Chủ nhật 24/05/2026 23:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng vai trò của thiết chế truyền thông trong việc đấu tranh phản biện, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch

Ở Việt Nam, các thế lực thù địch thường lợi dụng vấn đề quyền con người, quyền công dân để thông tin sai sự thật thông qua các phương tiện truyền thông không chính nhằm mục đích bịa đặt những vấn đề “dân chủ, nhân quyền”, nhằm nói xấu chế độ ở Việt Nam; thường xuyên thông tin sai lệch về “dân chủ”, “nhân quyền”, tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại cách mạng Việt Nam...

Thông qua truyền thông, các thế lực thù địch đưa tin sai bản chất sự việc, hiện tượng, làm cho người dân có cái nhìn thiên lệch về những gì đang diễn ra trong đời sống xã hội, dẫn đến hoài nghi, mơ hồ, thiếu niềm tin vào sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng; tích cực tấn công vào một số cơ quan báo chí, xuất bản và một số nhà báo, nhất là những nhà báo trẻ có tư tưởng tự do, hòng mua chuộc, “chuyển hóa tư tưởng”, hứa hẹn tài trợ, hậu thuẫn vật chất... lôi kéo họ làm báo theo kiểu “tự do” phương Tây, xúi giục viết và đăng tải những bài báo với nội dung có lợi cho chúng, đi chệch tôn chỉ, mục đích, định hướng chính trị. Nhận biết được những hành động thù địch này, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các thiết chế truyền thông đã đẩy mạnh việc đấu tranh trên mặt trận thông tin, tuyên truyền và đạt được nhiều kết quả tích cực.

1. Thực trạng vai trò của thiết chế truyền thông trong việc đấu tranh, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch

Đấu tranh chống các luận điệu sai trái, xuyên tạc, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” của kẻ địch trên các phương tiện truyền thông, đặc biệt là báo chí không phải chủ đề mới, nhưng luôn mang tính chất thời sự, bởi đó là nhiệm vụ chính trị sống còn, thường xuyên của báo chí cách mạng. Chưa bao giờ báo chí nước ta có bước phát triển mạnh mẽ và toàn diện như hiện nay. Năm 2015, cả nước có 857 cơ quan báo chí, trong đó có 199 cơ quan báo chí in (86 báo trung ương, 113 báo địa phương), 658 tạp chí (521 tạp chí trung ương, 137 tạp chí địa phương), 01 hãng thông tấn quốc gia; có mạng lưới báo điện tử đang lớn mạnh cùng mạng lưới thông tin toàn cầu với số lượng người truy cập ngày một tăng. Báo chí hiện đại nước ta đã phát triển vượt bậc, có thể đạt trình độ ngang tầm với nhiều nước tiên tiến trong khu vực. Đội ngũ những người làm báo lớn mạnh về cả số lượng và chất lượng. Với nhiều ưu điểm như vậy, hiển nhiên báo chí nếu thực hiện tốt trách nhiệm chính trị, tôn chỉ mục đích của mình, nếu hội tụ được sức mạnh dưới sự chỉ huy chung sẽ tạo nên đột phá mạnh mẽ trong hoạt động thông tin tuyên truyền, trong đó có nội dung đấu tranh trực tiếp, gián tiếp phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, góp phần ổn định và phát triển đất nước.

Hệ thống báo chí Việt Nam đã phát huy tốt vai trò tiên phong trên lĩnh vực thông tin, tuyên truyền đối nội, đối ngoại; luôn giữ vững định hướng chính trị, kịp thời đấu tranh với những thông tin sai trái, xuyên tạc, phủ nhận truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, điều hành của chính quyền các cấp cùng thành tựu sự nghiệp đổi mới đất nước mấy chục năm qua. Nhiều tờ báo, tạp chí mở các chuyên trang, chuyên mục đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, làm rõ bản chất, vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhất là trên lĩnh vực báo chí, truyền thông. Nhiều bài viết đăng tải trên các báo, tạp chí của các chuyên gia, nhà phê bình dưới dạng chuyên sâu, chuyên đề, được nghiên cứu một cách bài bản, khoa học, tiếp cận đầy đủ, toàn diện, sâu sắc vấn đề kết hợp với những bài viết ngắn, cập nhật tính thời sự, mang hơi thở thực tiễn, tạo nên bức tranh tổng thể phản ánh trung thực mọi mặt của đời sống xã hội. Đó chính là vũ khí sắc bén đấu tranh phản bác lại những quan điểm sai trái, thù địch, lợi dụng tự do báo chí, tự do ngôn luận để chống Đảng, chế độ, làm mất ổn định chính trị, gây khó khăn cho việc kiến tạo môi trường hòa bình đối với sự nghiệp phát triển đất nước.

Thực tế hoạt động tuyên truyền của báo chí trong nhiều năm qua cho thấy, nhìn tổng thể, các cơ quan báo chí đều có ý thức tham gia đấu tranh chống diễn biến hòa bình, luận điệu xuyên tạc của kẻ địch trong cả thể loại báo in, báo điện tử, báo nói, báo hình. Số lượng, chất lượng tin, bài về chủ đề này trên các loại hình báo chí tuy khác nhau trong mỗi thời điểm nhưng đã phát huy tác dụng, một mặt nâng cao nhận thức cho người dân về bản chất các luận điệu, quan điểm sai trái; mặt khác, làm rõ những hành động xấu, gây phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc qua từng vụ việc cụ thể. Một trong những vấn đề nổi cộm trong cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng là các cơ quan báo chí cần phải quan tâm làm rõ những vấn đề mà các thế lực chống phá thường tập trung như công tác quản lý, các văn bản quy định về đất đai liên quan đến nhà thờ, những biểu hiện tham nhũng của quan chức, một số hoạt động của các giáo phái tôn giáo; qua đó đấu tranh chống phá các thế lực thù địch, cơ hội. Trong hệ thống báo chí cách mạng, các báo có số lượng bài, tin tham gia nội dung này tương đối đều, như các báo Nhân dân, Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân, Sài Gòn giải phóng, Hà Nội mới, Báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam; Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Tạp chí Công an Nhân dân, Tạp chí Tuyên giáo… Các báo trên ra hằng ngày, các tạp chí Cộng Sản, Quốc phòng toàn dân, Công an nhân dân, Tuyên giáo số ra hàng tháng (1 tháng một số) đều có các bài nghiên cứu, trao đổi công phu, đấu tranh phản bác có chiều sâu, có sức thuyết phục với các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, với một số tạp chí do số lượng có hạn, không phải tạp chí “lên sạp” như các báo, tạp chí khác nên sức lan tỏa đối với công chúng còn dừng ở mức chưa cao như mong muốn. Nói như vậy không có nghĩa là giá trị của thông tin trong các tạp chí không được phát huy. Ngược lại, những nội dung ấy có tác động lớn đến nhận thức của cán bộ, chiến sĩ của lực lượng vũ trang, trong cán bộ, đảng viên - lực lượng có vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Các cơ quan báo chí với nhiều ấn phẩm có nội dung tuyên truyền đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, nhất là bác bỏ các luận điệu ấy đã có tác động tích cực đối với đông đảo bạn đọc, song số lượng và chất lượng các bài viết về chủ đề này còn khiêm tốn, thậm chí còn có những cơ quan báo chí ít quan tâm đến chủ đề này; hoặc mới chỉ tập trung đấu tranh tuyên truyền khi các thế lực thù địch công khai tấn công, đấu tranh từng đợt theo sự định hướng, phân công tuyên truyền của các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí. Đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái trên các sách, báo văn hóa, văn nghệ còn tản mát, đơn điệu, rời rạc, thiếu tính chủ động, chưa thực sự kết nối chặt chẽ, nhất là lĩnh vực tư tưởng, lý luận.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả vai trò của thiết chế truyền thông trong đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch

Để hoạt động tuyên truyền trên các phương tiện thông tin truyền thông và đặc biệt là báo chí về chủ đề này sôi động, thường xuyên, đạt hiệu quả cao hơn, cần thực hiện những giải pháp sau:

Một là, cơ quan chỉ đạo, định hướng thông tin, ngoài công tác định hướng tuyên truyền hàng tuần nên tiếp tục đầu tư cho việc xây dựng, mở rộng “tổ chuyên gia”; tập hợp đa dạng hơn các thành phần, đặc biệt chú trọng đội ngũ các nhà nghiên cứu khoa học, lịch sử; có chế độ đãi ngộ “đặc biệt”, khai thác có hiệu quả hơn nữa sở trường của từng chuyên gia trong việc viết bài đấu tranh phản bác. Chủ động cung cấp hoặc kết nối thông tin, tư liệu, địa chỉ cung cấp tư liệu cho các phương tiện thông tin truyền thông và báo chí về các đề tài có liên quan đến cuộc đấu tranh này. Cơ quan chỉ đạo, quản lý truyên thông cần làm tốt hơn nữa vai trò kết nối sức mạnh của các loại hình báo chí, tiếp tục xây dựng kịch bản đấu tranh tuyên truyền, “phân vai”, đạo diễn “cao tay” hơn các đợt tuyên truyền tấn công và phản công lại các luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch; kết hợp chặt chẽ tuyên truyền báo chí với các hình thức tuyên truyền khác, trong đó lưu ý đúng mức đến hình thức tuyên truyền miệng.

Hai là, đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về báo chí và tuyên truyền. Có biện pháp quản lý chặt chẽ mạng Internet, ngăn ngừa các trang mạng độc hại kết hợp với tăng cường mở mới, đa dạng các trang mạng, báo chí có nội dung đấu tranh tư tưởng, lý luận của ta. Đây là một nội dung, biện pháp quản lý nhà nước đặc biệt quan trọng, nhằm ngăn chặn tận “gốc” nguồn tuyên truyền, phát tán những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch; quản lý chặt chẽ, không để lộ, lọt, sơ hở về đăng tải thông tin theo quy định của Nhà nước. Các cơ quan, đơn vị, lực lượng nghiệp vụ về tin học cần tăng cường theo dõi, kịp thời xử lý, khống chế có hiệu quả các trang mạng có nội dung phản động; phối hợp cùng các cơ quan tuyên truyền từng bước làm chủ thế trận tiến công về tư tưởng, lý luận trên mạng Internet.

Ba là, các cơ quan truyền thông báo chí, không chỉ các cơ quan chính trị - xã hội, các cơ quan trung ương đều cần đề cao trách nhiệm chính trị trong công tác tuyên truyền về chủ đề này. Theo đó, nên chủ động xây dựng “kịch bản” cho ấn phẩm của mình theo tôn chỉ mục đích, xây dựng truyên truyền nhằm phát huy thế mạnh nội tại của từng đơn vị truyền thông, từng loại hình truyền thông; đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng chủ trương, đường lối, chính sách cùng những thành tựu trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, điều hành của Nhà nước một cách thuyết phục để dân hiểu, dân tin. Phát huy tính chất chuyên sâu, chuyên ngành của báo chí, khối báo chí văn hóa, văn nghệ, tập trung đấu tranh trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, xuất bản; khối báo chí nội chính, chính trị xã hội, đấu tranh về chủ quyền biển đảo, quốc gia lãnh thổ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc…

Các cơ quan thông tin truyền thông ở địa phương duy trì thường xuyên chuyên trang, chuyên mục đăng tải các tin, bài đấu tranh phản bác các thông tin và luận điệu sai trái, thù địch; siết chặt quy trình làm báo không để xảy ra sai sót về chính trị, nhất là những tin, bài liên quan những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, các sự kiện chính trị của đất nước, của các địa phương, đơn vị mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để thổi phồng, vu cáo chống phá.

Bốn là, sử dụng công cụ truyền thông cần đa dạng và linh hoạt. Trước mỗi vụ việc cụ thể (đợt tấn công) của các thế lực thù địch, truyền thông ta phản công trở lại cũng cần sử dụng có thứ tự, quy mô, mức độ liều lượng trên các loại hình báo chí; có trường hợp chỉ cần đấu tranh trên báo địa phương; có trường hợp lại tập trung đấu tranh trên báo mạng; lại có vấn đề cần phải phối hợp đấu tranh cùng một lúc trên tất cả các loại hình truyền thông… Tư tưởng chỉ đạo cần nhất quán là tích cực, chủ động, tỉnh táo, thiên biến vạn hóa, dĩ bất biến, ứng vạn biến, tránh tư tưởng nôn nóng, cực đoan, phiến diện.

Năm là, triệt để khai thác thế mạnh của từng loại hình truyền thông, báo chí: Điện tử, báo nói, báo hình, báo viết, nhất là khai thác triệt để tính kịp thời, đấu tranh có hiệu quả trên báo điện tử. Cần đa dạng hóa các hình thức, các thể loại báo chí phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Bên cạnh việc tận dụng, phát huy ưu thế đặc biệt của các thể loại báo chí chính luận, bình luận, trong thời gian tới, cần mở rộng hiệu quả hơn với các thể loại báo chí khác: Phỏng vấn, ghi nhanh, phiếm chỉ…

Sáu là, quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo trong nội dung tuyên truyền là chủ yếu những yếu tố tích cực của mọi lĩnh vực đời sống xã hội; phản ánh đầy đủ, kịp thời hiện thực sinh động đang diễn ra trên đất nước ta (đương nhiên có chọn lọc), tránh những sơ hở trong tuyên truyền để kẻ xấu lợi dụng chống phá. Các cơ quan báo chí cũng cần đổi mới nội dung, đảm bảo tính mới trong việc xác định rõ những vấn đề, chủ đề trọng tâm cần tập trung phê phán, phản bác; nâng cao tính thuyết phục của nội dung đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch. Trong đó, cần chú trọng kết hợp hiệu quả vừa cung cấp thông tin có tính định hướng, tính chính thống, vừa cung cấp đậm nét các thông tin mang tính chiến đấu trực diện với các quan điểm sai trái. Tăng cường các bài viết về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các quan điểm nhất quán của Đảng về dân chủ, nhân quyền, bảo vệ Tổ quốc… Đồng thời, tăng cường các bài viết có tính luật chiến, phê phán, bác bỏ từng luận điểm sai trái, thù địch. Cung cấp nhiều bài viết thể hiện tính khách quan, tính hai chiều, không né tránh những mật trái, mặt tiêu cực.

Bảy là, tạo điều kiện bồi dưỡng năng lực chính trị, phẩm chất cho các phóng viên, biên tập viên làm công tác báo chí để phát huy tốt hơn vai trò của họ trong việc hướng ngòi bút của mình vào đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc, sai trái của thế lực thù địch. Ở đây đặc biệt cần lưu ý đến hai yếu tố không thể thiếu của người làm công tác truyền thông, báo chí, đó là: Bản lĩnh chính trị vững vàng và đạo đức nghề nghiệp.

Tám là, trong môi trường thông tin đa chiều, báo chí truyền thông cần phải “vun đắp” niềm tin cho công chúng. Ngay đến nhà báo còn đứng trước nguy cơ bị “xô đẩy lòng tin chính trị”, việc đưa những tin thất thiệt kia có còn đủ sức níu kéo sự tin tưởng của độc giả? Báo chí có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng dư luận. Để làm tốt chức năng ấy, báo chí trước hết phải tôn trong sự thật và “vun đắp” niềm tin cho công chúng của mình.

Chín là, đổi mới cơ chế cung cấp thông tin cho các báo và tạp chí. Các cơ quan hữu quan cần quan tâm cung cấp thường xuyên thông tin tư liệu, luận cứ khoa học phê phán, phản bác các quan điểm sai trái cho các cơ quan báo chí; bảo đảm tính thời sự và thông tin chính thống để tăng cường tính chủ động và hiệu quả của báo chí trong cuộc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; qua đó, nâng cao hơn tính định hướng tư tưởng, góp phần giữ ổn định chính trị.

Mười là, tăng cường ứng dụng các tiện ích, kỹ thuật, công nghệ thông tin, tiện ích internet. Các tòa soạn báo, tạp chí điện tử cần khai thác, sử dụng triệt để công cụ mạng và những tiện ích của nó để triển khai các phương thức đấu tranh hiện đại. Tận dụng lợi thế tương tác của báo mạng điện tử, tổ chức các diễn đàn trực tuyến, tọa đàm trực tuyến, hội thảo trực tuyến về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam; tùy từng thời điểm có thể phê phê phán, phản bác trực tiếp các quan điểm sai trái, thù địch. Duy trì các chuyên trang, chuyên mục cung cấp các thông tin chính thống về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; các thành tựu kinh tế xã hội của đất nước trong 30 năm đổi mới... góp phần cung cấp cái nhìn toàn diện cho công chúng xã hội, gián tiếp phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Tận dụng lợi thế tương tác của báo mạng điện tử, tổ chức các diễn đàn trực tuyến, tọa đàm trực tuyến, hội thảo trực tuyến về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam; tùy từng thời điểm có thể phê phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về các thành tựu phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước; tìm hiểu về thành tựu trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam… góp phần cung cấp thông tin cho công chúng một cái nhìn toàn cảnh, phản bác lại các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch. Mở chuyên trang Hỏi - Đáp về âm mưu, thủ đoạn DBHB của các thế lực thù địch, về thành tựu kinh tế - xã hội, thực hiện dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Tạo các diễn đàn mở trên internet, trong đó đăng tải các bình luận, ý kiến của bạn đọc về Đảng, về đất nước, có lợi trong công tác tuyên truyền, tạo sức lan tỏa cao. Tổng hợp, đăng tải các phản hồi tích cực của bạn đọc trong và ngoài nước phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Tóm lại, làm thế nào để quản lý tốt được hệ thống báo chí truyền thông hiện nay, đòi hỏi các cơ quan quản lý báo chí phải có đội ngũ cán bộ giỏi nghiệp vụ, tinh thông nghề nghiệp, định hướng tốt đối tượng, nội dung và phương pháp quản lý. Đặc biệt, cần phải thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ cho các nhà báo chuyên viết về mảng này, từ đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, tình yêu đất nước, dân tộc cho các nhà báo… Ngoài ra, việc định hướng tuyên truyền luôn là vấn đề vô cùng quan trọng, bởi nếu không chủ động, thường xuyên và liên tục, hiệu quả truyền thông sẽ không cao. Mặt khác, để thực sự phát huy tối ưu những ưu thế của báo chí trong công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, các cơ quan báo chí phải thường xuyên tự đổi mới, đi tiên phong trên mặt trận đầy khó khăn và thách thức này, góp phần tạo sự đồng thuận cao trong xã hội.

Nhóm nghiên cứu đề tài
Bài viết là sản phẩm nghiên cứu của Đề tài khoa học cấp Bộ về “Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam”



Tài liệu tham khảo:

1. Đại tá, TS. Cao Xuân Trung, Chủ động phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận

2. Đại tá, TS. Đỗ Hồng Lâm, Lợi dụng truyền thông để chống phá Việt Nam
3. Ban Tuyên giáo trung ương, Tài liệu tuyên truyền trong nội bộ và định hướng đấu tranh với những luận điệu sai trái, thù dịch trên internet

4. GS.TS. Lê Hữu Nghĩa, Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng chính trị hiện nay - Thực trạng và quan điểm của Đảng ta

5. Đại tá, TS. Nguyễn Văn Quang, Nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá về tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch

6. Nâng cao hiệu quả đấu tranh và đổi mới phương thức đấu tranh

7. Đại tá, PGS.TSKHQS Trần Nam Chuân, Vạch trần cái gọi là “dân chủ”, “nhân quyền” của các thế lực thù địch
8. PGS.TS.Nguyễn Thành Lợi, Tính chuyên nghiệp của báo chí trong đấu tranh chống "diễn biến hòa bình"
9. Phạm Tuấn Minh, Lợi dụng truyền thông để tuyên truyền, chống phá cách mạng Việt Nam - Một thủ đoạn nguy hiểm của các thế lực thù địch

10. Đào Thanh Quyên, Đổi mới nội dung, phương thức đấu tranh chống quan điểm sai trái trên mạng internet hiện nay

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: