Thứ ba 10/02/2026 07:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo luật Hình sự Việt Nam

Mặc dù tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đã được quy định khá chi tiết tại Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015), song do tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, nên trong thực tiễn một số quy định của tội này đã được vận dụng và có cách hiểu khác nhau.

Bài viết đã tập trung nghiên cứu quy định của luật hình sự về tội phạm này và những quy định khác trong luật hình sự, góp phần giải đáp những vướng mắc mà thực tiễn xét xử đặt ra về: (i) Đối tượng tác động của tội phạm này là tài sản do người khác phạm tội mà có (ii) Dấu hiệu lỗi của người chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; (iii) Hành vi khách quan của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; đồng thời, kiến nghị sửa Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Tội “chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” được quy định khá chi tiết tại Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999, song do tình hình tội phạm diễn biến phức tạp nên một số quy định của tội này đã được vận dụng và có cách hiểu khác nhau1. Trước thực tế đó, ngày 30/11/2011, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và tội rửa tiền (viết tắt là Thông tư 09). Tuy nhiên, hướng dẫn của Thông tư 09 cũng chưa giải quyết triệt để các vướng mắc trong thực tiễn.

Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định tội phạm này tại Điều 323, song nhìn chung, điều luật vẫn là sự kế thừa, ghi nhận lại quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 về cấu thành tội phạm cơ bản, chỉ có thay đổi quy định về khung hình phạt, đặc biệt là tăng mức hình phạt tiền2. Như vậy, hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là hành vi của một người tuy không có hứa hẹn trước, nhưng khi đã biết rõ tài sản là do người khác phạm tội mà có nhưng vẫn có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản đó. Nghiên cứu quy định về tội phạm này và những quy định khác trong luật hình sự cùng với tham khảo thực tiễn, tác giả thấy rằng, còn một số vấn đề cần được nghiên cứu, góp phần giải đáp những vướng mắc mà thực tiễn xét xử đặt ra. Cụ thể:

Thứ nhất, về đối tượng tác động của tội phạm là tài sản do người khác phạm tội mà có

Quy định về tài sản và “tài sản do người khác phạm tội mà có” được hướng dẫn tại khoản 1, khoản 3 Điều 1 Thông tư 09. Theo đó, tài sản bao gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản; bất động sản, động sản, hoa lợi, lợi tức, vật chính, vật phụ, vật chia được, vật không chia được, vật tiêu hao, vật không tiêu hao, vật cùng loại, vật đặc định, vật đồng bộ và quyền tài sản. Tài sản do người khác phạm tội mà có được xác định là: (i) Tài sản do người phạm tội có được trực tiếp từ việc thực hiện hành vi phạm tội như tài sản chiếm đoạt được, tham ô, nhận hối lộ…; (ii) Tài sản do người phạm tội có được từ việc mua bán, trao đổi bằng tài sản có được trực tiếp từ việc họ thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi tiêu thụ tài sản được hiểu là những hành vi có tính chất dịch chuyển tài sản từ người có tài sản do phạm tội mà có sang người khác như hành vi mua, tạo điều kiện để bán hoặc để trao đổi tài sản đó… Bên cạnh đó, theo điểm b khoản 10 Điều 2 Thông tư 09 thì: “Trường hợp tài sản do phạm tội mà có là ma túy, tiền chất ma túy, pháo nổ, thuốc pháo, vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật quân sự, vật liệu nổ, chất phóng xạ, chất cháy, chất độc, hàng cấm, hàng giả, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm tương ứng thì người thực hiện hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản đó sẽ bị xử lý về tội phạm tương ứng mà không xử lý về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Nghĩa là, tài sản ở đây được hiểu là không phải tất cả các loại tài sản theo nghĩa thông thường mà chỉ có một số tài sản mới được coi là đối tượng tác động của loại tội phạm này. Hàng cấm (ma túy, pháo nổ, vũ khí…) đã được Bộ luật Hình sự quy định là đối tượng tác động của các tội phạm khác mà không được coi là tài sản, vì thế, người chứa chấp hoặc tiêu thụ các loại hàng cấm do người khác phạm tội mà có thì sẽ không coi là phạm tội này, mà tùy vào tính chất của đối tượng được chứa chấp và tiêu thụ để truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) của người đó về các tội danh tương ứng được quy định trong Bộ luật Hình sự. Đơn cử một tình huống: A sau khi đi cướp giật được một giỏ xách của người đi đường trong đó có một gói ma túy với trọng lượng 0.5kg. A liền đem số ma túy đó đưa cho B (bạn của A), kể cho B nghe mọi chuyện và nhờ B cất giữ dùm và hứa khi nào kiếm được mối tiêu thụ sẽ cho B một số tiền. B đồng ý. Sau đó sự việc bị phát hiện. Trong trường hợp này, hành vi của B không cấu thành tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, mà B bị truy cứu TNHS về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999).

Bên cạnh đó, đối với nội dung “tài sản do người khác phạm tội mà có” của Điều luật cũng dẫn đến sự tranh luận do không rõ ràng. Điều luật không đòi hỏi yếu tố định lượng của tài sản nên dẫn đến cách hiểu rằng, nếu cứ có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thì sẽ bị truy cứu TNHS về tội này mặc dù giá trị tài sản là rất nhỏ. Thực tiễn, đây là một bất cập. Bởi vì, hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có phải đến một giá trị nhất định mới thể hiện đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của loại tội này. Ví dụ: Nguyễn Văn A là người làm công cho nhà chị Phạm Thị B. Một lần nhân lúc chị B đi vắng để quên chìa khóa tủ, A đã mở tủ lấy trộm 03 triệu đồng. Sau đó, A hẹn Lý Thị C (người yêu của A) đi chơi và cho C 200 nghìn đồng. C hỏi tiền ở đâu ra, A thành thật nói cho C nghe, nhưng C không nói gì mà vẫn nhận số tiền đó tiêu xài riêng. Nếu trong trường hợp này xử C tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thì giá trị tài sản mà hành vi của C gây ra theo tác giả là chưa tới mức nguy hiểm “đáng kể” cho xã hội, trừ trường hợp chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản chưa đạt đến mức nguy hiểm “đáng kể”, nhưng nếu thực hiện nhiều lần vẫn cấu thành tội này. Chẳng hạn, cũng nội dung ví dụ nêu trên, nếu A nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội và mỗi lần như vậy lại cho C một ít để tiêu xài, thì việc định tội C theo Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 là phù hợp. Như vậy, đề nghị bổ sung yếu tố định lượng đối với đối tượng của loại tội này để tránh tình trạng có nhiều cách hiểu như hiện nay.

Bên cạnh đó, một nội dung khác cũng cần lưu ý khi điều tra, truy tố, xét xử tội này là tài sản phải “do người khác phạm tội mà có” chứ không phải vi phạm pháp luật phi hình sự mà có. Về dấu hiệu nội dung này có ý kiến xác định, cụm từ “người khác phạm tội” phải được hiểu là người đó có tội theo bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, nên việc truy tố, xét xử người tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có cùng lúc với người phạm tội là chưa phù hợp với quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 19993 và đề nghị đổi cụm từ này thành “do người khác vi phạm phạm luật mà có…”. Tác giả không đồng tình với ý kiến này, bởi vì, với quan điểm đó thì có thể hiểu họ đang đồng nhất hai khái niệm “người phạm tội” với “người có tội”. Có tội là khái niệm chỉ thuộc tính của chủ thể mà ở đây là con người, phản ánh tính chất của con người đó. Chỉ Tòa án mới có quyền đánh giá một người là có tội hay không có tội4.

Cụm từ “người khác phạm tội” ở đây phải được hiểu là người bị tình nghi, người đang bị điều tra, truy tố, xét xử (gọi chung là bị can, bị cáo) hoặc người đã có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi nói hành vi phạm tội, tức là mới nói đến một thực trạng khách quan đã và đang xảy ra và việc ngăn chặn hành vi này là rất cần thiết. Người phạm tội chỉ được xem là người có hành vi phạm tội (người bị tình nghi) chứ chưa bị coi là có tội. Ngoài ra, trong thực tiễn, khi một người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có bị phát hiện cùng với hành vi của người phạm tội thì họ sẽ bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đồng thời với người kia trong cùng một vụ án mà không cần phải đợi Tòa án phán quyết người kia là có tội. Điều này thể hiện người phạm tội cũng chỉ là người bị tình nghi thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, thực tiễn cũng chỉ ra rằng, Tòa án chỉ tuyên người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là người có tội khi người phạm tội kia đã bị tuyên có tội đối với hành vi liên quan đến tài sản đó, thêm vào đó, nếu hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với hành vi “người khác phạm tội” là hai hành vi độc lập nhau. Do đó, người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có chỉ bị truy cứu TNHS về tội này khi hành vi của người kia có đủ cơ sở cấu thành tội phạm, không phụ thuộc “người khác phạm tội” bị truy cứu theo những tiêu chí nào (dấu hiệu nhân thân của họ, dấu hiệu định tội khác…). Nghĩa là “nếu người khác tuy có hành vi phạm tội nhưng hành vi đó chưa tới mức bị truy cứu TNHS, thì người có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có cũng chưa cấu thành tội phạm”5. Do đó, việc điều luật sử dụng cụm từ “do người khác phạm tội mà có” là phù hợp.

Thứ hai, về dấu hiệu lỗi của người chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Theo quy định của Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, “người nào… biết rõ là do người khác phạm tội mà có…”, theo đó, lỗi của người này là lỗi cố ý trực tiếp. Nghĩa là thái độ tâm lý bên trong của người thực hiện hành vi phạm tội khi thực hiện hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, họ nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó nhưng họ mong muốn cho hậu quả xảy ra. Còn nếu như người này khi thực hiện hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, họ lại nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, nhưng không mong muốn hậu quả xảy ra mà có ý để mặc hậu quả xảy ra (lỗi cố ý gián tiếp) hoặc tin hậu quả không xảy ra (lỗi vô ý do quá tự tin); hoặc họ không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó (lỗi vô ý cẩu thả), thì người này sẽ không bị truy cứu TNHS về tội này6.

Đối với nội dung “người nào… biết rõ là…” hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau nên dẫn đến bất cập trong thực tế xét xử. Theo điều luật, để truy cứu TNHS đối với người có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thì phải chứng minh được người này “biết rõ” tài sản mà mình chứa chấp hoặc tiêu thụ là do người kia phạm tội mà có, nghĩa là người này buộc phải biết hoặc có đủ điều kiện để biết, còn nếu như họ không biết (không buộc phải biết) tài sản do người khác phạm tội mà có thì cũng không cấu thành tội này. Theo Từ điển tiếng Việt, biết là “có ý niệm về người, vật hoặc điều gì đó, để có thể nhận ra được hoặc có thể khẳng định được sự tồn tại của người, vật hoặc điều ấy” hay “nhận rõ được thực chất hoặc giá trị để có được sự đối xử thích đáng”7. Từ đó có thể hiểu, người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản “biết rõ là do người khác phạm tội mà có” là việc một người khi thực hiện hành vi chứa chấp, tiêu thụ đã có sự đánh giá của riêng bản thân về tài sản mà mình chứa chấp, tiêu thụ và nhận biết được đó là tài sản do phạm tội mà có, nhưng vì lý do nào đó vẫn thực hiện hành vi chứa chấp, tiêu thụ8. Trường hợp người có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản buộc phải biết đây là tài sản do người khác phạm tội mà có thường được thể hiện bằng các tài sản có đăng ký chủ sở hữu (ví dụ như xe mô tô) thì việc chứng minh là không khó. Tuy nhiên, trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, việc chứng minh người này về mặt chủ quan họ biết hay biết rõ tài sản do người khác phạm tội mà có (khi có đủ điều kiện) là không đơn giản. Bởi vì, có một điều đương nhiên là những người bị tình nghi không bao giờ tự thú nhận thật ý thức của mình, vì thế đòi hỏi các yếu tố biết rõ này phải được chứng minh bằng các chứng cứ cụ thể mà việc thu thập chứng cứ trong các trường hợp cụ thể không dễ. Vì vậy, để xác định người chứa chấp và tiêu thụ tài sản có biết rõ là do người khác phạm tội mà có hay không phải căn cứ vào các tình tiết khách quan mà đặc biệt là nhân thân và mối quan hệ giữa họ với người có tài sản do phạm tội mà có9. Thông thường, để xác định người chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản có biết rõ là tài sản đó do người khác phạm tội mà có hay không phải căn cứ vào việc giao dịch giữa người chứa chấp hoặc tiêu thụ với người có tài sản. Như vậy, tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “biết rõ là do người khác phạm tội mà có” được hiểu là chỉ truy cứu TNHS đối với người có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong trường hợp người đó biết rõ tài sản mà mình tiêu thụ là tài sản do phạm tội mà có. Trường hợp không biết được đó là tài sản do phạm tội mà có được thì việc tiêu thụ chỉ là một giao dịch dân sự thông thường, sau khi biết tài sản đó là tài sản phạm tội có được thì giao dịch dân sự này sẽ bị vô hiệu và các bên có nghĩa vụ trả lại cho nhau những gì đã nhận10. Tóm lại, trong sự thống nhất giữa các dấu hiệu khách quan và chủ quan là đã phản ánh được đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm này. Với cách tiếp cận này, nên chăng chúng ta thay cụm từ “biết rõ là do…” bằng cụm từ “biết là do…” để làm cho việc hiểu và áp dụng điều luật được thuận lợi và thống nhất hơn.

Thứ ba, về hành vi khách quan của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Điều luật chỉ quy định “người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có…” mà không liệt kê những hành vi nào được xem là hành vi chứa chấp, tiêu thụ đã dẫn đến cách hiểu khác nhau trong thực tiễn. Tuy nhiên, vấn đề này đã được Thông tư 09 làm rõ tại khoản 1 và khoản 2 Điều 2: “Chứa chấp tài sản là một trong các hành vi sau đây: Cất giữ, che giấu, bảo quản tài sản; cho để nhờ, cho thuê địa điểm để cất giữ, che dấu, bảo quản tài sản đó. Tiêu thụ tài sản là một trong các hành vi sau đây: Mua, bán, thuê, cho thuê, trao đổi, cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký gửi, cho, tặng, nhận tài sản hoặc giúp cho việc thực hiện các hành vi đó”. Từ đó cho thấy, với loại tội phạm này, nhà làm luật quy định hai hành vi phạm tội khác nhau nhưng lại có liên quan với nhau, đó là hành vi chứa chấp và hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Chỉ cần người phạm tội thực hiện một trong hai hành vi nói trên thì sẽ cấu thành tội phạm này. Bên cạnh đó, dù là chứa chấp hay tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, thì người chứa chấp hoặc tiêu thụ chỉ bị truy cứu TNHS về tội phạm này nếu họ không hứa hẹn trước. Nếu người có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ có hứa hẹn trước với người phạm tội thì họ phải bị truy cứu TNHS về tội phạm mà người phạm tội thực hiện để có tài sản mà họ chứa chấp hoặc tiêu thụ với vai trò đồng phạm.

Từ những phân tích trên đây, tác giả kiến nghị sửa quy định ở cấu thành cơ bản tại Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có như sau: “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết là do người khác phạm tội mà có, có giá trị từ 1 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 1 triệu đồng nhưng chứa chấp, tiêu thụ tài sản nhiều lần hoặc có tính chất chuyên nghiệp hoặc đã bị kết án về tội này nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm pháp luật thì bị phạt…”

Trần Thị Ngọc Hiếu
Đại học Trà Vinh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: