Thứ ba 16/06/2026 19:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo luật Hình sự Việt Nam

Mặc dù tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đã được quy định khá chi tiết tại Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015), song do tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, nên trong thực tiễn một số quy định của tội này đã được vận dụng và có cách hiểu khác nhau.

Bài viết đã tập trung nghiên cứu quy định của luật hình sự về tội phạm này và những quy định khác trong luật hình sự, góp phần giải đáp những vướng mắc mà thực tiễn xét xử đặt ra về: (i) Đối tượng tác động của tội phạm này là tài sản do người khác phạm tội mà có (ii) Dấu hiệu lỗi của người chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; (iii) Hành vi khách quan của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; đồng thời, kiến nghị sửa Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Tội “chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” được quy định khá chi tiết tại Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999, song do tình hình tội phạm diễn biến phức tạp nên một số quy định của tội này đã được vận dụng và có cách hiểu khác nhau1. Trước thực tế đó, ngày 30/11/2011, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và tội rửa tiền (viết tắt là Thông tư 09). Tuy nhiên, hướng dẫn của Thông tư 09 cũng chưa giải quyết triệt để các vướng mắc trong thực tiễn.

Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định tội phạm này tại Điều 323, song nhìn chung, điều luật vẫn là sự kế thừa, ghi nhận lại quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 về cấu thành tội phạm cơ bản, chỉ có thay đổi quy định về khung hình phạt, đặc biệt là tăng mức hình phạt tiền2. Như vậy, hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là hành vi của một người tuy không có hứa hẹn trước, nhưng khi đã biết rõ tài sản là do người khác phạm tội mà có nhưng vẫn có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản đó. Nghiên cứu quy định về tội phạm này và những quy định khác trong luật hình sự cùng với tham khảo thực tiễn, tác giả thấy rằng, còn một số vấn đề cần được nghiên cứu, góp phần giải đáp những vướng mắc mà thực tiễn xét xử đặt ra. Cụ thể:

Thứ nhất, về đối tượng tác động của tội phạm là tài sản do người khác phạm tội mà có

Quy định về tài sản và “tài sản do người khác phạm tội mà có” được hướng dẫn tại khoản 1, khoản 3 Điều 1 Thông tư 09. Theo đó, tài sản bao gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản; bất động sản, động sản, hoa lợi, lợi tức, vật chính, vật phụ, vật chia được, vật không chia được, vật tiêu hao, vật không tiêu hao, vật cùng loại, vật đặc định, vật đồng bộ và quyền tài sản. Tài sản do người khác phạm tội mà có được xác định là: (i) Tài sản do người phạm tội có được trực tiếp từ việc thực hiện hành vi phạm tội như tài sản chiếm đoạt được, tham ô, nhận hối lộ…; (ii) Tài sản do người phạm tội có được từ việc mua bán, trao đổi bằng tài sản có được trực tiếp từ việc họ thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi tiêu thụ tài sản được hiểu là những hành vi có tính chất dịch chuyển tài sản từ người có tài sản do phạm tội mà có sang người khác như hành vi mua, tạo điều kiện để bán hoặc để trao đổi tài sản đó… Bên cạnh đó, theo điểm b khoản 10 Điều 2 Thông tư 09 thì: “Trường hợp tài sản do phạm tội mà có là ma túy, tiền chất ma túy, pháo nổ, thuốc pháo, vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật quân sự, vật liệu nổ, chất phóng xạ, chất cháy, chất độc, hàng cấm, hàng giả, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm tương ứng thì người thực hiện hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản đó sẽ bị xử lý về tội phạm tương ứng mà không xử lý về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Nghĩa là, tài sản ở đây được hiểu là không phải tất cả các loại tài sản theo nghĩa thông thường mà chỉ có một số tài sản mới được coi là đối tượng tác động của loại tội phạm này. Hàng cấm (ma túy, pháo nổ, vũ khí…) đã được Bộ luật Hình sự quy định là đối tượng tác động của các tội phạm khác mà không được coi là tài sản, vì thế, người chứa chấp hoặc tiêu thụ các loại hàng cấm do người khác phạm tội mà có thì sẽ không coi là phạm tội này, mà tùy vào tính chất của đối tượng được chứa chấp và tiêu thụ để truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) của người đó về các tội danh tương ứng được quy định trong Bộ luật Hình sự. Đơn cử một tình huống: A sau khi đi cướp giật được một giỏ xách của người đi đường trong đó có một gói ma túy với trọng lượng 0.5kg. A liền đem số ma túy đó đưa cho B (bạn của A), kể cho B nghe mọi chuyện và nhờ B cất giữ dùm và hứa khi nào kiếm được mối tiêu thụ sẽ cho B một số tiền. B đồng ý. Sau đó sự việc bị phát hiện. Trong trường hợp này, hành vi của B không cấu thành tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, mà B bị truy cứu TNHS về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999).

Bên cạnh đó, đối với nội dung “tài sản do người khác phạm tội mà có” của Điều luật cũng dẫn đến sự tranh luận do không rõ ràng. Điều luật không đòi hỏi yếu tố định lượng của tài sản nên dẫn đến cách hiểu rằng, nếu cứ có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thì sẽ bị truy cứu TNHS về tội này mặc dù giá trị tài sản là rất nhỏ. Thực tiễn, đây là một bất cập. Bởi vì, hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có phải đến một giá trị nhất định mới thể hiện đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của loại tội này. Ví dụ: Nguyễn Văn A là người làm công cho nhà chị Phạm Thị B. Một lần nhân lúc chị B đi vắng để quên chìa khóa tủ, A đã mở tủ lấy trộm 03 triệu đồng. Sau đó, A hẹn Lý Thị C (người yêu của A) đi chơi và cho C 200 nghìn đồng. C hỏi tiền ở đâu ra, A thành thật nói cho C nghe, nhưng C không nói gì mà vẫn nhận số tiền đó tiêu xài riêng. Nếu trong trường hợp này xử C tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thì giá trị tài sản mà hành vi của C gây ra theo tác giả là chưa tới mức nguy hiểm “đáng kể” cho xã hội, trừ trường hợp chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản chưa đạt đến mức nguy hiểm “đáng kể”, nhưng nếu thực hiện nhiều lần vẫn cấu thành tội này. Chẳng hạn, cũng nội dung ví dụ nêu trên, nếu A nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội và mỗi lần như vậy lại cho C một ít để tiêu xài, thì việc định tội C theo Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 là phù hợp. Như vậy, đề nghị bổ sung yếu tố định lượng đối với đối tượng của loại tội này để tránh tình trạng có nhiều cách hiểu như hiện nay.

Bên cạnh đó, một nội dung khác cũng cần lưu ý khi điều tra, truy tố, xét xử tội này là tài sản phải “do người khác phạm tội mà có” chứ không phải vi phạm pháp luật phi hình sự mà có. Về dấu hiệu nội dung này có ý kiến xác định, cụm từ “người khác phạm tội” phải được hiểu là người đó có tội theo bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, nên việc truy tố, xét xử người tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có cùng lúc với người phạm tội là chưa phù hợp với quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 19993 và đề nghị đổi cụm từ này thành “do người khác vi phạm phạm luật mà có…”. Tác giả không đồng tình với ý kiến này, bởi vì, với quan điểm đó thì có thể hiểu họ đang đồng nhất hai khái niệm “người phạm tội” với “người có tội”. Có tội là khái niệm chỉ thuộc tính của chủ thể mà ở đây là con người, phản ánh tính chất của con người đó. Chỉ Tòa án mới có quyền đánh giá một người là có tội hay không có tội4.

Cụm từ “người khác phạm tội” ở đây phải được hiểu là người bị tình nghi, người đang bị điều tra, truy tố, xét xử (gọi chung là bị can, bị cáo) hoặc người đã có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi nói hành vi phạm tội, tức là mới nói đến một thực trạng khách quan đã và đang xảy ra và việc ngăn chặn hành vi này là rất cần thiết. Người phạm tội chỉ được xem là người có hành vi phạm tội (người bị tình nghi) chứ chưa bị coi là có tội. Ngoài ra, trong thực tiễn, khi một người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có bị phát hiện cùng với hành vi của người phạm tội thì họ sẽ bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đồng thời với người kia trong cùng một vụ án mà không cần phải đợi Tòa án phán quyết người kia là có tội. Điều này thể hiện người phạm tội cũng chỉ là người bị tình nghi thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, thực tiễn cũng chỉ ra rằng, Tòa án chỉ tuyên người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là người có tội khi người phạm tội kia đã bị tuyên có tội đối với hành vi liên quan đến tài sản đó, thêm vào đó, nếu hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với hành vi “người khác phạm tội” là hai hành vi độc lập nhau. Do đó, người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có chỉ bị truy cứu TNHS về tội này khi hành vi của người kia có đủ cơ sở cấu thành tội phạm, không phụ thuộc “người khác phạm tội” bị truy cứu theo những tiêu chí nào (dấu hiệu nhân thân của họ, dấu hiệu định tội khác…). Nghĩa là “nếu người khác tuy có hành vi phạm tội nhưng hành vi đó chưa tới mức bị truy cứu TNHS, thì người có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có cũng chưa cấu thành tội phạm”5. Do đó, việc điều luật sử dụng cụm từ “do người khác phạm tội mà có” là phù hợp.

Thứ hai, về dấu hiệu lỗi của người chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Theo quy định của Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, “người nào… biết rõ là do người khác phạm tội mà có…”, theo đó, lỗi của người này là lỗi cố ý trực tiếp. Nghĩa là thái độ tâm lý bên trong của người thực hiện hành vi phạm tội khi thực hiện hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, họ nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó nhưng họ mong muốn cho hậu quả xảy ra. Còn nếu như người này khi thực hiện hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, họ lại nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, nhưng không mong muốn hậu quả xảy ra mà có ý để mặc hậu quả xảy ra (lỗi cố ý gián tiếp) hoặc tin hậu quả không xảy ra (lỗi vô ý do quá tự tin); hoặc họ không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó (lỗi vô ý cẩu thả), thì người này sẽ không bị truy cứu TNHS về tội này6.

Đối với nội dung “người nào… biết rõ là…” hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau nên dẫn đến bất cập trong thực tế xét xử. Theo điều luật, để truy cứu TNHS đối với người có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thì phải chứng minh được người này “biết rõ” tài sản mà mình chứa chấp hoặc tiêu thụ là do người kia phạm tội mà có, nghĩa là người này buộc phải biết hoặc có đủ điều kiện để biết, còn nếu như họ không biết (không buộc phải biết) tài sản do người khác phạm tội mà có thì cũng không cấu thành tội này. Theo Từ điển tiếng Việt, biết là “có ý niệm về người, vật hoặc điều gì đó, để có thể nhận ra được hoặc có thể khẳng định được sự tồn tại của người, vật hoặc điều ấy” hay “nhận rõ được thực chất hoặc giá trị để có được sự đối xử thích đáng”7. Từ đó có thể hiểu, người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản “biết rõ là do người khác phạm tội mà có” là việc một người khi thực hiện hành vi chứa chấp, tiêu thụ đã có sự đánh giá của riêng bản thân về tài sản mà mình chứa chấp, tiêu thụ và nhận biết được đó là tài sản do phạm tội mà có, nhưng vì lý do nào đó vẫn thực hiện hành vi chứa chấp, tiêu thụ8. Trường hợp người có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản buộc phải biết đây là tài sản do người khác phạm tội mà có thường được thể hiện bằng các tài sản có đăng ký chủ sở hữu (ví dụ như xe mô tô) thì việc chứng minh là không khó. Tuy nhiên, trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, việc chứng minh người này về mặt chủ quan họ biết hay biết rõ tài sản do người khác phạm tội mà có (khi có đủ điều kiện) là không đơn giản. Bởi vì, có một điều đương nhiên là những người bị tình nghi không bao giờ tự thú nhận thật ý thức của mình, vì thế đòi hỏi các yếu tố biết rõ này phải được chứng minh bằng các chứng cứ cụ thể mà việc thu thập chứng cứ trong các trường hợp cụ thể không dễ. Vì vậy, để xác định người chứa chấp và tiêu thụ tài sản có biết rõ là do người khác phạm tội mà có hay không phải căn cứ vào các tình tiết khách quan mà đặc biệt là nhân thân và mối quan hệ giữa họ với người có tài sản do phạm tội mà có9. Thông thường, để xác định người chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản có biết rõ là tài sản đó do người khác phạm tội mà có hay không phải căn cứ vào việc giao dịch giữa người chứa chấp hoặc tiêu thụ với người có tài sản. Như vậy, tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “biết rõ là do người khác phạm tội mà có” được hiểu là chỉ truy cứu TNHS đối với người có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong trường hợp người đó biết rõ tài sản mà mình tiêu thụ là tài sản do phạm tội mà có. Trường hợp không biết được đó là tài sản do phạm tội mà có được thì việc tiêu thụ chỉ là một giao dịch dân sự thông thường, sau khi biết tài sản đó là tài sản phạm tội có được thì giao dịch dân sự này sẽ bị vô hiệu và các bên có nghĩa vụ trả lại cho nhau những gì đã nhận10. Tóm lại, trong sự thống nhất giữa các dấu hiệu khách quan và chủ quan là đã phản ánh được đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm này. Với cách tiếp cận này, nên chăng chúng ta thay cụm từ “biết rõ là do…” bằng cụm từ “biết là do…” để làm cho việc hiểu và áp dụng điều luật được thuận lợi và thống nhất hơn.

Thứ ba, về hành vi khách quan của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Điều luật chỉ quy định “người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có…” mà không liệt kê những hành vi nào được xem là hành vi chứa chấp, tiêu thụ đã dẫn đến cách hiểu khác nhau trong thực tiễn. Tuy nhiên, vấn đề này đã được Thông tư 09 làm rõ tại khoản 1 và khoản 2 Điều 2: “Chứa chấp tài sản là một trong các hành vi sau đây: Cất giữ, che giấu, bảo quản tài sản; cho để nhờ, cho thuê địa điểm để cất giữ, che dấu, bảo quản tài sản đó. Tiêu thụ tài sản là một trong các hành vi sau đây: Mua, bán, thuê, cho thuê, trao đổi, cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký gửi, cho, tặng, nhận tài sản hoặc giúp cho việc thực hiện các hành vi đó”. Từ đó cho thấy, với loại tội phạm này, nhà làm luật quy định hai hành vi phạm tội khác nhau nhưng lại có liên quan với nhau, đó là hành vi chứa chấp và hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Chỉ cần người phạm tội thực hiện một trong hai hành vi nói trên thì sẽ cấu thành tội phạm này. Bên cạnh đó, dù là chứa chấp hay tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, thì người chứa chấp hoặc tiêu thụ chỉ bị truy cứu TNHS về tội phạm này nếu họ không hứa hẹn trước. Nếu người có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ có hứa hẹn trước với người phạm tội thì họ phải bị truy cứu TNHS về tội phạm mà người phạm tội thực hiện để có tài sản mà họ chứa chấp hoặc tiêu thụ với vai trò đồng phạm.

Từ những phân tích trên đây, tác giả kiến nghị sửa quy định ở cấu thành cơ bản tại Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có như sau: “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết là do người khác phạm tội mà có, có giá trị từ 1 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 1 triệu đồng nhưng chứa chấp, tiêu thụ tài sản nhiều lần hoặc có tính chất chuyên nghiệp hoặc đã bị kết án về tội này nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm pháp luật thì bị phạt…”

Trần Thị Ngọc Hiếu
Đại học Trà Vinh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: