nhân, cơ sở trợ giúp xã hội từ 02 tháng lên 03 tháng. Nạn nhân được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí trong thời gian hỗ trợ phục hồi tại cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân. Bổ sung đối tượng nạn nhân được miễn học phí, hỗ trợ chi phí học tập, hỗ trợ một lần tiền trợ cấp khó khăn ban đầu theo hướng tất cả các nạn nhân, nếu có nhu cầu và đề nghị thì đều được miễn học phí, hỗ trợ chi phí học tập, hưởng hỗ trợ một lần tiền trợ cấp khó khăn ban đầu.

TS. Nguyễn Thị Thu Hòa
Học viện Cảnh sát nhân dân


[1]. Thống kê Báo cáo hàng năm từ năm 2017 đến năm 2021 của Bộ Công an về tình hình tội phạm mua bán người trên website: http://bocongan.gov.vn/tintuc/Pages/thong-ke.aspx?Cat=100.

[2]. Xem https://tuoitre.vn/thai-phu-thao-chay-khoi-casino-o-campuchia-toi-khong-nghi-minh-con-duong-ve-nuoc-20220921120116113.htm.

[3]. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Báo cáo công tác năm từ 2017 đến 2021.

[4]. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Báo cáo công tác năm từ 2017 đến 2021.

[5]. Nghị định số 62/2012/NĐ-CP ngày 13/8/2012 của Chính phủ quy định căn cứ xác định nạn nhân bị mua bán và bảo vệ an toàn cho nạn nhân, người thân thích của họ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: