Chủ nhật 15/03/2026 08:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trung tâm hòa giải thương mại - công cụ giải quyết tranh chấp thương mại hiệu quả, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, đầu tư ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, Việt Nam luôn được đánh giá là quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong khu vực và thế giới. Chính phủ Việt Nam đã có nhiều cam kết và hành động

Trong những năm gần đây, Việt Nam luôn được đánh giá là quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong khu vực và thế giới. Chính phủ Việt Nam đã có nhiều cam kết và hành động mạnh mẽ để cải cách theo hướng kiến tạo nhiều hơn nữa, với mục tiêu xây dựng một môi trường đầu tư kinh doanh với nhiều điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư, cho doanh nghiệp đồng thời giúp doanh nghiệp có thể làm ăn lâu dài, bền vững tại Việt Nam; trong đó có việc hoàn thiện khung pháp lý cho các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại. Việc phát triển các phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó có phương thức hòa giải đã được Đảng, Nhà nước ta quan tâm từ rất sớm. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đã đề ra nhiệm vụ “khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài”. Đặc biệt, với việc Chính phủ ban hành Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 về hòa giải thương mại (Nghị định số 22/2017/NĐ-CP), thì phương thức hòa giải thương mại đã có nền tảng pháp lý vững chắc để phát triển và là mốc đánh dấu một bước chuyển quan trọng cho hoạt động hòa giải thương mại ở Việt Nam.

Theo quy định của Nghị định số 22/2017/NĐ-CP thì hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thỏa thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp. Phạm vi giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại bao gồm: Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; tranh chấp giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng hòa giải thương mại. Cùng với trung tâm trọng tài thì trung tâm hòa giải thương mại là một trong hai tổ chức hòa giải thương mại được quy định tại Điều 18 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP.

Triển khai thực hiện Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, cho đến nay đã có hai trung tâm hòa giải được thành lập là Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam và Trung tâm Hòa giải thương mại Quốc tế Việt Nam (VICMC). Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến quy trình, thủ tục thành lập trung tâm hòa giải thương mại nói chung theo Nghị định số 22/2017/NĐ-CP và giới thiệu Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) cùng với Quy tắc hòa giải của Trung tâm này.

1. Khái quát về quy trình, thủ tục thành lập trung tâm hòa giải thương mại

Trung tâm hòa giải thương mại được thành lập theo quy định của Nghị định số 22/2017/NĐ-CP là trung tâm có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; hoạt động không vì mục đích lợi nhuận; được lập chi nhánh, văn phòng đại diện ở trong nước và nước ngoài; cơ cấu tổ chức của trung tâm hòa giải thương mại do điều lệ của trung tâm quy định. Chủ tịch trung tâm hòa giải thương mại là hòa giải viên thương mại; tên của trung tâm hòa giải thương mại được đặt bằng tiếng Việt bao gồm cụm từ “Trung tâm hòa giải thương mại”, không trùng lặp, không gây nhầm lẫn với tên của các tổ chức hòa giải thương mại khác đã được cấp giấy phép thành lập, không vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc.

- Về thủ tục thành lập trung tâm hòa giải thương mại, Điều 21 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP quy định: Công dân Việt Nam có đủ tiêu chuẩn hòa giải viên thương mại muốn thành lập trung tâm hòa giải thương mại gửi 01 bộ hồ sơ đến Bộ Tư pháp. Hồ sơ bao gồm: (i) Giấy đề nghị thành lập trung tâm hòa giải thương mại theo mẫu do Bộ Tư pháp ban hành; (ii) Danh sách sáng lập viên; (iii) Giấy tờ chứng minh sáng lập viên đủ tiêu chuẩn hòa giải viên thương mại quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP; (iv) Dự thảo Quy tắc hòa giải của trung tâm (nội dung của Quy tắc hòa giải của trung tâm không được trái quy định của pháp luật). Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Tư pháp cấp giấy phép thành lập cho trung tâm hòa giải thương mại; trường hợp từ chối thì phải thông báo lý do bằng văn bản. Người bị từ chối có quyền khiếu nại, khởi kiện theo quy định của pháp luật.

- Về đăng ký hoạt động trung tâm hòa giải thương mại, Điều 22 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP quy định: Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày quyết định cấp giấy phép thành lập của trung tâm hòa giải thương mại có hiệu lực, trung tâm gửi hồ sơ đăng ký hoạt động đến Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi trung tâm đặt trụ sở. Hết thời hạn này, nếu trung tâm hòa giải thương mại không đăng ký hoạt động thì giấy phép thành lập không còn giá trị, trừ trường hợp có lý do chính đáng.

Hồ sơ đăng ký hoạt động trung tâm hòa giải thương mại bao gồm: (i) Giấy đề nghị đăng ký hoạt động theo mẫu do Bộ Tư pháp ban hành; (ii) Bản sao có chứng thực hoặc bản sao kèm theo bản chính để đối chiếu giấy phép thành lập trung tâm; (iii) Giấy tờ chứng minh về trụ sở của trung tâm. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp cấp giấy đăng ký hoạt động cho trung tâm hòa giải thương mại; trường hợp từ chối thì phải thông báo lý do bằng văn bản. Sở Tư pháp gửi bản sao giấy đăng ký hoạt động của trung tâm hòa giải thương mại cho Bộ Tư pháp. Trung tâm hòa giải thương mại được hoạt động kể từ ngày được cấp giấy đăng ký hoạt động. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được cấp giấy đăng ký hoạt động, trung tâm hòa giải thương mại phải đăng báo hằng ngày của Trung ương hoặc báo địa phương nơi đăng ký hoạt động trong ba số liên tiếp.

- Những hoạt động của tổ chức hòa giải thương mại bao gồm: (i) Thực hiện hoạt động hòa giải thương mại; (ii) Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn về kỹ năng hòa giải cho hòa giải viên thương mại; (iii) Thu thù lao và các khoản thu hợp pháp khác có liên quan đến hoạt động hòa giải thương mại; (iv) Xây dựng tiêu chuẩn hòa giải viên thương mại và quy trình xét chọn, lập danh sách, xóa tên hòa giải viên thương mại trong danh sách hòa giải viên thương mại của tổ chức mình; (v) Chỉ định hòa giải viên thương mại theo yêu cầu của các bên; (vi) Các quyền khác theo quy định của Nghị định số 22/2017/NĐ-CP và pháp luật có liên quan.

2. Trung tâm Hòa giải Việt Nam và Quy tắc hòa giải

2.1. Hoạt động của Trung tâm Hòa giải Việt Nam

Để triển khai việc cung cấp dịch vụ hòa giải theo Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, ngày 29/4/2018, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) đã tổ chức lễ ra mắt Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) và công bố Quy tắc hòa giải của Trung tâm (có hiệu lực từ ngày 01/7/2018).

Hiện nay, hòa giải thương mại đang là xu hướng được sử dụng nhiều trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Đa số các doanh nghiệp đều sử dụng trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, đặc biệt là phối hợp giữa hòa giải thương mại và trọng tài thương mại (vừa sử dụng trọng tài viên và hòa giải viên trong việc giải quyết tranh chấp). Do đó, việc thành lập Trung tâm Hòa giải Việt Nam là một vấn đề thiết thực, giúp cho môi trường kinh doanh tốt hơn và xử lý các vấn đề tranh chấp một cách mềm mại hơn. Đồng thời, giúp xã hội tìm ra cách thực hiện việc giải quyết các tranh chấp không chỉ trong thương mại mà còn trong cả đời sống kinh tế.

Trung tâm Hòa giải Việt Nam thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam là trung tâm hòa giải đầu tiên của Việt Nam. Tại lễ ra mắt, Trung tâm Hòa giải Việt Nam đã giới thiệu Ban Giám đốc Trung tâm cùng với danh sách hòa giải viên đợt 1. Theo đó, Trung tâm Hòa giải Việt Nam có 51 hòa giải viên, trong đó có 38 hòa giải viên Việt Nam và 13 hòa giải viên nước ngoài. Với đội ngũ hòa giải viên là các chuyên gia hàng đầu, có kinh nghiệm, uy tín trong các lĩnh vực pháp luật và kinh tế, cũng như được đào tạo chuyên sâu về giải quyết tranh chấp nói chung và hòa giải thương mại nói riêng, Trung tâm Hòa giải Việt Nam mong muốn sẽ trở thành địa chỉ được các doanh nghiệp ưu tiên lựa chọn khi có tranh chấp xảy ra[1].

Sau một năm đi vào hoạt động, Trung tâm Hòa giải Việt Nam đã có những bước tiến nhất định. Với công cụ giải quyết tranh chấp thương mại mới là hòa giải thương mại đã giúp doanh nghiệp tìm được phương án giải quyết tranh chấp hiệu quả nhất. Thực tế cho thấy, bên cạnh con đường giải quyết tranh chấp bằng Tòa án, trọng tài thì hòa giải chính là phương án giải quyết có lợi cho cả hai bên. Đồng thời, phương thức hòa giải thương mại đã phát huy quyền chủ động tối đa của hai bên trong quá trình giải quyết tranh chấp, giảm thiểu rủi ro, chi phí cho doanh nghiệp, thông qua đó góp phần vào việc cải thiện môi trường kinh doanh, đầu tư tại Việt Nam. Lãnh đạo Trung tâm Hòa giải Việt Nam tin tưởng rằng, trong thời gian tới, cùng với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, thì hòa giải thương mại tại Trung tâm Hòa giải Việt Nam sẽ được cộng đồng doanh nghiệp đón nhận[2].

Tính tới thời điểm hiện tại, Trung tâm Hòa giải Việt Nam đã nhận được 05 yêu cầu giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại và đáng chú ý cả 05 vụ đều trong lĩnh vực xây dựng với tổng trị giá tranh chấp lên đến 934,5 tỷ đồng[3]. Tuy các tranh chấp có yếu tố phức tạp nhưng với các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực pháp luật và kinh tế đã giúp doanh nghiệp tìm được phương án giải quyết tranh chấp hiệu quả nhất.

Trong thời gian tới, để đến gần hơn với cộng đồng doanh nghiệp, Trung tâm Hòa giải Việt Nam cần đẩy mạnh công tác truyền thông để nhiều doanh nghiệp biết đến Trung tâm Hòa giải Việt Nam cũng như những lợi thế của việc sử dụng con đường hòa giải thương mại.

2.2. Quy tắc hòa giải

Quy tắc hòa giải của Trung tâm Hòa giải Việt Nam (sau đây gọi là Quy tắc hòa giải) được chắp bút bởi tổ biên tập với sự tham gia của các chuyên gia hòa giải của Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) thuộc Nhóm Ngân hàng Thế giới giúp đảm bảo thủ tục hòa giải tại Trung tâm Hòa giải Việt Nam sẽ đáp ứng đầy đủ các nguyên tắc của một thủ tục hòa giải điển hình trên thế giới. Bộ Quy tắc cũng đã được góp ý chi tiết và kỹ lưỡng từ các chuyên gia về các thủ tục tố tụng tại Việt Nam để đảm bảo thủ tục hòa giải của Trung tâm Hòa giải Việt Nam tuân thủ các khuôn khổ và dựa trên cơ sở Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại.

Quy tắc hòa giải của Trung tâm Hòa giải Việt Nam bao gồm 15 điều, mô tả các trình tự, các bước tiến hành, các hướng dẫn cũng như các nguyên tắc bắt buộc của một thủ tục hòa giải tại Trung tâm Hòa giải Việt Nam. Theo đó, bất cứ bên nào khi có tranh chấp, dù đã có hay chưa có một thỏa thuận hòa giải, nếu mong muốn giải quyết tranh chấp bằng hòa giải, đều có thể theo các hướng dẫn tại Điều 3 (về bắt đầu hòa giải khi có thỏa thuận hòa giải) và Điều 4 (về bắt đầu hòa giải khi chưa có thỏa thuận hòa giải) Quy tắc hòa giải.

- Những đặc điểm chính của thủ tục hòa giải tại Trung tâm Hòa giải Việt Nam:

+ Sự đồng thuận của các bên trong suốt quá trình hòa giải: Thủ tục hòa giải sẽ không thể diễn ra nếu có bất cứ một bên nào không muốn tham gia hòa giải hoặc tiếp tục hòa giải, đây là sự khác biệt căn bản giữa một thủ tục hòa giải với bất cứ thủ tục tố tụng nào (trọng tài hay Tòa án) (Điều 3, Điều 4, Điều 13 Quy tắc hòa giải). Theo đó, khi chưa có thỏa thuận hoà giải, một bên muốn bắt đầu thủ tục hoà giải có thể gửi bản đề nghị hoà giải tới Trung tâm với nội dung đề nghị bên còn lại giải quyết tranh chấp giữa các bên thông qua hoà giải tại Trung tâm theo Quy tắc này. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Trung tâm nhận được bản đề nghị hoà giải, Trung tâm chuyển bản đề nghị hoà giải tới bên được đề nghị. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được bản đề nghị hoà giải, bên được đề nghị gửi bản trả lời đề nghị tới Trung tâm về việc đồng ý hay từ chối tiến hành hoà giải. Trung tâm có thể hỗ trợ các bên để các bên đạt được thỏa thuận hoà giải. Trường hợp bên được đề nghị hoà giải chấp nhận hoà giải, Trung tâm hướng dẫn các bên thực hiện theo quy định tại Điều 3 Quy tắc này. Trường hợp bên được đề nghị hoà giải từ chối hoà giải hoặc không gửi bản trả lời đề nghị, thủ tục hoà giải theo Quy tắc này sẽ không được thực hiện.

+ Yêu cầu về tính độc lập, vô tư, khách quan và trung thực của hòa giải viên được đặt ra ở mức rất cao: Không có thủ tục khiếu nại tư cách hòa giải viên, nếu có thông tin về bất kỳ sự việc nào có thể gây nghi ngờ về sự độc lập, vô tư, khách quan và trung thực của hòa giải viên, thủ tục chỉ định mới/thay thế hòa giải viên sẽ được bắt đầu, trừ khi các bên đồng ý bằng văn bản rằng vẫn đồng ý hòa giải viên này (Điều 5, Điều 7 Quy tắc hòa giải).

+ Nguyên tắc hai tầng bảo mật: Toàn bộ các thông tin, trao đổi trong thủ tục hòa giải sẽ được giữ bí mật giữa các bên và hòa giải viên; các thông tin, trao đổi được một bên đưa ra trong phiên họp riêng giữa bên đó với hòa giải viên còn phải được giữ bí mật giữa bên cung cấp thông tin và hòa giải viên (Điều 8, Điều 11 Quy tắc Quy tắc hòa giải). Cụ thể, theo khoản 5 Điều 8 thì các phiên hoà giải được thực hiện không công khai, trừ khi các bên có thoả thuận khác; trước khi phiên hoà giải diễn ra, hoà giải viên và tất cả các bên phải được thông báo một cách kịp thời về những người khác muốn tham gia phiên hoà giải đó, việc tham gia của những người này phải được sự đồng ý của hoà giải viên và bên còn lại. Điều 11 quy định: (i) Trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác bằng văn bản, hoà giải viên, các bên và người khác tham gia vào thủ tục hoà giải phải giữ bí mật về mọi thông tin có được từ thủ tục hoà giải; (ii) Nội dung văn bản về kết quả hoà giải thành cũng phải được hoà giải viên và các bên giữ bí mật, trừ trường hợp việc công khai là cần thiết để phục vụ việc công nhận và thi hành kết quả hoà giải thành đó; (iii) Bất cứ thông tin nào được trao đổi giữa một bên với hoà giải viên trong phiên họp riêng là bí mật và không được tiết lộ tới bất kỳ bên nào khác tham gia hoà giải, trừ khi có sự đồng ý trước của bên đã cung cấp thông tin; (iv) Không ai được ghi âm, ghi hình hay ghi biên bản chính thức của bất cứ giai đoạn nào của thủ tục hoà giải, trừ hoà giải viên được thực hiện ghi chép để phục vụ cho việc tiến hành hoà giải; (v) Bất kỳ tài liệu hoặc bất kỳ thông tin nào chỉ có thể có được thông qua thủ tục hoà giải không được sử dụng làm chứng cứ trong các thủ tục tố tụng tại tòa án, trọng tài hoặc các thủ tục tố tụng khác sau này. Các bên không được yêu cầu hoà giải viên làm nhân chứng trong bất kỳ thủ tục tố tụng nào đối với tranh chấp đã qua thủ tục hoà giải hoặc tranh chấp khác phát sinh từ cùng giao dịch đó.

- Một số nội dung cơ bản của Quy tắc hòa giải: Quy tắc này quy định cụ thể về vai trò của Trung tâm Hòa giải Việt Nam trong việc điều phối, hỗ trợ và thúc đẩy thủ tục hòa giải (Điều 4, Điều 8 Quy tắc hòa giải) để đảm bảo rằng các thủ tục hòa giải được vận hành tuân thủ pháp luật, linh hoạt, thân thiện, hiệu quả và mang lại sự hài lòng cho doanh nghiệp sử dụng dịch vụ hòa giải tại Trung tâm Hòa giải Việt Nam; chỉ định hòa giải viên (Điều 5); người đại diện và người trợ giúp các bên trong hòa giải (Điều 6); vai trò, trách nhiệm của hòa giải viên (Điều 7); trách nhiệm của các bên trong hòa giải (Điều 10); chấm dứt thủ tục hòa giải (Điều 11); chấm dứt thủ tục hòa giải (Điều 13); phí hòa giải và chi phí phát sinh (Điều 14) và điều khoản mẫu.

+ Về thủ tục tiến hành hoà giải: Trước hết, Trung tâm điều phối các công việc hành chính của thủ tục hoà giải trên cơ sở tham vấn với các bên (gồm các công việc như sắp xếp phòng họp và ấn định ngày tổ chức các phiên hoà giải tại trụ sở của Trung tâm hoặc tại địa điểm khác theo sự thỏa thuận của các bên; gửi thông báo, tài liệu của vụ tranh chấp tới các bên và hoà giải viên và cung cấp các hỗ trợ hành chính khác). Khi bắt đầu tiến hành hoà giải, hoà giải viên có thể yêu cầu mỗi bên gửi tới hoà giải viên bản trình bày ý kiến của mình về các vấn đề đang tranh chấp.

Hoà giải viên có thể tổ chức các phiên hoà giải chung để trao đổi với các bên hoặc các phiên hoà giải riêng với từng bên. Một bên có thể yêu cầu có phiên hoà giải riêng với hoà giải viên tại bất cứ thời điểm nào của thủ tục hoà giải. Các phiên hoà giải có thể được thực hiện bằng hình thức teleconference, video conference hoặc các hình thức khác.

Trước hoặc sau các phiên hoà giải nói trên, hoà giải viên có thể gặp trực tiếp hoặc liên lạc bằng bất cứ hình thức nào khác với một bên hoặc các bên trong nỗ lực giúp các bên hoà giải toàn bộ tranh chấp. Mỗi bên có thể tự mình hoặc theo gợi ý của hoà giải viên, thông báo cho hoà giải viên biết về các đề xuất của mình liên quan tới giải pháp hoà giải.

+ Thủ tục hoà giải chấm dứt trong các trường hợp: (i) Khi các bên đạt được kết quả hoà giải thành; (ii) Khi hoà giải viên, sau khi tham khảo ý kiến các bên, tuyên bố bằng văn bản rằng theo ý kiến của hoà giải viên thì việc tiếp tục thủ tục hoà giải không có khả năng đạt được kết quả; (iii) Khi một hoặc các bên thông báo bằng văn bản tới hoà giải viên rằng bên đó muốn chấm dứt hoà giải; (iv) Khi bên được yêu cầu hoà giải từ chối tiến hành hoà giải hoặc không gửi bản trả lời tới Trung tâm trong thời hạn mà Trung tâm ấn định; (v) Khi thời hạn thanh toán phí hoà giải theo yêu cầu của Trung tâm đã hết mà không có hành động phù hợp nào được thực hiện. Trung tâm thông báo bằng văn bản cho các bên và hoà giải viên về việc chấm dứt thủ tục hoà giải.

Bùi Huyền


[1] Http://viac.vn/tin-tuc/trung-tam-hoa-giai-viet-nam-(vmc):-mot-nam-nhin-lai-va-mot-so-van-de-cua-tuong-lai-a1492.html.

[2] Phát biểu của ông Nguyễn Sĩ Dũng (Giám đốc Trung tâm Hòa giải Việt Nam) tại Tọa đàm “Trung tâm Hòa giải Việt Nam - Một năm nhìn lại và một số vấn đề của tương lai” tổ chức ngày 24/5 tại Hà Nội.

[3] Theo tài liệu Tọa đàm “Trung tâm Hòa giải Việt Nam - Một năm nhìn lại và một số vấn đề của tương lai” do Trung tâm Hòa giải Việt Nam thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam tổ chức ngày 24/5 tại Hà Nội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: