Thứ tư 25/02/2026 09:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trách nhiệm pháp lý đối với pháp nhân thương mại gây ô nhiễm môi trường

Trong phạm vi bài viết, tác giả đề cập đến trách nhiệm pháp lý đối với pháp nhân thương mại có hành vi gây ô nhiễm môi trường, thực trạng xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường của pháp nhân thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về lĩnh vực này.

Trong những năm vừa qua, các doanh nghiệp của Việt Nam, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước đã ngày càng phát triển, không ngừng lớn mạnh cả về số lượng, quy mô về vốn, công nghệ và ngày càng tham gia sâu vào chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đem lại, cũng có nhiều nguy cơ, thách thức đặt ra, trong đó có thách thức về môi trường. Một số pháp nhân thương mại trong sản xuất, kinh doanh, nhằm giảm thiểu chi phí sản xuất, tăng doanh thu đã triệt để lợi dụng mọi kẽ hở pháp luật, yếu kém trong quản lý, tập trung khai thác lợi thế cạnh tranh bằng tài nguyên sẵn có, sử dụng máy móc thiết bị cũ, lạc hậu, công nhân có tay nghề thấp, nguyên liệu đầu vào giá rẻ... Hậu quả tất yếu là tài nguyên của quốc gia đang dần cạn kiệt, môi trường tự nhiên bị hủy hoại, sức khỏe của người dân, cộng đồng bị ảnh hưởng, an ninh môi trường, an ninh đầu tư và tính bền vững của nền kinh tế đất nước bị đe dọa. Vì vậy, pháp luật cần có những chế tài đủ mạnh để răn đe, ngăn chặn các pháp nhân thương mại có hành vi vi phạm pháp luật về môi trường, đồng thời khôi phục những thiệt hại đang hiện hữu.

1. Trách nhiệm pháp lý của pháp nhân thương mại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Pháp nhân thương mại bao gồm các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác[1]. Tuy vậy, không phải tất cả các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế đang hoạt động trong nền kinh tế đều là pháp nhân thương mại mà chỉ các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế đáp ứng điều kiện để trở thành pháp nhân và/hoặc được luật điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của nó ghi nhận là pháp nhân thì mới là pháp nhân thương mại. Theo quy định của pháp luật hiện hành[2], các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế không phân biệt tính chất sở hữu và nguồn vốn đầu tư được tổ chức dưới các loại hình như công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã đều là các pháp nhân thương mại. Trong khi đó, doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh, tổ hợp tác là những doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh nhưng không được pháp luật ghi nhận là pháp nhân. Vì thế loại chủ thể này không thuộc phạm vi và đối tượng nghiên cứu trong bài viết này.

Như vậy, các doanh nghiệp và hợp tác xã là pháp nhân thương mại có tư cách chủ thể độc lập khi tham gia các quan hệ pháp luật, sẽ thụ hưởng quyền và gánh vác các nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật. Các pháp nhân thương mại là các chủ thể kinh doanh chủ yếu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay và tất nhiên cũng là chủ thể chủ yếu của hành vi gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Những hành vi vi phạm pháp luật của pháp nhân thương mại trong quá trình sản xuất kinh doanh gây ra ô nhiễm môi trường là những hành vi vi phạm pháp luật về môi trường, cũng như vi phạm pháp luật khác, đó là một trong các hành vi: Chôn vào môi trường đất chất thải độc; lấp chất thải độc hại vào môi trường đất; đổ chất thải ra môi trường đất, nước…; xả chất thải của nhà máy sản xuất kinh doanh vào môi trường nước và không khí… với một lượng chất thải độc hại đưa vào môi trường bị pháp luật không cho phép hoặc cấm. Việc làm này đã là làm biến đổi thành phần của môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, pháp nhân thương mại có thể vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định tại Điều 7 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

Các loại trách nhiệm pháp lý của pháp nhân thương mại đối với hành vi gây ra ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm:

- Trách nhiệm dân sự: Việc pháp nhân thương mại buộc phải bồi thường thiệt hại cho các tổ chức, cá nhân khác là do pháp nhân thương mại đó đã thực hiện hành vi gây ô nhiễm môi trường, hành vi này đã gây ra những thiệt hại về vật chất, tinh thần, sức khỏe, tính mạng cho các tổ chức, cá nhân đó. Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của pháp nhân thương mại có hành vi gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh là loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Giữa pháp nhân thương mại và tổ chức, cá nhân bị thiệt hại có thể có hoặc không tồn tại quan hệ hợp đồng, nhưng hành vi của pháp nhân thương mại đã gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật về môi trường, hành vi đó đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và đã gây thiệt hại cho tổ chức và cá nhân đó, không liên quan đến quyền và nghĩa vụ trong quan hệ hợp đồng giữa các bên. Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường được thiết lập để nhằm khôi phục, bù đắp thiệt hại đã phát sinh và răn đe phòng ngừa hành vi vi phạm.

- Trách nhiệm hành chính: Hành vi vi phạm pháp luật hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường là hành vi của pháp nhân thương mại đã xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường, có lỗi, chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự (không phải là tội phạm), theo quy định của pháp luật thì hành vi này phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Trách nhiệm hành chính là sự áp dụng những biện pháp cưỡng chế hành chính mang tính chất xử phạt hoặc khôi phục lại những quyền và lợi ích bị xâm hại được quy định trong chế tài của quy phạm pháp luật hành chính được thực hiện bởi cơ quan quản lý nhà nước.

- Trách nhiệm hình sự: Là hậu quả pháp lý bất lợi mà pháp nhân phạm tội phải gánh chịu và được thể hiện bằng việc Tòa án áp dụng hình phạt và các biện pháp cưỡng chế khác được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với pháp nhân thương mại phạm tội gây ô nhiễm môi trường trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đây là hình thức trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất. Tính chất nghiêm khắc vượt trội của trách nhiệm hình sự thể hiện ở chỗ pháp nhân thương mại phạm tội sẽ bị Tòa án kết án và phải chịu hình phạt và các biện pháp tư pháp. Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của pháp luật hình sự, không chỉ hạn chế quyền tự do, quyền tài sản, quyền chính trị, thậm chí còn có thể chấm dứt vĩnh viễn sự hoạt động của pháp nhân thương mại phạm tội. Theo đó, khi pháp nhân thương mại phạm tội xâm phạm đến môi trường có thể phải chịu hậu quả pháp lý là chịu hình phạt chính, bao gồm: Phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Ngoài hình phạt chính, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định, cấm huy động vốn, phạt tiền khi không áp dụng là hình phạt chính. Trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại nói chung và pháp nhân thương mại phạm tội gây ô nhiễm môi trường nói riêng lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2. Thực trạng xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các pháp nhân thương mại ở Việt Nam

- Giải quyết hành vi gây ô nhiễm môi trường của các pháp nhân thương mại theo quy định của pháp luật dân sự

Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, trong số những vụ án dân sự được Tòa án thụ lý và giải quyết liên quan đến việc bồi thường thiệt hại dân sự ngoài hợp đồng, thì số vụ án dân sự liên quan đến kiện đòi bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần, sức khỏe, tính mạng, tài sản của các tổ chức, cá nhân đối với pháp nhân thương mại hoạt động sản xuất, kinh doanh có hành vi gây ô nhiễm môi trường chiếm tỷ lệ rất thấp. Thực tế khi giải quyết những vụ án này Tòa án gặp nhiều khó khăn, bởi vì: (i) Trong những vụ án liên quan đến hành vi gây ô nhiễm môi trường kiện đòi bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tinh thần, tính mạng và tài sản rất khó xác định được thiệt hại thực tế, cũng như mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hành vi gây ô nhiễm môi trường với hậu quả xảy ra; (ii) Việc tiến hành thu mẫu, giám định thực tế gặp nhiều khó khăn, người dân bị tổn hại khó đưa ra bằng chứng chứng minh và không có chuyên môn trong việc thu thập chứng cứ, bản thân họ là những người nông dân lao động không có điều kiện thuê luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, cũng như không có tiền để thực hiện hoạt động xét nghiệm mẫu; (iii) Quy định pháp luật còn chung chung, không rõ ràng dẫn đến khó áp dụng để giải quyết.

- Xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường của các pháp nhân thương mại theo quy định của pháp luật hành chính

Theo thống kê, số vụ phát hiện và xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây ô nhiễm môi trường đối với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh năm sau giảm hơn so với năm trước, tuy nhiên số vụ vi phạm vẫn còn nhiều, đặc biệt nhiều doanh nghiệp vì lợi nhuận, cạnh tranh chấp nhận nộp phạt để vi phạm. Điều này cho thấy, hiệu lực, hiệu quả của các biện pháp xử phạt hành chính đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường trên thực tiễn chưa cao, chính vì thế các pháp nhân thương mại không thấy “sợ” khi bị xử phạt. Theo đó, cần phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính, xử phạt hành chính, sao cho những biện pháp chế tài này khi áp dụng phải đủ mạnh, đủ sức trừng trị, răn đe để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh phải biết tôn trọng pháp luật, cũng như đảm bảo môi trường sống an toàn cho các tổ chức và người dân.

- Xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường của các pháp nhân thương mại theo quy định của pháp luật hình sự

Từ năm 2008 đến năm 2018, Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường đã phát hiện và xử lý 124.226 vụ vi phạm về gây ô nhiễm môi trường. Trong đó, xử lý hình sự 2.847 vụ, số vụ còn lại xử phạt hành chính[3]. Tuy nhiên, không có vụ án hình sự nào xử lý đối với pháp nhân thương mại có hành vi gây ô nhiễm môi trường, nguyên do là Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) không quy định pháp nhân là chủ thể của tội phạm, do đó nếu pháp nhân thương mại có hành vi gây ô nhiễm môi trường ở thời điểm này thì cũng chỉ bị xử phạt hành chính, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo báo cáo của Cục Thống kê - Viện kiểm sát nhân dân tối cao, sau hơn hai năm Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực, với nhiều vụ án về môi trường đã được khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử, nhưng có một thực trạng là chưa có vụ án hình sự nào được cơ quan điều tra khởi tố bị can đối với pháp nhân thương mại có hành vi gây ô nhiễm môi trường. Nguyên nhân là do trên thực tế rất khó chứng minh, làm rõ được các yếu tố là điều kiện cần và đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân. Điều này đã làm cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh đã bất chấp mọi thủ đoạn, tiếp tục có hành vi gây ô nhiễm môi trường mà không sợ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Từ thực trạng này đặt ra việc cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về các hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại gây ô nhiễm môi trường, đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều bị phát hiện và xử lý nghiêm minh trước pháp luật, đảm bảo môi trường sống an toàn cho các tổ chức, cá nhân, tránh gây ra những tổn thất, thiệt hại cho các tổ chức, cá nhân đó.

3. Kiến nghị hoàn thiện trách nhiệm pháp lý đối với pháp nhân thương mại có hành vi gây ô nhiễm môi trường

Một là, hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm dân sự của pháp nhân thương mại gây ra ô nhiễm môi trường

Đã có nhiều biện pháp được đưa ra nhằm ngăn chặn, hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường, trong đó có các biện pháp pháp lý quy định rõ trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại đối với pháp nhân thương mại đã có hành vi gây ô nhiễm môi trường và làm thiệt hại đến các tổ chức, cá nhân khác. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, những quy định hiện hành về cơ chế giải quyết yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại trong lĩnh vực dân sự còn rất chung chung, mang tính nguyên tắc, chưa khả thi khi áp dụng trong thực tế. Do vậy, phần lớn các vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại của các tổ chức, cá nhân bị thiệt hại trong thời gian qua gặp nhiều khó khăn khi giải quyết do chưa có sự thống nhất về cách hiểu và áp dụng các quy định pháp luật hiện hành.

Trách nhiệm dân sự của pháp nhân thương mại khi thực hiện hành vi gây ô nhiễm môi trường làm thiệt hại cho các tổ chức cá nhân khác được xác định là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Do đó, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể hoặc hoàn thiện các quy định về bồi thường dân sự ngoài hợp đồng cho các trường hợp kiện đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong những vụ án dân sự mà bên bị thiệt hại khởi kiện đòi pháp nhân thương mại gây ô nhiễm môi trường làm thiệt hại đến tinh thần, sức khỏe, tính mạng và tài sản của các tổ chức, cá nhân. Cụ thể, cần hướng dẫn và làm rõ các vấn đề như: Xác định các thiệt hại do ô nhiễm môi trường; xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với môi trường; quyền yêu cầu pháp nhân thương mại bồi thường thiệt hại về môi trường (đối với thiệt hại về môi trường có hai dạng thiệt hại là thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường và thiệt hại gây ra cho tài sản, tính mạng, sức khỏe của tổ chức, cá nhân. Vì vậy, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại phải được tách ra riêng thành hai chủ thể khác nhau); yêu cầu bồi thường thiệt hại về môi trường là một dạng tranh chấp về môi trường; vấn đề chứng minh được mức độ thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường gây ra; nộp tiền tạm ứng án phí khi khởi kiện...

Hai là, hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm hành chính đối với pháp nhân thương mại gây ô nhiễm môi trường

Thực tế việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường đối với pháp nhân thương mại gây ô nhiễm môi trường thời gian qua cho thấy, các biện pháp cưỡng chế hành chính chưa thực sự đủ mạnh, mức xử phạt thấp, các chế tài áp dụng chưa đủ sức răn đe, dẫn đến hạn chế tác dụng giáo dục, phòng ngừa đối với những hành vi gây ô nhiễm môi trường của các pháp nhân thương mại. Thậm chí, có trường hợp doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh đã lựa chọn giải pháp “tiêu cực” là chấp nhận bị xử phạt để vi phạm. Do đó, cần có những biện pháp, chế tài xử lý mạnh mẽ, nghiêm khắc hơn nữa để hạn chế việc các doanh nghiệp tiếp tục có hành vi gây ô nhiễm môi trường. Cụ thể, cần hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm hành chính đối với pháp nhân thương mại gây ô nhiễm môi theo hướng: (i) Quy định cụ thể trách nhiệm của người quản lý môi trường nếu để xảy ra việc các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn mà mình quản lý; (ii) Các văn bản pháp luật quy định về xử lý hành chính đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường cần có sự kết nối, đồng bộ, rõ ràng và cụ thể hơn nữa. Qua đó, tạo sự thống nhất trong các quy định của pháp luật, làm tăng tính hiệu lực, hiệu quả, thực thi của pháp luật; (iii) Tiếp tục rà soát, sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, cũng như pháp luật xử phạt hành chính, xử lý hành chính theo hướng tăng mức xử phạt, áp dụng các biện pháp cưỡng chế mạnh như dừng hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nếu tái phạm, phong tỏa tài sản để thực hiện hoạt động đền bù, khắc phục hậu quả hoặc bồi thường thiệt hại.

Ba là, hoàn thiện các quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại có hành vi gây ô nhiễm môi trường

Để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội có hành vi gây ra ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xác định rõ các pháp nhân thương mại này đã bất chấp sự an toàn của môi trường sống gây ô nhiễm môi trường, như: Chôn, lấp, đổ thải bừa bãi ra môi trường; mua bán, kinh doanh các loại chất thải độc hại ra môi trường; phát tán các chất thải độc hại ra môi trường sống… gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, gây thiệt hại nghiêm trọng đến môi trường sống. Thực tiễn, việc xử lý các pháp nhân thương mại có hành vi gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn do quy định của pháp luật còn nhiều điểm bất cập, gây khó khăn trong hoạt động chứng minh tội phạm. Do đó, cần nghiên cứu và hoàn thiện những vấn đề cụ thể như:

- Để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại về tội gây ô nhiễm môi trường, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xác định chính xác hậu quả cũng như thiệt hại mà hành vi phạm tội gây ra đối với môi trường sống an toàn cần phải được đảm bảo. Theo đó, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải ra quyết định trưng cầu giám định chuyên môn, xác định chính xác về việc: Các chất thải, nước thải, bụi, khí thải, chất độc hại, chất bức xạ, khúc xạ, nhiễu xạ, phóng xạ mà các pháp nhân thương mại gây ra trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh đã gây nguy hại như thế nào đối với môi trường sống. Kết luận giám định cũng phải nêu rõ các thông số kỹ thuật an toàn cho môi trường đã vượt quá ngưỡng là bao nhiêu; hủy diệt môi trường sống như thế nào; chất phóng xạ gây nhiễm xạ có ở mức vượt quy chuẩn kỹ thuật hoặc vượt mức giới hạn cho phép hay không, có ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của các tổ chức, cá nhân khác…? Ngoài ra, các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định được thời điểm pháp nhân thương mại gây ra hậu quả đó, đặc biệt cần chứng minh về mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hành vi gây ô nhiễm môi trường và hậu quả gây ra đối với các tổ chức, cá nhân khác. Qua đó làm căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can, điều tra, truy tố, xét xử đối với pháp nhân thương mại có hành vi phạm tội gây ô nhiễm môi trường.

- Vấn đề “lỗi” đặt ra với pháp nhân thương mại thực hiện hành vi gây ô nhiễm môi trường hiện nay cũng nhiều quan điểm và ý kiến trái chiều, vì vậy, cần nghiên cứu và hoàn thiện chế định “lỗi” trong Bộ luật Hình sự cho phù hợp với thực tế.

- Thực tế hiện nay có trường hợp các công ty, doanh nghiệp khi thành lập đăng ký ngành nghề không có mục tiêu vì lợi nhuận, do đó được xác định không phải là pháp nhân thương mại. Sau đó, trong quá trình hoạt động doanh nghiệp đã thay đổi, bổ sung ngành nghề kinh doanh có đối tượng kinh doanh có mục tiêu lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên của công ty. Khi những pháp nhân này thực hiện hành vi phạm tội thì có bị xác định là pháp nhân thương mại không? Pháp luật hiện nay chưa quy định về vấn đề này, nên cũng đặt ra cần nghiên cứu và hoàn thiện.

- Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) chưa có quy định về miễn trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội trong luật, mà chỉ áp dụng đối với cá nhân phạm tội. Có thể thấy rằng, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội xuất phát từ việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân người đại diện cho pháp nhân về hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện. Nếu cá nhân người đại diện cho pháp nhân đáp ứng các điều kiện để được miễn trách nhiệm hình sự theo luật định, thì pháp nhân thương mại vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự vì không có quy định nào thể hiện việc pháp nhân thương mại phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự. Do vậy, chưa đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trước pháp luật đối với cá nhân hay tổ chức có hành vi phạm tội.

- Khoản 1 Điều 78 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Đình chỉ hoạt động có thời hạn là tạm dừng hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế”. Quy định này chưa thật sự chính xác, nếu đã gây thiệt hại đến “tính mạng” mà hậu quả gây ra lại “có khả năng khắc phục trên thực tế” là mâu thuẫn, vì gây thiệt hại đến tính mạng rõ ràng không thể khắc phục được. Do vậy, cần sửa đổi quy định này cho phù hợp.

- Đối với pháp nhân thương mại, thì thương hiệu, uy tín và danh tiếng trên thương trường là điều doanh nghiệp nào cũng đặt ra mục tiêu hướng tới. Pháp luật hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới như: Cộng hòa Pháp, Hà Lan, Bỉ… đều quy định hình phạt “niêm yết bản án, quyết định đã được Tòa án tuyên hoặc thông báo bản án, quyết định đó trên các phương tiện nghe nhìn” để răn đe, cảnh tỉnh đối với các pháp nhân khác và bản thân pháp nhân đã phạm tội. Theo tác giả, pháp luật hình sự Việt Nam nên quy định hình phạt bổ sung này đối với pháp nhân thương mại có hành vi phạm tội gây ô nhiễm môi trường nói riêng, có hành vi phạm tội thuộc các loại tội phạm khác nói chung.

TS. Đoàn Trung Kiên & TS. Nguyễn Thanh Mai

Học viện Tư pháp

[1]. Khoản 2 Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2]. Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Hợp tác xã năm 2012, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010…

[3]. Báo cáo tổng kết của Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường - Bộ Công an năm 2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: