Thứ sáu 16/01/2026 15:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng vai trò của thiết chế truyền thông trong việc đấu tranh phản biện, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch

Ở Việt Nam, các thế lực thù địch thường lợi dụng vấn đề quyền con người, quyền công dân để thông tin sai sự thật thông qua các phương tiện truyền thông không chính nhằm mục đích bịa đặt những vấn đề “dân chủ, nhân quyền”, nhằm nói xấu chế độ ở Việt Nam; thường xuyên thông tin sai lệch về “dân chủ”, “nhân quyền”, tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại cách mạng Việt Nam...

Thông qua truyền thông, các thế lực thù địch đưa tin sai bản chất sự việc, hiện tượng, làm cho người dân có cái nhìn thiên lệch về những gì đang diễn ra trong đời sống xã hội, dẫn đến hoài nghi, mơ hồ, thiếu niềm tin vào sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng; tích cực tấn công vào một số cơ quan báo chí, xuất bản và một số nhà báo, nhất là những nhà báo trẻ có tư tưởng tự do, hòng mua chuộc, “chuyển hóa tư tưởng”, hứa hẹn tài trợ, hậu thuẫn vật chất... lôi kéo họ làm báo theo kiểu “tự do” phương Tây, xúi giục viết và đăng tải những bài báo với nội dung có lợi cho chúng, đi chệch tôn chỉ, mục đích, định hướng chính trị. Nhận biết được những hành động thù địch này, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các thiết chế truyền thông đã đẩy mạnh việc đấu tranh trên mặt trận thông tin, tuyên truyền và đạt được nhiều kết quả tích cực.

1. Thực trạng vai trò của thiết chế truyền thông trong việc đấu tranh, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch

Đấu tranh chống các luận điệu sai trái, xuyên tạc, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” của kẻ địch trên các phương tiện truyền thông, đặc biệt là báo chí không phải chủ đề mới, nhưng luôn mang tính chất thời sự, bởi đó là nhiệm vụ chính trị sống còn, thường xuyên của báo chí cách mạng. Chưa bao giờ báo chí nước ta có bước phát triển mạnh mẽ và toàn diện như hiện nay. Năm 2015, cả nước có 857 cơ quan báo chí, trong đó có 199 cơ quan báo chí in (86 báo trung ương, 113 báo địa phương), 658 tạp chí (521 tạp chí trung ương, 137 tạp chí địa phương), 01 hãng thông tấn quốc gia; có mạng lưới báo điện tử đang lớn mạnh cùng mạng lưới thông tin toàn cầu với số lượng người truy cập ngày một tăng. Báo chí hiện đại nước ta đã phát triển vượt bậc, có thể đạt trình độ ngang tầm với nhiều nước tiên tiến trong khu vực. Đội ngũ những người làm báo lớn mạnh về cả số lượng và chất lượng. Với nhiều ưu điểm như vậy, hiển nhiên báo chí nếu thực hiện tốt trách nhiệm chính trị, tôn chỉ mục đích của mình, nếu hội tụ được sức mạnh dưới sự chỉ huy chung sẽ tạo nên đột phá mạnh mẽ trong hoạt động thông tin tuyên truyền, trong đó có nội dung đấu tranh trực tiếp, gián tiếp phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, góp phần ổn định và phát triển đất nước.

Hệ thống báo chí Việt Nam đã phát huy tốt vai trò tiên phong trên lĩnh vực thông tin, tuyên truyền đối nội, đối ngoại; luôn giữ vững định hướng chính trị, kịp thời đấu tranh với những thông tin sai trái, xuyên tạc, phủ nhận truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, điều hành của chính quyền các cấp cùng thành tựu sự nghiệp đổi mới đất nước mấy chục năm qua. Nhiều tờ báo, tạp chí mở các chuyên trang, chuyên mục đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, làm rõ bản chất, vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhất là trên lĩnh vực báo chí, truyền thông. Nhiều bài viết đăng tải trên các báo, tạp chí của các chuyên gia, nhà phê bình dưới dạng chuyên sâu, chuyên đề, được nghiên cứu một cách bài bản, khoa học, tiếp cận đầy đủ, toàn diện, sâu sắc vấn đề kết hợp với những bài viết ngắn, cập nhật tính thời sự, mang hơi thở thực tiễn, tạo nên bức tranh tổng thể phản ánh trung thực mọi mặt của đời sống xã hội. Đó chính là vũ khí sắc bén đấu tranh phản bác lại những quan điểm sai trái, thù địch, lợi dụng tự do báo chí, tự do ngôn luận để chống Đảng, chế độ, làm mất ổn định chính trị, gây khó khăn cho việc kiến tạo môi trường hòa bình đối với sự nghiệp phát triển đất nước.

Thực tế hoạt động tuyên truyền của báo chí trong nhiều năm qua cho thấy, nhìn tổng thể, các cơ quan báo chí đều có ý thức tham gia đấu tranh chống diễn biến hòa bình, luận điệu xuyên tạc của kẻ địch trong cả thể loại báo in, báo điện tử, báo nói, báo hình. Số lượng, chất lượng tin, bài về chủ đề này trên các loại hình báo chí tuy khác nhau trong mỗi thời điểm nhưng đã phát huy tác dụng, một mặt nâng cao nhận thức cho người dân về bản chất các luận điệu, quan điểm sai trái; mặt khác, làm rõ những hành động xấu, gây phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc qua từng vụ việc cụ thể. Một trong những vấn đề nổi cộm trong cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng là các cơ quan báo chí cần phải quan tâm làm rõ những vấn đề mà các thế lực chống phá thường tập trung như công tác quản lý, các văn bản quy định về đất đai liên quan đến nhà thờ, những biểu hiện tham nhũng của quan chức, một số hoạt động của các giáo phái tôn giáo; qua đó đấu tranh chống phá các thế lực thù địch, cơ hội. Trong hệ thống báo chí cách mạng, các báo có số lượng bài, tin tham gia nội dung này tương đối đều, như các báo Nhân dân, Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân, Sài Gòn giải phóng, Hà Nội mới, Báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam; Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Tạp chí Công an Nhân dân, Tạp chí Tuyên giáo… Các báo trên ra hằng ngày, các tạp chí Cộng Sản, Quốc phòng toàn dân, Công an nhân dân, Tuyên giáo số ra hàng tháng (1 tháng một số) đều có các bài nghiên cứu, trao đổi công phu, đấu tranh phản bác có chiều sâu, có sức thuyết phục với các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, với một số tạp chí do số lượng có hạn, không phải tạp chí “lên sạp” như các báo, tạp chí khác nên sức lan tỏa đối với công chúng còn dừng ở mức chưa cao như mong muốn. Nói như vậy không có nghĩa là giá trị của thông tin trong các tạp chí không được phát huy. Ngược lại, những nội dung ấy có tác động lớn đến nhận thức của cán bộ, chiến sĩ của lực lượng vũ trang, trong cán bộ, đảng viên - lực lượng có vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Các cơ quan báo chí với nhiều ấn phẩm có nội dung tuyên truyền đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, nhất là bác bỏ các luận điệu ấy đã có tác động tích cực đối với đông đảo bạn đọc, song số lượng và chất lượng các bài viết về chủ đề này còn khiêm tốn, thậm chí còn có những cơ quan báo chí ít quan tâm đến chủ đề này; hoặc mới chỉ tập trung đấu tranh tuyên truyền khi các thế lực thù địch công khai tấn công, đấu tranh từng đợt theo sự định hướng, phân công tuyên truyền của các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí. Đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái trên các sách, báo văn hóa, văn nghệ còn tản mát, đơn điệu, rời rạc, thiếu tính chủ động, chưa thực sự kết nối chặt chẽ, nhất là lĩnh vực tư tưởng, lý luận.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả vai trò của thiết chế truyền thông trong đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch

Để hoạt động tuyên truyền trên các phương tiện thông tin truyền thông và đặc biệt là báo chí về chủ đề này sôi động, thường xuyên, đạt hiệu quả cao hơn, cần thực hiện những giải pháp sau:

Một là, cơ quan chỉ đạo, định hướng thông tin, ngoài công tác định hướng tuyên truyền hàng tuần nên tiếp tục đầu tư cho việc xây dựng, mở rộng “tổ chuyên gia”; tập hợp đa dạng hơn các thành phần, đặc biệt chú trọng đội ngũ các nhà nghiên cứu khoa học, lịch sử; có chế độ đãi ngộ “đặc biệt”, khai thác có hiệu quả hơn nữa sở trường của từng chuyên gia trong việc viết bài đấu tranh phản bác. Chủ động cung cấp hoặc kết nối thông tin, tư liệu, địa chỉ cung cấp tư liệu cho các phương tiện thông tin truyền thông và báo chí về các đề tài có liên quan đến cuộc đấu tranh này. Cơ quan chỉ đạo, quản lý truyên thông cần làm tốt hơn nữa vai trò kết nối sức mạnh của các loại hình báo chí, tiếp tục xây dựng kịch bản đấu tranh tuyên truyền, “phân vai”, đạo diễn “cao tay” hơn các đợt tuyên truyền tấn công và phản công lại các luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch; kết hợp chặt chẽ tuyên truyền báo chí với các hình thức tuyên truyền khác, trong đó lưu ý đúng mức đến hình thức tuyên truyền miệng.

Hai là, đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về báo chí và tuyên truyền. Có biện pháp quản lý chặt chẽ mạng Internet, ngăn ngừa các trang mạng độc hại kết hợp với tăng cường mở mới, đa dạng các trang mạng, báo chí có nội dung đấu tranh tư tưởng, lý luận của ta. Đây là một nội dung, biện pháp quản lý nhà nước đặc biệt quan trọng, nhằm ngăn chặn tận “gốc” nguồn tuyên truyền, phát tán những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch; quản lý chặt chẽ, không để lộ, lọt, sơ hở về đăng tải thông tin theo quy định của Nhà nước. Các cơ quan, đơn vị, lực lượng nghiệp vụ về tin học cần tăng cường theo dõi, kịp thời xử lý, khống chế có hiệu quả các trang mạng có nội dung phản động; phối hợp cùng các cơ quan tuyên truyền từng bước làm chủ thế trận tiến công về tư tưởng, lý luận trên mạng Internet.

Ba là, các cơ quan truyền thông báo chí, không chỉ các cơ quan chính trị - xã hội, các cơ quan trung ương đều cần đề cao trách nhiệm chính trị trong công tác tuyên truyền về chủ đề này. Theo đó, nên chủ động xây dựng “kịch bản” cho ấn phẩm của mình theo tôn chỉ mục đích, xây dựng truyên truyền nhằm phát huy thế mạnh nội tại của từng đơn vị truyền thông, từng loại hình truyền thông; đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng chủ trương, đường lối, chính sách cùng những thành tựu trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, điều hành của Nhà nước một cách thuyết phục để dân hiểu, dân tin. Phát huy tính chất chuyên sâu, chuyên ngành của báo chí, khối báo chí văn hóa, văn nghệ, tập trung đấu tranh trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, xuất bản; khối báo chí nội chính, chính trị xã hội, đấu tranh về chủ quyền biển đảo, quốc gia lãnh thổ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc…

Các cơ quan thông tin truyền thông ở địa phương duy trì thường xuyên chuyên trang, chuyên mục đăng tải các tin, bài đấu tranh phản bác các thông tin và luận điệu sai trái, thù địch; siết chặt quy trình làm báo không để xảy ra sai sót về chính trị, nhất là những tin, bài liên quan những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, các sự kiện chính trị của đất nước, của các địa phương, đơn vị mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để thổi phồng, vu cáo chống phá.

Bốn là, sử dụng công cụ truyền thông cần đa dạng và linh hoạt. Trước mỗi vụ việc cụ thể (đợt tấn công) của các thế lực thù địch, truyền thông ta phản công trở lại cũng cần sử dụng có thứ tự, quy mô, mức độ liều lượng trên các loại hình báo chí; có trường hợp chỉ cần đấu tranh trên báo địa phương; có trường hợp lại tập trung đấu tranh trên báo mạng; lại có vấn đề cần phải phối hợp đấu tranh cùng một lúc trên tất cả các loại hình truyền thông… Tư tưởng chỉ đạo cần nhất quán là tích cực, chủ động, tỉnh táo, thiên biến vạn hóa, dĩ bất biến, ứng vạn biến, tránh tư tưởng nôn nóng, cực đoan, phiến diện.

Năm là, triệt để khai thác thế mạnh của từng loại hình truyền thông, báo chí: Điện tử, báo nói, báo hình, báo viết, nhất là khai thác triệt để tính kịp thời, đấu tranh có hiệu quả trên báo điện tử. Cần đa dạng hóa các hình thức, các thể loại báo chí phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Bên cạnh việc tận dụng, phát huy ưu thế đặc biệt của các thể loại báo chí chính luận, bình luận, trong thời gian tới, cần mở rộng hiệu quả hơn với các thể loại báo chí khác: Phỏng vấn, ghi nhanh, phiếm chỉ…

Sáu là, quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo trong nội dung tuyên truyền là chủ yếu những yếu tố tích cực của mọi lĩnh vực đời sống xã hội; phản ánh đầy đủ, kịp thời hiện thực sinh động đang diễn ra trên đất nước ta (đương nhiên có chọn lọc), tránh những sơ hở trong tuyên truyền để kẻ xấu lợi dụng chống phá. Các cơ quan báo chí cũng cần đổi mới nội dung, đảm bảo tính mới trong việc xác định rõ những vấn đề, chủ đề trọng tâm cần tập trung phê phán, phản bác; nâng cao tính thuyết phục của nội dung đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch. Trong đó, cần chú trọng kết hợp hiệu quả vừa cung cấp thông tin có tính định hướng, tính chính thống, vừa cung cấp đậm nét các thông tin mang tính chiến đấu trực diện với các quan điểm sai trái. Tăng cường các bài viết về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các quan điểm nhất quán của Đảng về dân chủ, nhân quyền, bảo vệ Tổ quốc… Đồng thời, tăng cường các bài viết có tính luật chiến, phê phán, bác bỏ từng luận điểm sai trái, thù địch. Cung cấp nhiều bài viết thể hiện tính khách quan, tính hai chiều, không né tránh những mật trái, mặt tiêu cực.

Bảy là, tạo điều kiện bồi dưỡng năng lực chính trị, phẩm chất cho các phóng viên, biên tập viên làm công tác báo chí để phát huy tốt hơn vai trò của họ trong việc hướng ngòi bút của mình vào đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc, sai trái của thế lực thù địch. Ở đây đặc biệt cần lưu ý đến hai yếu tố không thể thiếu của người làm công tác truyền thông, báo chí, đó là: Bản lĩnh chính trị vững vàng và đạo đức nghề nghiệp.

Tám là, trong môi trường thông tin đa chiều, báo chí truyền thông cần phải “vun đắp” niềm tin cho công chúng. Ngay đến nhà báo còn đứng trước nguy cơ bị “xô đẩy lòng tin chính trị”, việc đưa những tin thất thiệt kia có còn đủ sức níu kéo sự tin tưởng của độc giả? Báo chí có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng dư luận. Để làm tốt chức năng ấy, báo chí trước hết phải tôn trong sự thật và “vun đắp” niềm tin cho công chúng của mình.

Chín là, đổi mới cơ chế cung cấp thông tin cho các báo và tạp chí. Các cơ quan hữu quan cần quan tâm cung cấp thường xuyên thông tin tư liệu, luận cứ khoa học phê phán, phản bác các quan điểm sai trái cho các cơ quan báo chí; bảo đảm tính thời sự và thông tin chính thống để tăng cường tính chủ động và hiệu quả của báo chí trong cuộc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; qua đó, nâng cao hơn tính định hướng tư tưởng, góp phần giữ ổn định chính trị.

Mười là, tăng cường ứng dụng các tiện ích, kỹ thuật, công nghệ thông tin, tiện ích internet. Các tòa soạn báo, tạp chí điện tử cần khai thác, sử dụng triệt để công cụ mạng và những tiện ích của nó để triển khai các phương thức đấu tranh hiện đại. Tận dụng lợi thế tương tác của báo mạng điện tử, tổ chức các diễn đàn trực tuyến, tọa đàm trực tuyến, hội thảo trực tuyến về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam; tùy từng thời điểm có thể phê phê phán, phản bác trực tiếp các quan điểm sai trái, thù địch. Duy trì các chuyên trang, chuyên mục cung cấp các thông tin chính thống về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; các thành tựu kinh tế xã hội của đất nước trong 30 năm đổi mới... góp phần cung cấp cái nhìn toàn diện cho công chúng xã hội, gián tiếp phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Tận dụng lợi thế tương tác của báo mạng điện tử, tổ chức các diễn đàn trực tuyến, tọa đàm trực tuyến, hội thảo trực tuyến về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam; tùy từng thời điểm có thể phê phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về các thành tựu phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước; tìm hiểu về thành tựu trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam… góp phần cung cấp thông tin cho công chúng một cái nhìn toàn cảnh, phản bác lại các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch. Mở chuyên trang Hỏi - Đáp về âm mưu, thủ đoạn DBHB của các thế lực thù địch, về thành tựu kinh tế - xã hội, thực hiện dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Tạo các diễn đàn mở trên internet, trong đó đăng tải các bình luận, ý kiến của bạn đọc về Đảng, về đất nước, có lợi trong công tác tuyên truyền, tạo sức lan tỏa cao. Tổng hợp, đăng tải các phản hồi tích cực của bạn đọc trong và ngoài nước phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Tóm lại, làm thế nào để quản lý tốt được hệ thống báo chí truyền thông hiện nay, đòi hỏi các cơ quan quản lý báo chí phải có đội ngũ cán bộ giỏi nghiệp vụ, tinh thông nghề nghiệp, định hướng tốt đối tượng, nội dung và phương pháp quản lý. Đặc biệt, cần phải thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ cho các nhà báo chuyên viết về mảng này, từ đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, tình yêu đất nước, dân tộc cho các nhà báo… Ngoài ra, việc định hướng tuyên truyền luôn là vấn đề vô cùng quan trọng, bởi nếu không chủ động, thường xuyên và liên tục, hiệu quả truyền thông sẽ không cao. Mặt khác, để thực sự phát huy tối ưu những ưu thế của báo chí trong công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, các cơ quan báo chí phải thường xuyên tự đổi mới, đi tiên phong trên mặt trận đầy khó khăn và thách thức này, góp phần tạo sự đồng thuận cao trong xã hội.

Nhóm nghiên cứu đề tài
Bài viết là sản phẩm nghiên cứu của Đề tài khoa học cấp Bộ về “Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam”



Tài liệu tham khảo:

1. Đại tá, TS. Cao Xuân Trung, Chủ động phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận

2. Đại tá, TS. Đỗ Hồng Lâm, Lợi dụng truyền thông để chống phá Việt Nam
3. Ban Tuyên giáo trung ương, Tài liệu tuyên truyền trong nội bộ và định hướng đấu tranh với những luận điệu sai trái, thù dịch trên internet

4. GS.TS. Lê Hữu Nghĩa, Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng chính trị hiện nay - Thực trạng và quan điểm của Đảng ta

5. Đại tá, TS. Nguyễn Văn Quang, Nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá về tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch

6. Nâng cao hiệu quả đấu tranh và đổi mới phương thức đấu tranh

7. Đại tá, PGS.TSKHQS Trần Nam Chuân, Vạch trần cái gọi là “dân chủ”, “nhân quyền” của các thế lực thù địch
8. PGS.TS.Nguyễn Thành Lợi, Tính chuyên nghiệp của báo chí trong đấu tranh chống "diễn biến hòa bình"
9. Phạm Tuấn Minh, Lợi dụng truyền thông để tuyên truyền, chống phá cách mạng Việt Nam - Một thủ đoạn nguy hiểm của các thế lực thù địch

10. Đào Thanh Quyên, Đổi mới nội dung, phương thức đấu tranh chống quan điểm sai trái trên mạng internet hiện nay

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: