Thứ hai 27/07/2026 21:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tính nhân văn của pháp luật Việt Nam trong giải quyết tài sản của vợ, chồng khi ly hôn

Tóm tắt: Bài viết này bàn về tính nhân văn của pháp luật Việt Nam thể hiện qua nguyên tắc “bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình” trong giải quyết tài sản của vợ, chồng khi ly hôn

Abstract: The article discusses the human character of Vietnamese law which is reflected through the principle "protecting rights, legitimate interests of women, minor children, especially adult children suffering loss of civil capacity or incapable of working and have no assets to support themselves” in the settlement of assets of married couples in case of porce.

Cùng với sự phát triển xã hội hiện nay, tình trạng ly hôn diễn ra ngày càng nhiều và ngày càng được xã hội quan tâm vì những hậu quả nặng nề, không mong muốn của nó. Khi cuộc sống vợ chồng rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì ly hôn là điều tất yếu nhằm giải thoát cho cả hai bên. Nhưng hậu quả pháp lý và xã hội mà nó để lại ảnh hưởng nghiêm trọng đến những đối tượng vốn là phái yếu - đó là những người phụ nữ và đứa con. Quyền lợi của bà mẹ và trẻ em - những người yếu đuối hơn được pháp luật tôn trọng, đề cao và bảo vệ chặt chẽ. Vì vậy, vấn đề rất được xã hội quan tâm khi vợ chồng ly hôn là bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, đặc biệt là con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Và pháp luật đã đóng vai trò không thể thiếu để bảo vệ những bà mẹ và trẻ em. Đó cũng là một trong những nguyên tắc cơ bản mang tính nhân văn, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và gần đây nhất là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã góp phần tích cực và quan trọng trong vấn đề này.
1. Tính nhân văn của nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ, chồng khi ly hôn được quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, theo đó: “1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng… để giải quyết; 2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: (a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; (b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; (c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; (d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng; 3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch; 4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung... Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ, chồng có thỏa thuận khác; 5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình…”. Quy định của khoản 5 Điều luật này đã thể hiện tính nhân văn sâu sắc của pháp luật nước ta.
Khi giải quyết ly hôn, Tòa án phải xem xét sao cho việc chia tài sản phải đảm bảo được quyền lợi chính đáng của các bên, đồng thời quan tâm đúng mức tới quyền của người vợ và các con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, bởi sau khi ly hôn người vợ và các con thường là những người gặp khó khăn hơn về kinh tế cũng như về mặt tình cảm. Vì vậy, vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người phụ nữ và các con được quan tâm và đặt lên hàng đầu.
Trải qua tiến trình lịch sử, phụ nữ Việt Nam từ bao đời nay đã có vai trò vô cùng quan trọng và không thể thiếu được trong gia đình cũng như xã hội. Người phụ nữ là người chăm sóc, giáo dục con cái chủ yếu trong gia đình, sắp xếp, tổ chức cuộc sống gia đình… Trong xã hội hiện đại, người phụ nữ vừa phải bươn trải, lo toan công việc xã hội, vừa phải chu toàn việc chăm sóc con cái, gia đình. Thậm chí, nhiều người phải hy sinh sự nghiệp để lùi về làm hậu phương vững chắc cho người chồng yên tâm phấn đấu ngoài xã hội. Vì thế, sau khi ly hôn, qua bao nhiêu năm tuổi xuân phấn đấu và vun đắp, nhiều chị em đã phải ra khỏi nhà với “hai bàn tay trắng”, không gia đình, không sự nghiệp. Sau ly hôn, người đàn ông thường nhanh chóng bước tiếp “tập hai” nhẹ nhàng, đơn giản hơn nhiều so với người phụ nữ. Nhìn vào thực tế thì thấy rõ, đàn ông đã “một đời vợ” vẫn có thể tái hôn dễ dàng với “gái chưa chồng”, nhưng phụ nữ “một đời chồng” mà lấy được “trai chưa vợ” là điều hiếm thấy. Họ nhẹ nhàng hơn cũng bởi vì khi đã ly hôn, họ ít khi trực tiếp nuôi con nên sự “ràng buộc” cũng phần nào được “nới lỏng”, dễ được chấp nhận hơn. Ngược lại, khi cuộc hôn nhân tan vỡ, người phụ nữ dù không có con cũng rất khó khăn, khi đã có con thì càng khó kiếm được một người đàn ông yêu mình thực sự và thương các con mình như con đẻ. Vì vậy, nhiều người phụ nữ đã sống trong vô vọng, chỉ tập trung nuôi con cái và chọn công việc làm niềm vui. Mỗi người một hoàn cảnh, ly hôn từ những lý do khác nhau, với những tâm trạng khác nhau. Nhìn chung, người phụ nữ không ai muốn dang dở, hậu quả không tốt cho bản thân và cho con cái.
Trẻ em là tương lai của đất nước. Bảo vệ trẻ em là bảo vệ quyền con người, là trách nhiệm của gia đình và toàn xã hội. Việc đầu tư cho công tác bảo vệ trẻ em là đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước. Do vậy, trẻ em phải được quan tâm, chăm sóc, bảo vệ cả về thể chất, trí tuệ và đạo đức để nối tiếp sự nghiệp cha ông. Cha mẹ đóng vai trò rất quan trọng trong việc trang bị cho con cái cả tri thức về chuẩn mực đạo đức cũng như hình thành được những tình cảm mang tính đạo đức. Nhưng khi cha mẹ ly hôn, đứa trẻ dễ thiếu đi sự hài hòa trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của bản thân khi chỉ sống với cha hoặc mẹ; thậm chí không sống với cả cha và mẹ, tức là mất đi cả hai chỗ dựa vô cùng cần thiết. Việc con cái thiếu người mẹ, sẽ thiếu đi sự hiện thân của lòng tốt, lòng thương cảm, tính dịu hiền và sự quan tâm chăm sóc; còn thiếu người bố là sự thiếu hụt tính cứng rắn, tính nguyên tắc, tính nghiêm khắc, dũng cảm, có tổ chức trong nhân cách của trẻ. Việc ly hôn của cha mẹ thường để lại hậu quả về mặt tâm lý cho con cái như đứa trẻ bị trầm cảm, thất bại ở trường học và vi phạm pháp luật.
Chính vì lẽ đó, tính nhân văn của con người luôn được đề cao thể hiện trong chính các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, trong đó có quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ, chồng khi ly hôn được quy định tại khoản 5 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nhằm hướng tới một xã hội bình đẳng, dân chủ và văn minh; mọi người thực hiện quyền con người, quyền công dân của mình một cách công bằng.
2. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong quá trình giải quyết tài sản khi ly hôn
2.1. Những thuận lợi trong quá trình áp dụng
Cùng với sự phát triển của xã hội, nhận thức pháp luật của mỗi người dân càng được nâng cao. Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, vai trò của người vợ, người mẹ và trẻ em càng được nhận thức đúng đắn, quyền và lợi ích hợp pháp của họ được tôn trọng. Đánh giá của xã hội về vai trò của người phụ nữ và trẻ em đã có sự thay đổi lớn so với thời kỳ trước. Yếu tố này thúc đẩy sự quan tâm, giúp đỡ, tài trợ của những tổ chức, đoàn thể, hiệp hội trong việc đảm bảo quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em. Hội Liên hiệp phụ nữ và các cơ quan đoàn thể từ trung ương đến địa phương đang thể hiện vai trò ngày càng quan trọng trong việc đảm bảo quyền lợi cho phụ nữ - phái yếu trong gia đình. Bên cạnh đó, sự xuất hiện và tham gia của những tổ chức nhân đạo, tổ chức phi Chính phủ về vấn đề bảo vệ phụ nữ và trẻ em đang tạo động lực lớn cho việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc này trong thực tiễn.
Trên thực tế, từ khi đổi mới tới nay, công tác bảo vệ bà mẹ và trẻ em đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, các tổ chức đoàn thể như Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, trung tâm bảo vệ bà mẹ trẻ em và kế hoạch hóa gia đình đã hoạt động có hiệu quả, giúp cho công tác giải quyết ly hôn bảo đảm thực hiện tốt nguyên tắc trên. Bên cạnh đó, chất lượng xét xử và thực hiện xã hội hóa hoạt động bảo vệ bà mẹ và trẻ em đặc biệt trong vấn đề nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em nhất là khi giải quyết vấn đề ly hôn, vấn đề phụ nữ và trẻ em đã được quan tâm, đặc biệt là khu vực vùng sâu, vùng xa, miền núi được xã hội quan tâm và bảo vệ. Chất lượng cán bộ tư pháp giỏi, giàu kinh nghiệm, cảm thông và đấu tranh cho quyền lợi của bà mẹ, trẻ em và tinh thần trách nhiệm trong công việc cũng tạo điều kiện pháp luật được thực hiện đúng, triệt để, công tác giải quyết ly hôn được bảo đảm công bằng, bình đẳng.
2.2. Những khó khăn trong quá trình áp dụng
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, áp dụng nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong quá trình giải quyết tài sản khi ly hôn còn nhiều khó khăn, trở ngại.
Thứ nhất, theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, việc chia tài sản khi vợ, chồng ly hôn phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ và con. Khi chia có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Tuy nhiên, việc xác định tài sản chung của vợ chồng còn gặp nhiều khó khăn, quyền lợi của người phụ nữ và trẻ em chưa được đảm bảo, đặc biệt ở những vùng dân trí kém phát triển, khi ly hôn người vợ thường không được chia tài sản hoặc được chia rất ít, họ cho rằng người vợ chỉ ở nhà nên không có công tạo lập khối tài sản chung.
Thứ hai, vấn đề bảo vệ phụ nữ và trẻ em trong các vụ tranh chấp quyền lợi về hôn nhân và gia đình trên thực tế ngày càng phức tạp, khó khăn. Thiếu hiểu biết về luật pháp, không có thói quen cũng như khả năng sử dụng luật pháp để bảo vệ quyền lợi của bản thân và các con là nguyên nhân dẫn đến việc chị em phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi trong các vụ án ly hôn, tranh chấp tài sản. Rõ ràng, việc giáo dục, phổ biến pháp luật để chị em ý thức được về quyền lợi cũng như những quy định của pháp luật bảo vệ họ là vô cùng cần thiết nhưng vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Nhất là ở Việt Nam, do chịu ảnh hưởng của văn hóa Á Đông, nhiều chị em vẫn sống theo mẫu hình truyền thống, hy sinh vì chồng, con, gia đình, mà quên đi quyền lợi của bản thân. Đặc biệt là phụ nữ nông thôn, nghèo, ở vùng sâu, vùng xa… ít có điều kiện tiếp cận nâng cao nhận thức về pháp luật nên thường phải chịu thiệt thòi.
3. Một số kiến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền bà mẹ, trẻ em nói chung và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong giải quyết ly hôn nói riêng.
Sự hoàn thiện của pháp luật là yếu tố quan trọng tạo điều kiện thuận lợi để nguyên tắc này được thực hiện. Những quy định về lĩnh vực này trong Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (Luật Trẻ em), Luật Bình đẳng giới… cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành đang ngày càng được hoàn thiện để đảm bảo thống nhất nguyên tắc bảo vệ phụ nữ và trẻ em trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Thứ hai, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình.
Đây là biện pháp đóng vai trò quan trọng trong công tác nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hôn nhân và gia đình nói chung và thực hiện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong quá trình giải quyết tài sản khi ly hôn nói riêng. Bởi lẽ, pháp luật chỉ có thể thực thi sứ mệnh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người khi người mà nó hướng tới bảo vệ thực sự hiểu nó. Hơn nữa, ở một quốc gia có truyền thống tâm lý “trọng nam khinh nữ”, “xuất giá tòng phu” như Việt Nam thì việc bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em khi ly hôn không phải dễ dàng thực hiện một cách triệt để. Hoạt động tăng cường này có thể được triển khai dưới nhiều hình thức như tổ chức các buổi nói chuyện, hội thảo chuyên đề, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật hôn nhân và gia đình... Việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật cùng với những thay đổi trong cách nhìn nhận về vai trò và quyền lợi của phụ nữ và trẻ em đã xóa bỏ những định kiến vốn là yếu tố cản trở việc đảm bảo nguyên tắc bảo vệ phụ nữ và trẻ em trong quá trình áp dụng pháp luật nói chung và trong giải quyết tài sản khi ly hôn nói riêng.
Thứ ba, nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án các cấp.
Muốn nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong quá trình giải quyết tài sản khi ly hôn, bên cạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, công tác nâng cao chất lượng xét xử là một yêu cầu quan trọng. Muốn vậy, cần nâng cao trình độ, kĩ năng nghiệp vụ pháp lý của đội ngũ cán bộ tư pháp. Hôn nhân và gia đình có một đặc trưng là bên cạnh góc độ pháp lý còn mang yếu tố tình cảm. Vì vậy, trong quá trình xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình đòi hỏi Thẩm phán phải huy động mọi kiến thức pháp lý, kinh nghiệm sống và khả năng phán đoán tâm lý để đưa ra phán quyết đúng đắn, hợp tình hợp lý nhất. Do đó, nên chăng thành lập một hệ thống cơ quan riêng chuyên xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình để nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án.
Việc ghi nhận nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong quá trình giải quyết tài sản khi ly hôn có ý nghĩa to lớn và quan trọng về cả lý luận và thực tiễn. Tuy chưa được thể hiện một cách triệt để, toàn diện, nhưng việc ghi nhận nguyên tắc này trong chế định ly hôn cho thấy sự tiến bộ của pháp luật hôn nhân gia đình nói riêng, hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung trong việc bảo đảm quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em. Nó tạo nên sự thống nhất về những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Nhà nước trong toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình, đồng thời, tạo nên khuôn khổ pháp lý cho việc áp dụng những quy tắc này vào thực tiễn, nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em ngày càng tốt hơn trong xã hội hiện đại.

Đào Thanh Huyền

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: