Thứ năm 12/03/2026 14:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới và sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả tại Bộ Tư pháp

Thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 28-NQ/TW); Kế hoạch số 12-KH/TW ngày 28/11/2022 của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW; Kết luận số 50-KL/TW ngày 28/02/2023 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” (Kết luận số 50-KL/TW), ngày 08/9/2023, Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch số 122-KH/BCSĐ thực hiện với các nội dung trọng tâm như sau:

1. Về mục đích, yêu cầu

- Mục đích: (i) Cụ thể hóa và tổ chức thực hiện toàn diện, đầy đủ, chính xác, hiệu quả các nhiệm vụ có liên quan thuộc phạm vi chức năng, thẩm quyền của Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp được xác định trong Nghị quyết số 28-NQ/TW, Kế hoạch số 12-KH/TW và Kết luận số 50-KL/TW. (ii) Xác định đầy đủ, cụ thể nội dung công việc, thời hạn hoàn thành, trách nhiệm, kết quả thực hiện của các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp trong việc tham mưu, giúp các cấp ủy, tổ chức đảng chủ trì, phối hợp thực hiện các nhiệm vụ được giao, đảm bảo chất lượng, đúng tiến độ.

- Yêu cầu: (i) Bám sát chủ trương, định hướng của Đảng, các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới và đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; nhất là các giải pháp, nhiệm vụ được nêu tại Nghị quyết số 28-NQ/TW, Kế hoạch số 12-KH/TW và Kết luận số 50-KL/TW. (ii) Đảm bảo tính đồng bộ, nhất quán giữa Kế hoạch này với các Chương trình, Kế hoạch khác đã được Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp, Bộ Tư pháp ban hành. Xác định rõ nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị gắn với trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong tổ chức triển khai thực hiện. (iii) Bảo đảm nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đã được đề ra tại Kế hoạch theo hướng hiệu quả, tiết kiệm, giải quyết kịp thời các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện.

2. Các nhiệm vụ chủ yếu

Một là, quán triệt, học tập, tuyên truyền, phố biến nội dung Nghị quyết số 28-NQ/TW, Kế hoạch số 12-KH/TW và Kết luận số 50-KL/TW: (i) Tổ chức hội nghị quán triệt nội dung Nghị quyết số 28-NQ/TW, Kế hoạch số 12-KH/TW, Kết luận số 50-KL/TW và Kế hoạch này. (ii) Tổ chức quán triệt, học tập, tuyên truyền, phổ biến nội dung Nghị quyết số 28-NQ/TW, Kế hoạch số 12-KH/TW, Kết luận số 50-KL/TW và Kế hoạch này trong từng đơn vị thuộc Bộ.

Hai là, hoàn thiện thể chế và tổ chức thực hiện hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan: (i) Đổi mới, nâng cao chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng với một số hoạt động cụ thể như rà soát, cập nhật và hệ thống đầy đủ nghị quyết, quy định của Đảng trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý; rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan bảo đảm đồng bộ, thống nhất, tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới và tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật có liên quan thông qua việc xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện cụ thể của cơ quan, đơn vị. (ii) Rà soát các quy định về phân cấp, phân quyền và đề xuất sửa đổi, bổ sung cho phù hợp theo quy định, mà cụ thể là rà soát các quy định về phân cấp, phân quyền giữa Bộ Tư pháp và địa phương, giữa cấp trên và cấp dưới, gắn quyền hạn với trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân trong bộ máy hành chính, trường hợp cần thiết đề xuất sửa đối, bổ sung cho phù hợp theo quy định.

Ba là, tuyên truyền, vận động thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước với nội dung chủ yếu là nghiên cứu, đề xuất và thực hiện giải pháp phát huy vai trò của cơ quan báo chí, truyền thông, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên trong việc tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước bảo đảm thiết thực, phù hợp với từng đối tượng.

Bốn là, tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự, các hoạt động bổ trợ tư pháp, trong đó tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các giải pháp đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động thi hành án dân sự, các hoạt động bổ trợ tư pháp trên toàn quốc; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự, bổ trợ tư pháp; tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện thể chế trong các lĩnh vực này để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn.

Năm là, tiếp tục sắp xếp, kiện toàn tổ chức bên trong của các đơn vị theo hướng tinh gọn; hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của các tổ chức, đơn vị: (i) Rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ; sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy bên trong của đơn vị, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, giảm cấp trung gian, phù hợp với các quan điểm, nguyên tắc của Nghị quyết số 18-NQ/TW; Nghị quyết số 19-NQ/TW. (ii) Hoàn thiện, ban hành Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị thuộc Bộ. (iii) Hoàn thiện, ban hành Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức thuộc, trực thuộc đơn vị thuộc Bộ.

Sáu là, hoàn thiện danh mục vị trí việc làm cùng với khung năng lực, bản mô tả vị trí việc làm làm cơ sở xác định biên chế của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và thực tiễn: (i) Hoàn thiện, ban hành Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định vị trí việc làm công chức nghiệp vụ chuyên ngành Tư pháp theo quy định. (ii) Hoàn thiện, ban hành Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn về vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý và chức danh nghề nghiệp chuyên ngành, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực tư pháp theo quy định. (iii) Nghiên cứu, xây dựng, ban hành Thông tư hướng dẫn định mức số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực tư pháp theo quy định tại Nghị định số 106/2020/NĐ-CP ngày 10/9/2020 của Chính phủ về vị trí việc làm và số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập. (iv) Xây dựng, hoàn thiện Đề án vị trí việc làm trong từng cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc Bộ.

Bảy là, về quản lý biên chế, tinh giản biên chế và công tác cán bộ: (i) Tiếp tục thực hiện nghiêm chủ trương của Đảng, quy định của pháp luật về quản lý biên chế, tinh giản biên chế với nội dung thực hiện gồm: Thực hiện công tác quản lý biên chế, tinh giản biên chế có trọng tâm, trọng điểm gắn với nâng cao chất lượng, cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức phù hợp với chủ trương của Đảng và quy định của pháp luật; xây dựng, ban hành Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp giao biên chế hàng năm cho các đơn vị thuộc Bộ; Quyết định của Bộ trưởng ban hành Đề án tinh giản biên chế của Bộ Tư pháp giai đoạn 2022 - 2026. (ii) Tiếp tục cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp. (iii) Tiếp tục thực hiện chính sách thu hút, tuyển dụng nhân tài vào làm việc. (iv) Rà soát, sửa đổi quy định về số lượng cấp phó của người đứng đầu đơn vị thuộc Bộ.

Tám là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, quản lý biên chế, công chức, viên chức, trong đó, tập trung xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra việc thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, quản lý biên chế công chức, viên chức của các đơn vị thuộc Bộ và báo cáo Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ về kết quả thực hiện.

Chín là, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, đổi mới phong cách lãnh đạo, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng, trong đó, tập trung: (i) Đổi mới phong các lãnh đạo, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng với nội dung chính là nghiên cứu, tham mưu hoàn thiện quy định phân cấp thẩm quyền kiểm tra, giám sát của các cấp ủy Đảng, ủy ban kiểm tra các cấp, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp; rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy chế làm việc của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp. (ii) Rà soát, sửa đổi quy chế làm việc của Bộ và các cơ quan thuộc Bộ để trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền.

Mười là, đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong các cơ quan, đơn vị, trong đó, tập trung rà soát, tham mưu và tổ chức thực hiện cải cách hành chính, thủ tục hành chính trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của Bộ và của các đơn vị thuộc Bộ; nghiên cứu, tham mưu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số theo quy định và theo yêu cầu công tác của Bộ và các đơn vị thuộc Bộ.

3. Về trách nhiệm thực hiện

Kế hoạch xác định rõ: (i) Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp phối hợp với cấp ủy, tổ chức đảng tổ chức quán triệt, phổ biến và triển khai thực hiện Kế hoạch phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và tình hình, điều kiện thực tế của đơn vị. Đối với những nhiệm vụ đề ra trong Kế hoạch này đã được đề cập, lồng ghép trong các Chương trình hành động hoặc Kế hoạch công tác khác của Bộ Tư pháp thì thực hiện đồng bộ, thống nhất tất cả các Chương trình, Kế hoạch. (ii) Đề nghị Đảng ủy Bộ Tư pháp lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng ở các đơn vị thực hiện tốt việc quán triệt và phổ biến triển khai các nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch đảm bảo hiệu quả, chất lượng và thiết thực. Nghiên cứu, cụ thể hóa Nghị quyết, Kế hoạch bằng các chương trình, kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tế của cơ quan, đơn vị và bổ sung vào Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp. (iii) Báo Pháp luật Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Cục Công nghệ thông tin (Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp), Văn phòng Bộ tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến nhằm nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng của việc quán triệt, thực hiện các nhiệm vụ được giao của Kế hoạch này. (iv) Vụ Tổ chức cán bộ và các đơn vị thuộc Bộ có liên quan theo dõi, kiểm tra, giám sát, đánh giá để báo cáo Ban Cán sự Đảng hàng năm về việc thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW, Kết luận số 50-KL/TW và Kế hoạch này.

Minh Minh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: