Thứ tư 29/07/2026 04:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tính ổn định của pháp luật dưới góc độ quyền con người

Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được pháp luật quốc tế và pháp luật các quốc gia ghi nhận và bảo vệ. Ở Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Để bảo đảm quyền, tự do cơ bản của con người, pháp luật phải đáp ứng một số yêu cầu cơ bản, trong đó có tính ổn định. Sự ổn định, chắc chắn của pháp luật làm cho công dân yên tâm làm ăn, sinh sống, tin tưởng vào pháp luật, tuân thủ pháp luật một cách tự nguyện. Nội dung bài viết phân tích về tính ổn định của pháp luật dưới góc độ bảo vệ quyền con người, cũng như mối liên hệ giữa tính ổn định của pháp luật và các đòi hỏi về tính dễ tiếp cận, tính khả đoán của pháp luật trong Nhà nước pháp quyền.



1. Tính ổn định của pháp luật

Luật pháp cần có sự ổn định để bảo đảm sự an toàn cho các quan hệ xã hội[1]. Dưới góc độ quyền con người, sự ổn định của pháp luật là cần thiết, vì pháp luật trước hết là phương tiện bảo đảm an toàn và tự do của các cá nhân. Tính ổn định là một trong những tiêu chuẩn nội tại của hệ thống pháp luật dựa trên pháp quyền, hướng tới mục tiêu đảm bảo công lý và phát triển bền vững[2]. Một số tác giả coi đây là đặc trưng quan trọng nhất của pháp quyền[3]. Theo các chuyên gia của dự án World Justice Project[4], pháp luật trong Nhà nước pháp quyền phải đáp ứng mội số yêu cầu cơ bản, trong đó có yêu cầu pháp luật phải rõ ràng, được công bố, ổn định.

Trong tác phẩm “Đạo của pháp luật” (The Morality of Law), giáo sư luật Đại học Harvard - Lon Fuller cho rằng, các tiêu chuẩn nội tại của pháp luật bao gồm[5]: (i) Phải chứa đựng quy phạm cụ thể (không được chuyển tải toàn các khẩu hiệu mà không chứa đầy đủ mô thức quy phạm theo đúng công thức giả định, quy định và chế tài); (ii) Công khai; (iii) Không được chứa đựng quy phạm khó hiểu, không rõ ràng hoặc đa nghĩa (điều này khiến cho thông điệp của văn bản trở nên không rõ ràng); (vi) Không có hiệu lực hồi tố; (v) Không chứa đựng các quy định mâu thuẫn nhau; (vi) Không đưa ra các yêu cầu vượt quá khả năng chấp hành của người bị điều chỉnh hoặc vượt quá khả năng thi hành của cơ quan thực thi pháp luật; (vii) Ổn định; (viii) Đảm bảo chữ tín trong thi hành pháp luật.

Ngay từ đầu thế kỷ XX, luật gia người Pháp René Demogue cho rằng: Không có gì nguy hại cho sự tôn trọng luật pháp và ý niệm về luật pháp hơn sự thiếu ổn định về mặt pháp luật. Pháp luật là khuôn khổ vững chắc của xã hội loài người. Chỉ đưa vào luật pháp những thay đổi một cách khôn ngoan, sau khi có những suy ngẫm và nghiên cứu chuyên sâu[6]. Điều này cũng đúng với sự ổn định và yên ổn của các chủ thể pháp luật, vì họ không thể nắm bắt và thích ứng với những thay đổi quá thường xuyên. Giáo sư Georges Ripert đề cao tính ổn định của luật pháp. Theo ông, giá trị của luật pháp nằm ở sự liên tục, nhờ sự liên tục đó mà luật pháp có được tính chính danh của mình[7], luật pháp là một thứ gắn liền trật tự và tính liên tục, thế giới không thể sống trong hạnh phúc nếu thiếu sự an toàn do luật pháp tạo ra[8]. Nghĩa là, pháp luật phải có tính chắc chắn, ổn định trong khoảng thời gian đủ dài; các thiết chế, luật lệ, chính sách không được phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bất kỳ cá nhân hay nhóm người nào. Sự ổn định, chắc chắn của luật pháp làm cho công dân yên tâm làm ăn, sinh sống, tin tưởng vào pháp luật, tuân thủ pháp luật một cách tự nguyện. Ngược lại, sự thiếu ổn định của pháp luật tạo nên tâm lý bất an, sự thiếu an toàn trong các hoạt động của đời sống.

Nhìn nhận dưới góc độ quyền con người, sự ổn định là một trong những điều kiện căn bản của hệ thống pháp luật, nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch và tình trạng của các chủ thể trong đời sống xã hội[9]. Nói cách khác, an toàn pháp lý là một điều kiện đảm bảo quyền con người[10]. Trong các yếu tố tạo ra an toàn pháp lý thì tính ổn định pháp luật là một đòi hỏi cơ bản, bên cạnh tính dễ tiếp cận, tính dễ hiểu, tính khả đoán (có thể dự liệu trước)[11].

Sự ổn định của pháp luật thực định liên quan đến sự ổn định của nguồn pháp luật - nơi tìm thấy các giải pháp cho các vấn đề pháp lý[12]. Trong đó, sự ổn định của luật thành văn là yếu tố quan trọng nhất tại các quốc gia đề cao nguồn luật thành văn (văn bản quy phạm pháp luật) như các nước thuộc hệ thống Civil Law và các nước chịu ảnh hưởng của “họ” pháp luật xã hội chủ nghĩa. Đối với các quốc gia từ lâu thừa nhận và phổ biến các loại nguồn pháp luật khác ngoài luật thành văn, sự ổn định của pháp luật còn gắn liền với sự ổn định của các loại nguồn pháp luật khác, ví dụ như các án lệ. Thông qua hệ thống án lệ đồ sộ của mình, Tòa án nhân quyền châu Âu (ECHR) phân biệt tính ổn định của pháp luật thành 03 nhóm[13]: Sự ổn định của các quy định pháp luật nội dung, sự ổn định về mặt trình tự, thủ tục và sự ổn định của hệ thống án lệ. Muốn bảo đảm các quyền, tự do cơ bản của con người, thì pháp luật phải đáp ứng được các tiêu chí về mặt chất lượng. Trong đó, tiêu chí về tính ổn định là một yếu tố của pháp luật có chất lượng, bởi vì pháp luật nếu thay đổi thường xuyên sẽ không bảo đảm được tính hiệu lực của các quyền[14].

Tính ổn định của pháp luật nhằm đảm bảo sự liên tục, thường xuyên, đều đặn của các tình huống pháp lý đang có hiệu lực được dự liệu bởi luật pháp: Các tình huống này đến từ các biện pháp hay cách hành xử của cơ quan công quyền và một khi các biện pháp hay cách hành xử được đưa ra, mặc dù chúng có thể được sửa đổi hay hủy bỏ (nghĩa là đòi hỏi về tính ổn định không có tính tuyệt đối) nhưng phải tuân theo một số điều kiện về mặt nội dung và hình thức chặt chẽ. Tính ổn định gắn liền với hiệu lực pháp luật của bản án, quyết định của Tòa án, các nguyên tắc về thời hiệu pháp lý… Những thay đổi, điều chỉnh có thể diễn ra nhưng phải tuân theo những trình tự, thủ tục pháp lý có tính ổn định cao và phải được dự liệu trước.

2. Mối liên hệ giữa tính ổn định pháp luật và quyền con người

Giáo sư Đào Trí Úc cho rằng, thuộc tính nội tại quan trọng nhất của pháp luật trong Nhà nước pháp quyền là bảo vệ, bảo đảm quyền con người. Nói đúng hơn, bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của con người là nội hàm của Nhà nước pháp quyền[15]. Giáo sư Yves Madiot cho rằng, pháp luật hướng tới một mục tiêu cụ thể là bảo vệ cá nhân trong quan hệ với công quyền cũng như quan hệ với các cá nhân khác[16]. Để bảo vệ quyền, tự do cơ bản của con người, pháp luật phải đáp ứng một số yêu cầu, đòi hỏi, trong đó có yêu cầu về tính ổn định. Sự ổn định của các quy phạm pháp luật thực định là cơ sở cho sự ổn định của môi trường pháp lý và của các tình huống pháp lý, qua đó là sự ổn định cho các quyền chủ thể. Các chủ thể pháp luật biết được điều gì chờ đợi mình (các quy định pháp luật được đặt ra có tính ổn định giúp chủ thể pháp luật dự liệu trước - tính khả đoán của pháp luật) và tập hợp, chuẩn bị sẵn những lời khuyên, tư vấn để bảo vệ, củng cố các quyền của mình, ngay trước khi các quyền và nghĩa vụ này phát sinh.

Về mặt thực tiễn, Tòa án nhân quyền châu Âu (ECHR) từ năm 1979 đã xem tính ổn định của pháp luật như một yếu tố cấu thành của an toàn pháp lý - nguyên tắc cơ bản của pháp luật châu Âu[17]. An toàn pháp lý dẫn chiếu tới một số yêu cầu về mặt “chất lượng” pháp luật, gồm tính dễ tiếp cận, dễ hiểu, tính ổn định và khả đoán của luật pháp[18]. Tòa án công lý châu Âu từ năm 1982[19] đã đặt ra yêu cầu về tính ổn định của quy phạm pháp luật như một điều kiện để bảo đảm an toàn pháp lý của cá nhân. Án lệ của các Tòa án này ảnh hưởng tới pháp luật của các nước châu Âu với tư cách là một loại nguồn của pháp luật quốc gia. Theo đó, một số quốc gia dần thừa nhận an toàn pháp lý, như một nguyên tắc cơ bản của pháp luật. Trong số các bảo đảm của an toàn pháp lý thì tính ổn định của pháp luật là một yếu tố quan trọng. Ví dụ, khoản 3 Điều 9 Hiến pháp Tây Ban Nha năm 1978 quy định về an toàn pháp lý, theo đó, “bảo đảm nguyên tắc pháp chế, trật tự của quy phạm pháp luật, tính công khai, không hồi tố của các quy định đưa ra mức hình phạt nghiêm khắc hơn hoặc thu hẹp các quyền cá nhân, an toàn pháp lý…”[20]. Tại Pháp, nguyên tắc an toàn pháp lý không được đề cập trực tiếp trong pháp luật thực định và trong một thời gian dài các cơ quan tố tụng đắn đo trong việc áp dụng nguyên tắc này, nhưng phán quyết ngày 24/3/2006, Tham chính viện (Conseil d’Etat) đã chính thức công nhận nguyên tắc này[21].

3. Tính ổn định của pháp luật Việt Nam hiện nay và một số vấn đề đặt ra

Tại Việt Nam, tính ổn định của pháp luật bước đầu được một số học giả quan tâm nghiên cứu[22]. Theo đó, tính ổn định của pháp luật nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung là một yêu cầu quan trọng trong các tiêu chuẩn của pháp luật và hệ thống pháp luật trong Nhà nước pháp quyền[23]. Một số tác giả cho rằng, pháp luật không phải là hiện tượng bất biến nhưng nếu pháp luật được sửa đổi quá thường xuyên trong một thời gian ngắn hoặc rất ngắn thì pháp luật đó không có tính ổn định tương đối[24].

Đối với hệ thống pháp luật Việt Nam, sự ổn định của hệ thống pháp luật đồng nghĩa với sự ổn định của luật thành văn. Bởi vì, hệ thống pháp luật Việt Nam ngày nay cơ bản vẫn dựa trên nền tảng hệ thống pháp luật của các nước xã hội chủ nghĩa[25] (Soviet Law) và ít nhiều thừa hưởng một số yếu tố của hệ thống dân luật (Civil law). Về cơ bản, pháp luật xã hội chủ nghĩa có nhiều nét tương đồng với hệ thống dân luật - vốn đề cao pháp luật thành văn, đề cao pháp điển hóa và xem văn bản quy phạm pháp luật là nguồn pháp luật chính[26].

Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, trước những chuyển biến nhanh của đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, hệ thống pháp luật Việt Nam có nhiều thay đổi để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh xã hội. Tuy nhiên, chính sự thay đổi thường xuyên của pháp luật cũng làm giảm đi tính ổn định cần có. Thực tế này đã được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng cũng như trong định hướng hoàn thiện pháp luật của Nhà nước. Cụ thể, Văn kiện Đại hội XII của Đảng cho rằng: “Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, nhiều nội dung chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, còn chồng chéo; tính công khai, minh bạch, khả thi, ổn định còn hạn chế”[27]. Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước của Chính phủ giai đoạn 2016 - 2020 đã đặt ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành cơ bản nhiệm vụ xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, với chi phí tuân thủ thấp, dựa trên hệ thống chính sách đã được hoạch định trong từng lĩnh vực phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội[28].

Hiện nay, một xu hướng dễ nhận thấy là sự gia tăng của số lượng văn bản quy phạm pháp luật theo từng năm. Tuy nhiên, chất lượng của pháp luật thì không gia tăng tương ứng, chưa tính sự chồng chéo, xung đột giữa các văn bản pháp luật[29]. Đây là một trở lực lớn cho khả năng tiếp cận pháp luật, tiếp cận công lý của người dân. Số lượng văn bản quy phạm pháp luật quá nhiều, phức tạp dẫn tới việc hiểu và nắm vững pháp luật là rất khó khăn với người dân.

Thực tiễn xây dựng hệ thống pháp luật ở Việt Nam cho thấy, một số đạo luật quan trọng như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường... có “tuổi thọ” chưa cao. Từ năm 1995 tới năm 2015, Việt Nam ban hành ba Bộ luật Dân sự; từ năm 1999 đến năm 2014, Việt Nam ban hành ba Luật Doanh nghiệp; còn Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Bộ luật Hình sự năm 2015 phải sửa đổi ngay cả khi chưa có hiệu lực thi hành[30]. Đối với văn bản dưới luật, vẫn còn diễn ra tình trạng văn bản hướng dẫn thi hành đầu năm ban hành, cuối năm đã bãi bỏ hoặc vừa ban hành đã ngưng hiệu lực thi hành. Ví dụ, Thông tư số 36/2017/TT-BYT của Bộ Y tế được ban hành ngày 11/9/2017 để bãi bỏ toàn bộ Thông tư số 03/2017/TT-BYT ngày 22/3/2017 ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 5-1:2017/BYT đối với các sản phẩm sữa dạng lỏng; Thông tư số 53/2017/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên - Môi trường được ban hành ngày 04/12/2017 để ngưng hiệu lực thi hành khoản 5 Điều 6 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 về việc ghi tên các thành viên có chung quyền sử dụng đất vào sổ đỏ hộ gia đình[31]…

Sự thay đổi quá nhanh của pháp luật là một rào cản đối với khả năng tiếp cận pháp luật của người dân. Đặc biệt, tình trạng luật mới ban hành ra sau một thời gian ngắn đã phải sửa đổi khá phổ biến[32] là biểu hiện rõ nhất của chất lượng xây dựng pháp luật chưa cao và tính thiếu ổn định của pháp luật Việt Nam.

Trong thực tiễn thực thi pháp luật, người dân, nhà đầu tư thường “phàn nàn” về chất lượng hệ thống pháp luật ở Việt Nam, trong đó đặc biệt quan ngại về tính ổn định của hệ thống pháp luật biểu hiện ở việc “thiếu ổn định trong chính sách” như phản ánh trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2016 - 2017 của Diễn đàn Kinh tế thế giới[33].

Để khắc phục tính thiếu ổn định của pháp luật Việt Nam nay, tác giả cho rằng, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng lập pháp: Sự thay đổi quá thường xuyên của pháp luật liên quan đến sự hạn chế trong công tác xây dựng pháp luật. Để khắc phục tình trạng này cần nâng cao tính chuyên môn, vai trò của các chuyên gia pháp lý, nâng cao vai trò của Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong việc xây dựng pháp luật.

Thứ hai, cần thường xuyên tiến hành hoạt động hệ thống hóa, đặc biệt là hoạt động pháp điển hóa pháp luật. Như đã phân tích, do sự phát triển của các quan hệ xã hội nên lĩnh vực mà pháp luật điều chỉnh cũng thường xuyên được mở rộng, số lượng các văn bản quy phạm được ban hành ngày càng nhiều. Hàng năm, có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới nhiều hình thức khác nhau, như luật, bộ luật, pháp lệnh, nghị quyết... Hệ thống hóa là công cụ quan trọng để khắc phục sự chồng chéo, mâu thuẫn của các văn bản quy phạm pháp luật, qua đó, tạo cho chúng có một sức sống lâu dài.

Thứ ba, cần nâng cao tính dự báo của luật. Muốn làm được điều này, cơ quan chủ trì soạn thảo, nhóm nghiên cứu, tham mưu, ban soạn thảo hoặc tổ biên tập cần đầu tư nhiều hơn cho công tác nghiên cứu đối tượng điều chỉnh của văn bản, xác định rõ quy mô, nguyên nhân, các yếu tố tác động vào chính sách pháp luật mà văn bản được ban hành để giải quyết, nhận diện được quy luật chi phối sự vận động của vấn đề chính sách và xu hướng vận động của vấn đề chính sách[34].

Thứ tư, chỉ ban hành quy định mới nếu các quy định hiện hành thực sự không thể điều chỉnh được quan hệ xã hội đang cần điều chỉnh hoặc có thể điều chỉnh nhưng với hiệu quả thấp. Chỉ đặt vấn đề sửa đổi, bổ sung những quy định bất hợp lý khi có chứng minh rõ ràng về chi phí/lợi ích của việc sửa đổi, bổ sung theo hướng lợi ích của việc sửa đổi, bổ sung rõ ràng lớn hơn chi phí của việc sửa đổi, bổ sung.

TS. Nguyễn Văn Quân
ThS. Nguyễn Thị Hoài Phương
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội


[1]. Jean-Louis Bergel, Théorie générale du droit, 5ème édition, Nxb. Dalloz, 2012, tr. 128.

[2]. Trần Kiên, Tính ổn định của pháp luật: Lý thuyết, kinh nghiệm quốc tế và khả năng áp dụng cho Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Xây dựng môi trường pháp lý bảo đảm cho sự phát triển bền vững và lành mạnh của kinh tế tư nhân”, Hà Nội, ngày 12/11/2019, tr. 63.

[3]. Barry R. Weingast, Why Developing Countries Prove So Resistant to the Rule of Law, paper prepared for World Justice Forum, Vienna, July 2-5/2008.

[4]. Xem: https://worldjusticeproject.org/our-work/research-and-data/wjp-rule-law-index-2020, truy cập ngày 20/12/2020.

[5]. Lon L.Fuller,TheMoralityofLaw,YaleUniversity Press, New Haven, 1969, tr. 80 dẫn theo Trần Kiên, Tính ổn định của pháp luật: Lý thuyết, kinh nghiệm quốc tế và khả năng áp dụng cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Vol. 35, No. 4 (2019), tr. 22.

[6]. R. DEMOGUE, Les notions fondamentales du droit privé. Essai critique, éd. A. Rousseau, Paris, 1991, tr. 110.

[7]. Ripert, Les forces créatrices du droit, LGDJ, 2 édition, 1955, No1, tr. 2.

[8]. Ripert, Le déclin du droit: études sur la législation contemporaine, LGDJ, 1949, n 50, tr.154.

[9]. Xem: Nguyễn Văn Quân, “Yêu cầu về an toàn pháp lý trong nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Luật học, số 9 (196)/2016.

[10]. Nguyễn Linh Giang, Nguyễn Văn Quân, An toàn pháp lý - Một yêu cầu trong xây dựng Nhà nước pháp quyền và bảo đảm quyền con người, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 06 (386)/2020, tr. 7.

[11]. Xem: Nguyễn Văn Quân, “Yêu cầu về an toàn pháp lý trong nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Luật học, số 9 (196)/2016, tr. 41-43.

[12]. Jacques Ghestin, Gilles Goubeaux avec le concours de Muriel Fabre-Magnan, Traité de Droit civil: Introduction générale, Nxb. LGDJ, 4ème édition, 1994, n 236 ; tr. 192.

[13]. Helène Hardy, Le principe de sécurité juridique au sens du droit de la Convention européenne des droits de l’homme, thèse de doctorat, Université de Montpellier, 2019, tr. 102.

[14]. Helène Hardy, Le principe de sécurité juridique au sens du droit de la Convention européenne des droits de l’homme, Tlđd, tr. 108.

[15]. Đào Trí Úc, Giáo trình nhà nước pháp quyền, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015, tr. 63.

[16]. Yves Madiot, Qualité du droit et protection des droits fondamentaux, in Mélanges Campinos, Nxb. PUF, 1996, tr. 60.

[17]. European Court of Human Rights, Marckx v. Belgium, Application no. 6833/74, 13 June 1979. Xem: https://www.refworld.org/cases,ECHR,3ae6b7014.html, truy cập ngày 20/12/2020.

[18]. Xem: Roseline Mariller, La sécurité juridique : un concept européen multiforme, volume 110, numéro 2, 2008, tr. 470.

[19]. Xem: C.J.C.E. 26 mai 1982, Allemagne c. Commission, aff. 44/81.

[20]. Hiến pháp Tây Ban Nha năm 1978. Xem: https://mjp.univ-perp.fr/constit/es1978.htm (bản tiếng Pháp), truy cập ngày 20/12/2020.

[21]. Xem: CE, ass., 24 mars 2006, Société KPMG, N 288460.

[22]. Đào Trí Úc, Giáo trình nhà nước pháp quyền, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 2015; Đào Trí Úc, Trương Thị Hồng Hà (đồng chủ biên), Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2018; Nguyễn Văn Cương, Bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật - Yêu cầu quan trọng trong xây dựng, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 18 (370), tháng 9/2018.

[23]. Đào Trí Úc, Trương Thị Hồng Hà (đồng chủ biên), Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2018, tr. 64-65.

[24]. Đào Trí Úc, Trương Thị Hồng Hà (đồng chủ biên), Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2018.

[25]. Đào Trí Úc (2003), “Basic Information of Legal Research - A Case Study of Vietnam”, Project of Doing Legal Research in Asian Countries: China, India, Malaysia, Philippines, Thailand and Vietnam, Conducted by the Institute of Developing Economies (IDE-JETRO), Japan, tr. 206.

[26]. René David, Camille Jauffret-Spinosi, Marie Goré (2015), Les grands systèmes de droit contemporains, Dalloz, 2016, tr.176; Gilles Cuniberti, Grands systèmes de droit contemporain: Introduction au droit comparé, LGDJ, 3ème éd., tr. 53 - 54.

[27]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 173.

[28]. Quyết định số 225/QĐ-TTg ngày 04/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016 - 2020.

[29]. Hà Chính, Chồng chéo, xung đột pháp luật: Bài toán khó cần được xử lý. Xem: http://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Chong-cheo-xung-dot-phap-luat-Bai-toan-kho-can-duoc-xu-ly/372392.vgp, truy cập ngày 20/11/2019.

[30]. Xem: Nguyễn Văn Cương, Bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật - Yêu cầu quan trọng trong xây dựng, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 18 (370), tháng 9/2018.

[31]. Nguyễn Văn Cương, Bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật - Yêu cầu quan trọng trong xây dựng, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, Tlđd.

[32]. Lê Kiên, “Luật mới ban hành 1-2 năm đã phải xem xét sửa đổi”, Báo Tuổi trẻ. Xem: https://tuoitre.vn/luat-moi-ban-hanh-1-2-nam-da-phai-xem-xet-sua-doi-20191122075626505.htm, truy cập ngày 20/12/2019.

[33]. The Global Competitiveness Report 2016-2017. Xem http://www3.weforum.org/docs/GCR2016-2017/05FullReport/TheGlobalCompetitiventheoeport2016-2017_FINAL.pdf, tr. 362, dẫn theo Nguyễn Văn Cương, Bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật - Yêu cầu quan trọng trong xây dựng, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 18 (370), tháng 9/2018.

[34]. Nguyễn Văn Cương, Bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật - Yêu cầu quan trọng trong xây dựng, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, Tlđd.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: