Thứ bảy 05/09/2026 21:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trưng cầu ý dân tại địa phương - Kinh nghiệm tại một số quốc gia trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam

Trưng cầu ý dân là việc Nhà nước tổ chức để cử tri cả nước trực tiếp biểu quyết bằng hình thức bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, chẳng hạn như thông qua, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp; thông qua hay phủ quyết một dự luật hay một chính sách cụ thể của Nhà nước liên quan đến chủ quyền, an ninh quốc gia, quyền con người…

1. Khái niệm trưng cầu ý dân tại địa phương

Trưng cầu ý dân là việc Nhà nước tổ chức để cử tri cả nước trực tiếp biểu quyết bằng hình thức bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, chẳng hạn như thông qua, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp; thông qua hay phủ quyết một dự luật hay một chính sách cụ thể của Nhà nước liên quan đến chủ quyền, an ninh quốc gia, quyền con người…

Về hình thức, trưng cầu ý dân có hai loại là trưng cầu ý dân bắt buộc và trưng cầu ý dân không bắt buộc. Trong đó, trưng cầu ý dân bắt buộc là cuộc bỏ phiếu của cử tri mà pháp luật quốc gia sở tại quy định bắt buộc phải tổ chức (như trưng cầu ý dân để thông qua cải cách Hiến pháp; phê chuẩn các điều ước quốc tế[1]…); còn trưng cầu ý dân không bắt buộc là cuộc bỏ phiếu của cử tri không bắt buộc phải tổ chức theo quy định của pháp luật mà được thực hiện khi có đề nghị của một số chủ thể nhất định[2]. Chủ thể đề xuất tổ chức trưng cầu ý dân có thể là các cơ quan nhà nước hoặc cử tri.

Xuất phát từ khái niệm trưng cầu ý dân, trưng cầu ý dân tại địa phương là một loại hình trưng cầu ý dân trong phạm vi một địa phương nhất định. Trong đó, người dân trực tiếp bỏ phiếu đồng ý/không đồng ý về các vấn đề quan trọng tại địa phương được đưa ra trưng cầu.

2. Quy định về trưng cầu ý dân tại địa phương ở một số quốc gia trên thế giới

Thứ nhất, các cấp chính quyền được tổ chức trưng cầu ý dân

Tùy vào cách thức tổ chức chính quyền địa phương cũng như tổ chức đơn vị hành chính, mỗi quốc gia có những quy định khác nhau về vấn đề các cấp chính quyền được phép tổ chức trưng cầu ý dân.

Tại một số quốc gia theo chế độ liên bang như Áo, Thụy Sĩ, Liên bang Nga, quyền tổ chức trưng cầu ý dân tại địa phương được trao cho chính quyền tiểu bang, vùng và khu tự trị[3]. Việc tổ chức trưng cầu ý dân tại địa phương ở các quốc gia này căn cứ theo pháp luật của tiểu bang trên cơ sở phù hợp với hệ thống pháp luật liên bang.

Nhiều quốc gia theo chế độ đơn nhất cũng có quy định trưng cầu ý dân được phép tiến hành ở các cấp địa phương. Ví dụ như tại Tây Ban Nha, trưng cầu ý dân có thể được tổ chức ở cấp vùng, tỉnh và khu tự trị[4].

Tại Cộng hòa Pháp, Điều 72-1 Hiến pháp quy định trong trường hợp được quy định bởi pháp luật, các quyết định hoặc hành vi pháp lý thuộc thẩm quyền của đơn vị lãnh thổ, theo đề xuất của đơn vị đó, do các cử tri quyết định thông qua trưng cầu ý dân. Trong đó, Điều 72 quy định đơn vị lãnh thổ của Pháp bao gồm xã (communes), tỉnh (départements), vùng (régions) và các đơn vị lãnh thổ đặc biệt và vùng lãnh thổ hải ngoại. Như vậy, việc trưng cầu ý dân tại địa phương ở Pháp có thể được tổ chức ở cấp xã, tỉnh, các đơn vị lãnh thổ đặc biệt và các đơn vị lãnh thổ ở hải ngoại.

Tại Anh, trách nhiệm tổ chức trưng cầu ý dân tại địa phương được quy định tại Đạo luật địa phương (Localism Bill 2011). Theo đó, Điều 39 quy định chính quyền địa phương phải tổ chức trưng cầu ý dân nếu: (i) Nhận được lời đề nghị hợp lệ từ phía cử tri hoặc các thành viên trong cơ quan có thẩm quyền; (ii) Cơ quan có thẩm quyền xác định là phù hợp để tổ chức trưng cầu ý dân. Khoản 5 Điều 39 xác định “chính quyền địa phương” được nhắc tới là: Hội đồng quận (a county council in England); Hội đồng địa hạt (a district council); Hội đồng khu tự quản London (a London borough council); Hội đồng London (the Greater London Authority); Hội đồng chung của thành phố London (the Common Council of the City of London); Hội đồng đảo Scilly (the Council of the Isles of Scilly). Từ việc quy định trách nhiệm tổ chức trưng cầu ý dân tại địa phương trong đạo luật trên, có thể xác định các cấp địa phương được phép tổ chức trưng cầu ý dân bao gồm: Cấp quận/county (bao gồm cả London); cấp đại hạt/district (bao gồm cả thành phố London, các khu tự quản London; đảo Scilly).

Thứ hai, nội dung trưng cầu ý dân

Nhìn chung, đối với hình thức trưng cầu ý dân không bắt buộc, các quốc gia thường không có quy định giới hạn các vấn đề được đưa ra trưng cầu. Tuy nhiên, bên cạnh việc tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực khi tổ chức trưng cầu ý dân, các quốc gia vẫn có những giới hạn nhất định về các vấn đề được đưa ra trưng cầu. Những nội dung bị giới hạn thường là các vấn đề có thể ảnh hưởng đến quyền cơ bản của con người, các vấn đề thuộc thẩm quyền của cơ quan nhà nước cấp trên hay các vấn đề đòi hỏi người quyết định chính sách phải có trình độ chuyên môn nhất định… Một số vấn đề có thể bị giới hạn trong các cuộc trưng cầu ý dân tại địa phương tại một số quốc gia trên thế giới: Vấn đề thuộc thẩm quyền của cơ quan dân cử (Armenia); vấn đề được chính quyền trung ương ủy quyền (Armenia); vấn đề ảnh hưởng đến việc giới hạn các quyền cơ bản (Nga, Armenia); vấn đề bổ nhiệm và nhân sự (Armenia, Bỉ, Hungary và Nga); các vấn đề ngân sách - tài chính (Armenia, Bỉ, Croatia, Ý, Bồ Đào Nha, Nga và Tây Ban Nha)… Ngược lại, các vấn đề tài chính lại là vấn đề có thể được đưa ra trưng cầu ý dân ở Bulgaria[5].

Tại Nhật Bản, nội dung trưng cầu ý dân tại địa phương là đạo luật được áp dụng chỉ cho địa phương đó. Cụ thể, Điều 95 Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 quy định: “Quốc hội không thể thông qua một đạo luật để áp dụng cho một địa phương nếu đa số cử tri của địa phương đó không chấp thuận”. Xét về hình thức trưng cầu ý dân, có thể thấy, trường hợp trưng cầu ý dân được quy định tại điều luật trên là loại trưng cầu ý dân bắt buộc, theo đó: Quốc hội muốn thông qua đạo luật mà áp dụng cho một địa phương thì bắt buộc cần phải có sự chấp thuận của đa số cử tri tại địa phương đó thông qua cuộc trưng cầu ý dân. Có thể thấy, việc bắt buộc tổ chức trưng cầu ý dân trong trường hợp trên trên phản ánh sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân - mục tiêu mà mọi Nhà nước dân chủ đều hướng tới.

Tại Thụy Sĩ, người dân ở cấp tiểu bang và địa phương có thể thông qua việc thực trưng cầu ý dân về luật và các quyết định hành chính để thể hiện ý kiến về các văn bản luật và các quyết định hành chính của chính quyền bang và đô thị. Các cuộc trưng cầu ý dân về luật hầu hết được các tiểu bang thực hiện dưới hình thức trưng cầu ý dân bắt buộc hoặc không bắt buộc hoặc kết hợp cả hai hình thức. Chẳng hạn, các nghị quyết về các loại thuế mới ở nhiều tiểu bang được quy định phải tiến hành trưng cầu ý dân bắt buộc nhưng ở một số tiểu bang khác thì lại không yêu cầu trưng cầu ý dân bắt buộc. Đối với trưng cầu ý dân về quyết định hành chính, hình thức trưng cầu ý dân không bắt buộc có thể được áp dụng đối với các quyết định của chính quyền đô thị hoặc chỉ đối với những quyết định trong lĩnh vực tài chính[6].

Như vậy, tùy vào tình hình chính trị, kinh tế, xã hội hay thậm chí cả trình độ dân trí của công dân, mỗi quốc gia sẽ có những quy định khác nhau về nội dung được phép/không được phép đưa ra trưng cầu ý dân tại địa phương.

Thứ ba, chủ thể đề nghị trưng cầu ý dân

Phần lớn các quốc gia trên thế giới quy định việc đề nghị trưng cầu ý dân tại địa phương (loại trưng cầu ý dân không bắt buộc) có thể xuất phát từ hai chủ thể: Cơ quan nhà nước tại địa phương và người dân.

Một là, chủ thể đề nghị trưng cầu ý dân là các cơ quan nhà nước tại địa phương

Mỗi quốc gia quy định khác nhau về các cơ quan nhà nước có quyền đề nghị trưng cầu ý dân tại địa phương mà thông thường là các cơ quan dân cử tại nơi đó. Ví dụ như tại Áo, tùy vào quy định của từng bang, việc trưng cầu ý dân có thể được đề nghị bởi Lantag (nghị viện) tại địa phương đó hoặc một tỷ lệ nhất định các thành viên của cơ quan này; tại Hungary, trưng cầu ý dân được đề xuất bởi Hội đồng địa phương, ¼ thành viên của Hội đồng địa phương hoặc một ủy ban thuộc cơ quan này... Ngoài cơ quan dân cử, một số quốc gia còn có quy định cơ quan hành chính cũng có quyền đề nghị tổ chức trưng cầu ý dân. Ví dụ như tại Bulgaria, Thị trưởng (người đứng đầu cơ quan hành chính ở địa phương) có quyền đề nghị tổ chức trưng cầu ý dân tại địa phương; tại Bồ Đào Nha, cơ quan hành chính địa phương có quyền đề xuất tổ chức trưng cầu ý dân[7]

Hai là, chủ thể trưng cầu ý dân tại địa phương là nhân dân

Xuất phát từ tính chất của dân chủ trực tiếp là hình thức cao nhất của chủ quyền nhân dân, hầu hết các quốc gia có trưng cầu ý dân địa phương đều cho phép cử tri được quyền đề nghị tổ chức trưng cầu ý dân.

Tại những quốc gia cho phép cơ quan đại diện có quyền quyết định việc tổ chức/không tổ chức trưng cầu ý dân dựa trên đề xuất của cử tri thì yêu cầu về số lượng chữ ký để đề xuất tổ chức trưng cầu ý dân nhìn chung khá thấp. Tại Estonia, tỷ lệ này là 1% tổng số dân cư và phải có ít nhất 5 chữ ký trở lên[8]. Tại Phần Lan, Điều 25 Đạo luật Chính quyền địa phương (Local Government Act 2015) quy định ít nhất 4% người dân địa phương, từ 15 tuổi trở lên, có thể đề xuất trưng cầu ý dân tại địa phương. Tuy nhiên, Hội đồng địa phương mới là chủ thể có quyền quyết định về việc có tiến hành tổ chức trưng cầu ý dân tại địa phương hay không[9].

Ngược lại, tại những quốc gia có quy định bắt buộc tổ chức trưng cầu ý dân nếu có đề xuất hợp lệ của cử tri thì yêu cầu về số lượng chữ ký thường cao hơn: 30% tổng số cử tri, tương đương với 3.000 dân cư tại Cộng hòa Séc; 10% ở Manta, Anbani. Tại Bulgaria, tỷ lệ chữ ký trên số cử tri tại địa phương cần có để đề xuất tổ chức trưng cầu ý dân là ít nhất ¼ số cử tri, nhưng chỉ khi đạt được tỷ lệ chữ ký tương ứng với một nửa số cử tri thì Hội đồng địa phương mới bắt buộc phải tổ chức trưng cầu ý dân[10].

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trưng cầu ý dân tại địa phương ở Việt Nam

3.1. Cơ sở thực tiễn để ghi nhận trưng cầu ý dân tại địa phương ở Việt Nam

Điều 7 Luật Trưng cầu ý dân năm 2015 quy định: “Trưng cầu ý dân được thực hiện trong phạm vi cả nước”. Như vậy, pháp luật hiện hành của Việt Nam chỉ ghi nhận trưng cầu ý dân cấp quốc gia (toàn quốc) mà chưa ghi nhận trưng cầu ý dân ở địa phương. Để phù hợp với những đặc điểm về chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước ta, việc bổ sung những quy định về trưng cầu ý dân ở địa phương phải xuất phát từ thực tiễn các hoạt động dân chủ trực tiếp tại địa phương, cũng như những nhu cầu đẩy mạnh phát huy dân chủ tại địa phương, cụ thể:

Thứ nhất, về thực tiễn phát huy dân chủ tại địa phương

Trên thực tế, hoạt động dân chủ trực tiếp tại địa phương, đặc biệt là cấp cơ sở diễn ra “vô cùng sôi nổi” với nhiều hình thức dân chủ khác nhau mà phổ biến nhất là hoạt động lấy ý kiến nhân dân.

Lấy ý kiến nhân dân là việc Nhà nước tổ chức để nhân dân đóng góp, tham gia ý kiến của mình về một vấn đề cụ thể đưa ra lấy ý kiến. So với lấy ý kiến nhân dân, khái niệm trưng cầu ý dân mang nội hàm hẹp hơn. Cụ thể, trưng cầu ý dân là việc người dân trực tiếp bỏ phiếu đồng ý hoặc không đồng ý đối với vấn đề được đưa ra trưng cầu; còn lấy ý kiến nhân dân là hoạt động các cơ quan nhà nước tham khảo ý kiến của người dân, các ý kiến này có thể là những góp ý trực tiếp (hoặc bằng văn bản) về các vấn đề được lấy ý kiến[11]. Xuất phát từ phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, để khảo sát ý kiến cũng như đảm bảo sự đồng thuận của nhân dân, các địa phương trước khi thông qua một chính sách quan trọng, thường có xu hướng lấy ý kiến của nhân dân. Ví dụ, chính quyền địa phương tổ chức để nhân dân biểu quyết trong việc xây dựng những công trình quan trọng như nhà văn hóa, trường học, mạng lưới điện, đường liên thôn/liên xã… Trong một số trường hợp, hoạt động lấy ý kiến nhân dân mang tính chất của hoạt động trưng cầu ý dân. Cụ thể, trong một cuộc lấy ý kiến nhân dân, bên cạnh việc đưa ra những góp ý, người dân còn có thể trực tiếp bỏ phiếu đồng ý hoặc không đồng ý về những vấn đề quan trọng của địa phương. Căn cứ vào kết quả biểu quyết, cơ quan nhà nước sẽ quyết định chính sách phù hợp với ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Trong trường hợp này, việc lấy ý kiến đồng ý/không đồng ý của nhân dân đối với một vấn đề quan trọng của địa phương được coi là hoạt động trưng cầu ý dân.

Thứ hai, về nhu cầu đẩy mạnh phát huy dân chủ tại địa phương

Thực tế cho thấy tồn tại nhiều vấn đề trong phạm vi địa phương khá “nhạy cảm”, phức tạp, ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân địa phương mà nếu không có được sự đồng thuận của nhân dân thì rất khó triển khai, chẳng hạn như việc xây dựng các công trình quan trọng như nhà máy xử lý rác thải, trường học, nhà văn hóa, mạng lưới điện... Thậm chí, còn xuất hiện những nội dung cần đến sự bỏ phiếu của nhân dân nhưng hệ thống pháp luật hiện hành lại chưa có quy định cụ thể về hình thức, trình tự và thủ tục bỏ phiếu; ví dụ như vấn đề cử tri bãi nhiệm đại biểu trong cơ quan quyền lực nhà nước tại địa phương (Hội đồng nhân dân)[12]. Do đó, phương án hiệu quả nhất để xác định mức độ đồng thuận của nhân dân đối với những vấn đề quan trọng tại địa phương là trưng cầu ý dân.

3.2. Kiến nghị xây dựng quy định về trưng cầu ý dân tại địa phương ở Việt Nam

Thứ nhất, cho phép tổ chức trưng cầu ý dân tại mọi đơn vị hành chính

Có thể thấy nhiều quốc gia trên thế giới cho phép mọi cấp chính quyền đều được phép tổ chức trưng cầu ý dân. Tại Việt Nam, khoản 1 Điều 110 Hiến pháp năm 2013 quy định:

“1. Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau:

Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương;

Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường.

Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập”.

Để phát huy tối đa chủ quyền nhân dân tại địa phương cũng như đảm bảo mở rộng dân chủ trên phạm vi cả nước, việc trưng cầu ý dân tại địa phương cũng cần phải được phép tổ chức ở cả 03 cấp tỉnh, huyện, xã và tại các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Mặt khác, cần xây dựng những quy định cụ thể về các cơ quan có thẩm quyền quyết định, tổ chức, cũng như giám sát, xử lý vi phạm pháp luật trong tổ chức trưng cầu ý dân tại địa phương.

Thứ hai, quy định rõ nội dung được phép trưng cầu ý dân

Việc tổ chức trưng cầu ý dân cấp địa phương có ý nghĩa vô cùng lớn đối với mục tiêu phát huy dân chủ tại địa phương. Tuy nhiên, việc lạm dụng hình thức trưng cầu ý dân, tức là việc tổ chức trưng cầu ý dân tự do mà không xét đến yếu tố về chính trị, thẩm quyền và các yếu tố chuyên môn trong các lĩnh vực phức tạp (như lĩnh vực liên quan đến chính sách tài chính, ngân sách, chính sách kế hoạch - đầu tư…) sẽ gây ra sự xáo trộn, mất ổn định về chính trị - xã hội, tốn kém và thậm chí có nguy cơ xâm phạm đến các quyền cơ bản của con người. Do đó, để nền dân chủ tại địa phương được thực sự phát huy trên cơ sở bảo vệ quyền con người, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và hiệu quả trong quản lý nhà nước, cần thiết phải quy định rõ những vấn đề về nội dung trưng cầu ý dân, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến quyền con người, những vấn đề thuộc thẩm quyền của chính quyền cấp trên và những vấn đề đòi hỏi chuyên môn như tài chính, ngân sách…

Thứ ba, xác định nhân dân là chủ thể đề nghị trưng cầu ý dân

Tại Việt Nam, Luật Trưng cầu ý dân năm 2015 quy định chủ thể đề nghị trưng cầu ý dân toàn quốc tại khoản 1 Điều 14 bao gồm: Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ hoặc ít nhất là một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội. Mặc dù chưa có quy định về trưng cầu ý dân tại địa phương ở Việt Nam nhưng có thể thấy chúng ta chưa sẵn sàng xác định nhân dân/cử tri là chủ thể đề nghị trưng cầu ý dân. Theo tác giả, chúng ta nên xây dựng quy định cụ thể cho phép không chỉ những cơ quan nhà nước tại địa phương mà cử tri cũng được quyền đề nghị trưng cầu ý dân, trong đó xác định rõ về số lượng chữ ký tối thiểu cần đạt được để đề xuất tổ chức trưng cầu ý dân; thủ tục thu thập chữ ký; chủ thể có thẩm quyền thu thập, kiểm tra chữ ký; vấn đề tuyên truyền, vận động thu thập chữ ký; vấn đề giải quyết các vi phạm pháp luật trong quá trình vận động, thu thập chữ ký.

Thứ tư, trưng cầu ý dân tại một số chính quyền địa phương không có Hội đồng nhân dân

Điều 111 Hiến pháp năm 2013 quy định:

“1. Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định”.

Có thể thấy, xuất hiện 02 khái niệm là “chính quyền địa phương” và “cấp chính quyền địa phương” tại Hiến pháp năm 2013. Cụ thể, theo quy định tại Điều 111, chính quyền địa phương được tổ chức tại tất cả các đơn vị hành chính, còn cấp chính quyền địa phương bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm của từng đơn vị hành chính. Nói cách khác, không phải tất cả đơn vị hành chính lãnh thổ đều tổ chức đầy đủ cả Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2019 quy định: “Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 2 của Luật này phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt”. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp về tổ chức trưng cầu ý dân tại địa phương không tổ chức Hội đồng nhân dân:

- Hội đồng nhân dân tại đơn vị hành chính cấp trên của nơi có hoạt động trưng cầu ý dân hoặc Quốc hội quyết định trưng cầu ý dân.

- Thường trực Hội đồng nhân dân tại đơn vị hành chính cấp trên của nơi có hoạt động trưng cầu ý dân hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo tổ chức trưng cầu ý dân.

- Cơ quan hành chính tại nơi có trưng cầu ý dân phối hợp với các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm tổ chức trưng cầu ý dân.

Vũ Ngọc Diệp, Lê Trọng Quyền, Nguyễn Duy Toản
Sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội


[1] Thư viện Quốc hội (2015), Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về trưng cầu ý dân, tr. 11.

[2] Thư viện Quốc hội (2015), Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về trưng cầu ý dân, tr. 12.

[3] Xem Referendums in Europe - An analysis of the legal rules in European states, tr. 29.

[4] Xem Referendums in Europe - An analysis of the legal rules in European states, tr. 29.

[5] Xem: Referendums in Europe - An analysis of the legal rules in European states, tr. 33.

[6] Lương Minh Tuấn (2015), Kinh nghiệm của Thụy Sĩ về dân chủ trực tiếp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, truy cập https://tcnn.vn/news/detail/19019/Kinh_nghiem_cua_Thuy_Sy_ve_dan_chu_truc_tiepall.html.

[7] Xem Referendums in Europe – An analysis of the legal rules in European states, tr.30.

[8] Xem Referendums in Europe – An analysis of the legal rules in European states, tr.31.

[9] Khoản 1 Điều 24 Đạo luật Chính quyền địa phương (Local Government Act 2015) của Phần Lan quy định: “Hội đồng địa phương quyết định tổ chức trưng cầu ý dân về những vấn đề thuộc thẩm quyền của địa phương. Không được phép kháng nghị chống lại quyết định của Hội đồng địa phương về việc tổ chức trưng cầu ý dân tại địa phương”.

[10] Xem Referendums in Europe – An analysis of the legal rules in European states, tr.31.

[11] Thư viện Quốc hội (2015), Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về Trưng cầu ý dân, tr. 6.

[12] Ở địa phương, vấn đề cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định tại Điều 102 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) nhưng chưa có quy định cụ thể về hình thức, thủ tục… để người dân thực hiện việc bỏ phiếu bãi nhiệm mà chỉ quy định thẩm quyền quyết định việc đưa ra cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân thuộc về Thường trực Hội đồng nhân dân (khoản 8 điều 104 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.

Theo dõi chúng tôi trên: